Thức ăn công nghiệp thúc đẩy nuôi biển bền vững

Thức ăn công nghiệp thúc đẩy nuôi biển bền vững

Thứ ba, 22/9/2026, 06:52 (GMT+7)
logo Nuôi biển mở rộng quy mô công nghiệp đặt ra yêu cầu kiểm soát chất thải, bảo vệ môi trường và giảm áp lực lên khai thác nguồn lợi thủy sản tự nhiên. Theo ThS. Trần Công Khôi, Trưởng phòng Giống và Thức ăn thủy sản, Cục Thủy sản và Kiểm Ngư (Bộ NN&MT) sử dụng thức ăn công nghiệp phù hợp là giải pháp quan trọng hướng đến phát triển nuôi biển bền vững.

Kiểm soát chất thải, bảo vệ môi trường vùng nuôi

Trong phát triển nuôi trồng thủy sản trên biển, thức ăn giữ vai trò quyết định đến hiệu quả sản xuất, chất lượng vật nuôi và tác động đến môi trường. Đặc biệt, tại các vùng vịnh kín gió, nơi khả năng lưu thông và trao đổi môi trường nước có giới hạn, việc lựa chọn phương thức sử dụng thức ăn cần được tính toán phù hợp với sức tải môi trường, hệ sinh thái của từng khu vực.

anh-khoi-dd_1789635072.png
ThS. Trần Công Khôi, Trưởng phòng Giống và Thức ăn thủy sản, Cục Thủy sản và Kiểm Ngư (Bộ NN&MT)

Theo ThS. Trần Công Khôi, khi so sánh thức ăn công nghiệp với thức ăn truyền thống, sự khác biệt về khối lượng sử dụng và lượng chất thải phát sinh là vấn đề cần được quan tâm. Trong một số trường hợp, để tạo ra cùng một lượng sinh khối cá, lượng thức ăn công nghiệp cần sử dụng có thể thấp hơn đáng kể so với thức ăn truyền thống.

Ông Khôi phân tích: “Ví dụ, nếu so sánh 7 kg thức ăn truyền thống với 2 kg thức ăn công nghiệp, sẽ có khoảng 5 kg chất thải ra môi trường. Tuy nhiên, chúng ta cần đánh giá đầy đủ hiệu quả chuyển hóa thức ăn và lượng chất thải phát sinh, thay vì chỉ căn cứ vào khối lượng thức ăn sử dụng”.

Trong thực tế, tác động của thức ăn đến môi trường không dừng lại ở phần thức ăn dư thừa. Khi cá sử dụng thức ăn, quá trình tiêu hóa và chuyển hóa dinh dưỡng sẽ tạo ra các chất thải được thải ra môi trường nước. Lượng chất thải này, nếu phát sinh ở mức cao trong thời gian dài, có thể làm gia tăng hàm lượng chất hữu cơ sẽ tạo ra môi trường hiếm khí và gây áp lực lên khả năng tự làm sạch của vùng nuôi.

Vấn đề trở nên đáng lưu ý khi các khu vực nuôi thủy sản thường ở trong vịnh kín. So với vùng biển có điều kiện trao đổi nước tốt hơn do tác động các dòng hải lưu, những khu vực này có thể gặp hạn chế về khả năng phân tán và chuyển hóa chất thải. Khi lượng chất hữu cơ tích tụ vượt quá khả năng tiếp nhận của môi trường, chất lượng nước và nền đáy sẽ cơ suy giảm, ảnh hưởng đến điều kiện sinh trưởng, phát triển của các đối tượng nuôi.

Đối với các mô hình nuôi cá biển, chẳng hạn cá chim vây vàng tại khu vực ven bờ hoặc vùng vịnh thuộc Khánh Hòa, việc đánh giá tác động của thức ăn cần gắn với điều kiện tự nhiên, mật độ lồng nuôi, quy mô sản xuất và khả năng lưu thông nước. Cùng một loại thức ăn, hiệu quả môi trường có thể khác nhau giữa các vùng nuôi có điều kiện thủy động lực khác nhau.

Do đó, lựa chọn thức ăn cần được đặt trong mối quan hệ với sức tải môi trường. Đây là cơ sở để xác định quy mô nuôi phù hợp, kiểm soát lượng chất thải và hạn chế nguy cơ suy giảm chất lượng nước trong quá trình sản xuất.

