Thẩm định quy hoạch lưu vực sông Trà Khúc thời kỳ đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050

Thẩm định quy hoạch lưu vực sông Trà Khúc thời kỳ đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050

Thứ sáu, 16/10/2026, 09:53 (GMT+7)
logo Ngày 9/10, tại Hà Nội, Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổ chức cuộc họp Hội đồng thẩm định Quy hoạch tổng hợp lưu vực sông Trà Khúc thời kỳ đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050. Ông Châu Trần Vĩnh, Cục trưởng Cục Quản lý tài nguyên nước, Phó Chủ tịch Hội đồng chủ trì cuộc họp theo ủy quyền của Chủ tịch Hội đồng. Tham dự có các thành viên Hội đồng, đại diện bộ, ngành, lãnh đạo Sở Nông nghiệp và Môi trường thành phố Đà Nẵng, tỉnh Quảng Ngãi cùng các chuyên gia tài nguyên nước.
ong-vinh_1791548673.png
Cục trưởng Cục Quản lý tài nguyên nước Châu Trần Vĩnh, Phó Chủ tịch Hội đồng phát biểu chủ trì chủ trì cuộc họp

Nguồn nước phân bố không đều, nguy cơ thiếu nước gia tăng

Theo báo cáo của Viện Khoa học tài nguyên nước thuộc Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia, lưu vực sông Trà Khúc và vùng phụ cận rộng khoảng 6.235 km², thuộc địa bàn thành phố Đà Nẵng và tỉnh Quảng Ngãi. Tổng lượng tài nguyên nước ước khoảng 10,97 tỷ m³, chiếm 0,96% tổng lượng tài nguyên nước cả nước, trong đó, nước mặt khoảng 10,67 tỷ m³, nước dưới đất khoảng 0,31 tỷ m³.

Nguồn nước mặt phân bố không đều theo mùa. Dòng chảy mùa lũ, từ tháng 10 đến tháng 12, chiếm khoảng 61,6% tổng lượng dòng chảy năm; mùa kiệt chỉ chiếm 38,4%. Vì vậy, nhiều khu vực, nhất là vùng hạ lưu chịu ảnh hưởng xâm nhập mặn và các địa bàn sâu, xa, thường thiếu nước cục bộ vào mùa khô. Lũ lên nhanh cũng làm gia tăng nguy cơ ngập lụt ở hạ du.

Nguồn nước trên lưu vực chịu sức ép từ khai thác, sử dụng nước, phát triển kinh tế - xã hội, vận hành hồ chứa, ô nhiễm và suy thoái. Hạn hán, thiếu nước, xâm nhập mặn và tác động của biến đổi khí hậu càng đặt ra yêu cầu quản lý tổng hợp trên toàn lưu vực. Dù các hồ lớn ở thượng nguồn có vai trò điều tiết dòng chảy, cấp nước mùa cạn và giảm lũ, hệ thống hồ chưa thể kiểm soát toàn bộ lượng nước hình thành trên lưu vực.

Theo tính toán trong dự thảo, đến năm 2030, với tần suất bảo đảm nguồn nước P85, lượng thiếu nước dự kiến tại hạ lưu sông Trà Khúc khoảng 6,17 triệu m³; lưu vực sông Trà Bồng và phụ cận khoảng 110,26 triệu m³; sông Vệ và phụ cận khoảng 90,99 triệu m³; đặc khu Lý Sơn khoảng 1,68 triệu m³. Thách thức không chỉ là tổng lượng nước mà còn là khả năng tích trữ, điều tiết và phân phối nước đúng nơi, đúng thời điểm.

Cân đối nhu cầu sử dụng nước giữa các ngành và địa phương

Nhu cầu khai thác, sử dụng nước toàn vùng dự kiến đạt khoảng 1.078,97 triệu m³/năm vào năm 2030 và 1.144,23 triệu m³/năm vào năm 2050. Sự phát triển của khu kinh tế, khu công nghiệp, đô thị, dịch vụ và sản xuất nông nghiệp sẽ tiếp tục tạo áp lực lên nguồn nước, nhất là trong các năm khô hạn.

Sông Trà Khúc hiện là nguồn cấp nước quan trọng của khu vực. Nhà máy nước Quảng Ngãi có công suất khai thác khoảng 25.000 m³/ngày đêm trong năm 2025, dự kiến tăng lên 50.000 m³/ngày đêm vào năm 2030; Nhà máy nước An Phú dự kiến có công suất khoảng 10.000 m³/ngày đêm vào năm 2030. Các suối, hồ chứa và hệ thống thủy lợi Thạch Nham cũng phục vụ khu dân cư, khu kinh tế và khu công nghiệp.

1-song-tra-khuc_1791548740.webp
Sông Trà Khúc 

Lưu vực có khoảng 800 công trình thủy lợi, gồm 126 hồ chứa, 528 đập dâng, 7 đập và cống ngăn mặn, cùng 139 trạm bơm. Năng lực tưới theo thiết kế đạt 68.943 ha, nhưng diện tích tưới thực tế khoảng 48.460 ha, tương đương 70,3%. Trong khoảng 4.275 km kênh mương, tỷ lệ kiên cố hóa đạt 56,8%. Quy hoạch đặt ra yêu cầu nâng cấp hệ thống dẫn nước, nâng hiệu quả vận hành, tăng khả năng tích trữ và phân phối nước, đồng thời phát huy đa mục tiêu của hồ chứa.