Rủi ro từ sự tích tụ chất hữu cơ

ThS. Trần Công Khôi cho rằng, việc sử dụng thức ăn truyền thống trong các vùng nuôi có điều kiện trao đổi nước hạn chế có thể tạo áp lực lớn lên môi trường nếu không được quản lý chặt chẽ. Đặc biệt, với thức ăn tươi sống, vấn đề cần xem xét là tổng lượng vật chất đưa vào hệ thống nuôi và lượng chất thải phát sinh sau quá trình tiêu hóa.

Khi cá ăn thức ăn, một phần dinh dưỡng được hấp thụ để phục vụ quá trình sinh trưởng, phát triển. Phần còn lại được thải ra ngoài dưới dạng các chất thải hòa tan hoặc chất thải rắn. Nếu lượng thải phát sinh lớn, các chất hữu cơ có thể tích tụ tại khu vực nuôi, đặc biệt ở lớp nước và nền đáy dưới lồng bè.

Quá trình này có thể làm thay đổi các điều kiện môi trường, ảnh hưởng đến hàm lượng oxy hòa tan trong nước và thúc đẩy những biến động bất lợi trong hệ sinh thái vùng nuôi. Trong điều kiện quản lý chưa phù hợp, chất lượng nước suy giảm sẽ tác động trực tiếp đến sức khỏe, khả năng sinh trưởng và hiệu quả nuôi thủy sản.

“Đối với vùng vịnh kín, nước thường lưu thông ở mức độ nhất định. Nếu lượng chất thải phát sinh lớn, môi trường sẽ phải chịu áp lực cao hơn. Khi sức tải bị vượt ngưỡng, khả năng duy trì hoạt động nuôi trồng thủy sản cũng bị ảnh hưởng”, ông Khôi nhấn mạnh.

Tác động của sự tích tụ chất hữu cơ có thể trở nên nghiêm trọng hơn khi điều kiện thời tiết thay đổi. Vào những đợt thời tiết bất lợi, đặc biệt trước hoặc trong thời gian xuất hiện bão, có thể làm thay đổi trạng thái thủy động lực, xáo trộn các lớp nước và tác động đến nền đáy vùng nuôi.

Theo phân tích của ông Khôi, tại những khu vực có chất hữu cơ tích tụ, sự xáo trộn lớp nước nền đáy có thể làm phát sinh các biến động về môi trường, trong đó có nguy cơ giải phóng các chất và khí độc từ quá trình phân hủy của vi sinh vật hiếm khí. Những biến động này có khả năng tác động đến thủy sản nuôi, nhất là khi vật nuôi đang chịu áp lực từ các yếu tố môi trường khác.

Cũng cần lưu ý rằng, cơ chế hình thành và giải phóng khí độc phụ thuộc vào nhiều yếu tố, như mức độ tích tụ chất hữu cơ, điều kiện oxy, đặc điểm nền đáy và diễn biến thủy động lực. Vì vậy, việc đánh giá nguy cơ cần dựa trên số liệu quan trắc và điều kiện cụ thể của từng vùng nuôi.

Từ thực tế này, ông Khôi cho rằng, kiểm soát chất thải cần được thực hiện thường xuyên, thay vì chỉ tập trung ứng phó khi môi trường đã xuất hiện dấu hiệu bất thường. Chất lượng nước, nền đáy, lượng thức ăn sử dụng và sức khỏe vật nuôi cần được theo dõi đồng bộ, nhằm phát hiện sớm những thay đổi có thể ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất.

Thức ăn công nghiệp gắn với hiệu quả nuôi

Bên cạnh tác động đến môi trường, việc lựa chọn thức ăn có liên quan trực tiếp đến hiệu quả kinh tế và khả năng phát triển ổn định của nghề nuôi biển. Khi sử dụng thức ăn có chất lượng phù hợp, người nuôi có điều kiện kiểm soát tốt hơn lượng dinh dưỡng cung cấp, định lượng khẩu phần và điều chỉnh theo nhu cầu của vật nuôi.

Thức ăn công nghiệp được sản xuất theo những công thức nhất định, phù hợp với từng đối tượng và giai đoạn sinh trưởng. Việc sử dụng loại thức ăn phù hợp có thể góp phần nâng cao hiệu quả chuyển hóa thức ăn, giảm lượng vật chất không được sử dụng và hỗ trợ kiểm soát chất thải trong hệ thống nuôi.

Tuy nhiên, hiệu quả của thức ăn công nghiệp không thể được xác định chỉ dựa trên hình thức sản phẩm hoặc khối lượng sử dụng. Các yếu tố như thành phần dinh dưỡng, hệ số chuyển đổi thức ăn, chất lượng nguyên liệu, khả năng tiêu hóa, phương thức cho ăn và điều kiện môi trường đều có ảnh hưởng đến kết quả cuối cùng.

Đối với từng loài thủy sản, người nuôi cần lựa chọn thức ăn phù hợp với đặc điểm sinh học và phương thức sản xuất. Khẩu phần ăn phải được điều chỉnh theo kích cỡ cá, nhiệt độ nước, sức khỏe vật nuôi và diễn biến môi trường. Cho ăn vượt nhu cầu có thể làm gia tăng chất thải, trong khi cung cấp thiếu dinh dưỡng lại ảnh hưởng đến tăng trưởng và năng suất.

Theo đó, việc chuyển đổi sang thức ăn công nghiệp cần đi cùng với nâng cao kỹ thuật nuôi, quản lý khẩu phần và tăng cường năng lực của người sản xuất. Nếu chỉ thay đổi loại thức ăn mà chưa cải thiện quy trình quản lý, hiệu quả môi trường và kinh tế có thể chưa đạt được như kỳ vọng.

a-khoi-thuc-an_1789633534.png
Thức ăn công nghiệp được sản xuất theo những công thức nhất định, phù hợp với từng đối tượng và giai đoạn sinh trưởng

Đối với các vùng nuôi tập trung, việc tổ chức quản lý theo hướng đồng bộ giữa các hộ nuôi, hợp tác xã và doanh nghiệp có ý nghĩa quan trọng. Các quy định về mật độ nuôi, quản lý chất thải, theo dõi môi trường và sử dụng thức ăn cần được triển khai gắn với điều kiện thực tế của từng khu vực.

Áp lực lên nguồn lợi thủy sản tự nhiên

Bên cạnh những tác động trực tiếp tại vùng nuôi, ThS. Trần Công Khôi đặc biệt lưu ý đến vấn đề nguồn nguyên liệu sản xuất thức ăn khi ngành nuôi biển mở rộng quy mô.

Theo định hướng phát triển nuôi trồng thủy sản trên biển, nếu sản lượng cá nuôi đạt khoảng 200.000 tấn vào năm 2030, nhu cầu thức ăn sẽ tăng lên đáng kể. Từ đó, câu hỏi đặt ra là nguồn nguyên liệu phục vụ sản xuất thức ăn sẽ được cung cấp như thế nào, quy trình khai thác và chế biến ra sao, cũng như tác động của hoạt động này đến nguồn lợi thủy sản tự nhiên.

Đối với thức ăn công nghiệp cho thủy sản, một số nguyên liệu có thể được sản xuất từ nguồn nguyên liệu thủy sản, thực vật và các thành phần khác. Việc lựa chọn tỷ lệ nguyên liệu, nâng cao khả năng tiêu hóa và phát triển các nguồn nguyên liệu thay thế là những hướng nghiên cứu quan trọng nhằm giảm áp lực lên tài nguyên tự nhiên.

Nếu nhu cầu thức ăn tăng nhanh nhưng nguồn nguyên liệu vẫn phụ thuộc lớn vào khai thác thủy sản tự nhiên, áp lực lên nguồn lợi có thể gia tăng. Đây là vấn đề cần được xem xét trong tổng thể chuỗi giá trị, từ sản xuất nguyên liệu, chế biến thức ăn đến hoạt động nuôi trồng thủy sản.

Ông Khôi cho biết: “Muốn phát triển nuôi trồng thủy sản trên biển bền vững thì phải quan tâm đến nguồn nguyên liệu cho sản xuất thức ăn. Nếu cần hàng triệu tấn thức ăn, chúng ta phải tính toán nguồn nguyên liệu được khai thác như thế nào, xử lý ra sao. Nếu không nghiên cứu kỹ, áp lực lên khai thác nguồn lợi thủy sản sẽ rất lớn”.

Theo ông Khôi, phát triển nuôi biển cần gắn với yêu cầu bảo vệ nguồn lợi thủy sản và hệ sinh thái biển. Trong bối cảnh ngành khai thác thủy sản đang được định hướng tổ chức lại hoạt động, giảm áp lực khai thác và nâng cao hiệu quả sản xuất, việc gia tăng nhu cầu nguyên liệu cho nuôi trồng cần được tính toán phù hợp với mục tiêu quản lý tài nguyên.