Thủy điện cũng tác động đến chế độ dòng chảy. Toàn vùng có 53 công trình, dự án thủy điện với tổng công suất lắp máy khoảng 888,1 MW; 23 dự án đã vận hành, tổng công suất 465,6 MW. Việc vận hành hồ điều tiết, thủy điện đường dẫn và công trình chuyển nước có thể ảnh hưởng đến dòng chảy hạ lưu và hệ sinh thái thủy sinh. Vì vậy, cần phối hợp vận hành hồ chứa để hài hòa giữa phát điện, cấp nước, duy trì dòng chảy tối thiểu và phòng, chống lũ.

Kiểm soát khai thác, bảo vệ chất lượng nguồn nước

Dự báo đến năm 2030 cho thấy, mực nước dưới đất tại một số khu vực ven sông Trà Khúc có xu hướng hạ khoảng 0,1 - 0,2 m/năm. Nguy cơ nhiễm mặn ở các tầng chứa nước Holocen và Pleistocen tập trung tại một số khu vực thuộc Tịnh Khê, An Phú, Vệ Giang và Long Phụng. Dự thảo đặt ra yêu cầu kiểm soát khai thác nước dưới đất, bảo vệ vùng bổ cập, tăng cường quan trắc, kiểm soát nước thải và phối hợp quản lý nước mặt với nước dưới đất, nhất là ở khu vực ven biển.

Nguồn nước còn phục vụ nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản, du lịch và các hoạt động văn hóa, tín ngưỡng. Do đó, quy hoạch cần xác định chức năng từng nguồn nước, bảo vệ chất lượng nước, duy trì dòng chảy tối thiểu, hành lang bảo vệ nguồn nước và không gian thoát lũ. Đây cũng là định hướng của Quy hoạch tài nguyên nước thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050, được phê duyệt tại Quyết định số 1622/QĐ-TTg ngày 27/12/2022.

Phạm vi quy hoạch được chia thành 7 tiểu vùng: Lưu vực sông Đắk Đrinh, lưu vực sông Đắk Lô, thượng lưu và hạ lưu sông Trà Khúc, lưu vực sông Trà Bồng, lưu vực sông Vệ và đặc khu Lý Sơn. Quan điểm xuyên suốt là quản lý, bảo vệ, khai thác và sử dụng tổng hợp tài nguyên nước theo lưu vực; ưu tiên nước sinh hoạt, bảo vệ chất lượng nguồn nước và phân bổ hợp lý giữa thượng lưu, hạ lưu cũng như giữa các ngành sử dụng nước.

Đến năm 2030, quy hoạch hướng tới nâng cao hiệu quả phân bổ nước, bảo vệ nước mặt, nước dưới đất, nguồn sinh thủy và hành lang bảo vệ nguồn nước; tăng cường quan trắc, dự báo, kiểm soát nước thải và ứng dụng công nghệ số. Tầm nhìn đến năm 2050 là bảo đảm an ninh nguồn nước bền vững, phục hồi nguồn nước suy thoái, cạn kiệt, ô nhiễm và nâng cao hiệu quả điều hòa, phân phối nước, vận hành hồ chứa.

Các nhiệm vụ chính gồm điều hòa, phân phối và bảo vệ tài nguyên nước; phòng, chống, khắc phục tác hại do nước gây ra. Quy hoạch chú trọng phương án phân bổ trong điều kiện bình thường và thiếu nước; bảo vệ nguồn cấp nước sinh hoạt; duy trì dòng chảy tối thiểu; phục hồi nguồn nước suy thoái; giảm thiểu hạn hán, lũ lụt, ngập úng, sạt lở, sụt lún và xâm nhập mặn. Dự thảo đề xuất ưu tiên lập kế hoạch chi tiết tại hạ lưu sông Trà Khúc, lưu vực sông Trà Bồng và phụ cận, sông Vệ và phụ cận.

Rà soát số liệu, bảo đảm thống nhất giữa các quy hoạch

Tại cuộc họp, các thành viên Hội đồng và chuyên gia cơ bản thống nhất với ba nhóm định hướng của dự thảo: điều hòa, phân phối tài nguyên nước; bảo vệ nguồn nước; phòng, chống và khắc phục tác hại do nước gây ra. Tuy nhiên, các đại biểu đề nghị tiếp tục rà soát để bảo đảm tính thống nhất và khả thi.

Các ý kiến yêu cầu thống nhất danh mục, hiện trạng và nhiệm vụ của các công trình thủy lợi, thủy điện, nhất là Nước Trong, Đắk Đrinh và Thạch Nham; tránh trùng lặp, sai khác với quy hoạch điện, quy hoạch tỉnh và các quy hoạch chuyên ngành. Dự thảo cũng cần thể hiện rõ mối liên kết với Quy hoạch tài nguyên nước quốc gia, quy hoạch vùng, quy hoạch tỉnh và các quy hoạch về thủy lợi, cấp nước, phòng chống thiên tai, đô thị, công nghiệp, nông nghiệp và năng lượng.

Kết luận cuộc họp, Cục trưởng Châu Trần Vĩnh đề nghị đơn vị tư vấn và các đơn vị chuyên môn tiếp thu, giải trình ý kiến, rà soát tính đồng bộ với các quy hoạch liên quan; xác định rõ hiện trạng, nhu cầu khai thác, sử dụng nước, dòng chảy tối thiểu, danh mục công trình và chức năng nguồn nước.

Việc hoàn thiện quy hoạch được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả quản lý, điều hòa và phân phối nguồn nước; chủ động ứng phó với hạn hán, thiếu nước, lũ lụt và xâm nhập mặn; bảo vệ hệ sinh thái và đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Đây cũng là cơ sở tăng cường phối hợp quản lý tài nguyên nước giữa các địa phương, ngành và đối tượng sử dụng.

Phương Chi