Đây là bài toán liên quan đến sự phát triển của cả ngành khai thác và nuôi trồng thủy sản. Nếu nguồn nguyên liệu sản xuất thức ăn tạo thêm áp lực lên nguồn lợi thủy sản tự nhiên, mục tiêu phát triển bền vững của nuôi biển sẽ gặp nhiều thách thức. Vì vậy, cần tăng cường nghiên cứu công nghệ chế biến, đa dạng hóa nguyên liệu và phát triển các giải pháp sử dụng nguồn nguyên liệu hiệu quả hơn.

Phát triển nuôi biển gắn với sức tải môi trường, sinh thái

Từ những phân tích trên, ThS. Trần Công Khôi cho rằng, việc sử dụng thức ăn công nghiệp là một hướng đi cần thiết trong quá trình phát triển nuôi trồng thủy sản trên biển theo hướng bền vững. Tuy nhiên, giải pháp này cần được triển khai đồng bộ với nghiên cứu dinh dưỡng, công nghệ sản xuất, quản lý vùng nuôi và bảo vệ nguồn lợi thủy sản.

Hiện nay, mức độ sử dụng thức ăn công nghiệp trong một số mô hình nuôi biển vẫn còn hạn chế. Trong khi đó, thức ăn tươi sống vẫn được sử dụng tại nhiều khu vực và đối tượng nuôi, đặc biệt là tôm hùm, cá giò. Nếu quy mô nuôi tiếp tục mở rộng mà chưa có giải pháp kiểm soát lượng thức ăn và chất thải phù hợp, nguy cơ vượt sức tải môi trường sẽ gia tăng.

Sức tải môi trường của vùng nuôi không phải là một giới hạn cố định cho mọi điều kiện. Khả năng tiếp nhận chất thải phụ thuộc vào đặc điểm địa hình, chế độ dòng chảy, mức độ trao đổi nước, chất lượng nền đáy, mật độ lồng nuôi và các yếu tố sinh thái khác. Vì vậy, xác định sức tải cần dựa trên nghiên cứu, quan trắc và đánh giá cụ thể tại từng vùng.

Trong quá trình phát triển nuôi biển, việc lựa chọn khu vực nuôi, quy mô lồng bè, đối tượng nuôi và phương thức cung cấp thức ăn cần được tính toán theo hướng giảm thiểu tác động đến môi trường. Các vùng vịnh kín cần được quan tâm đặc biệt bởi điều kiện lưu thông nước có thể tạo ra những giới hạn nhất định đối với khả năng phân tán chất thải.

Cùng với đó, công tác nghiên cứu và chuyển giao công nghệ cần tập trung vào các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng thức ăn, giảm hệ số chuyển đổi thức ăn và hạn chế lượng chất thải phát sinh. Các cơ sở sản xuất thức ăn cũng cần tiếp tục cải thiện chất lượng sản phẩm, nâng cao khả năng tiêu hóa và nghiên cứu nguồn nguyên liệu phù hợp.

Ở góc độ quản lý, ông Khôi cho rằng, cần tăng cường liên kết giữa cơ quan quản lý nhà nước, cơ sở nghiên cứu, doanh nghiệp sản xuất thức ăn và người nuôi. Sự phối hợp này giúp các giải pháp kỹ thuật được triển khai sát với nhu cầu thực tế, đồng thời tạo cơ sở xây dựng những mô hình nuôi phù hợp với điều kiện sinh thái và kinh tế của từng khu vực.

anh-khoi-ts_1789633765.jpg
Cục Thủy sản và Kiểm ngư (Bộ Nông nghiệp và Môi trường)

Phát triển nuôi trồng thủy sản trên biển hướng đến sản lượng và chất lượng cao cần đi đôi với hiệu quả sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường. Khi thức ăn công nghiệp được sử dụng hợp lý, gắn với quản lý vùng nuôi và nghiên cứu nguyên liệu bền vững, ngành nuôi biển sẽ có thêm điều kiện nâng cao năng suất, giảm tác động sinh thái và duy trì hoạt động sản xuất trong dài hạn.

“Để nuôi biển phát triển bền vững, yêu cầu đặt ra là phải quản lý tốt cả thức ăn, chất thải và nguồn nguyên liệu. Đây là những yếu tố có mối liên hệ chặt chẽ, quyết định khả năng mở rộng quy mô nuôi trồng thủy sản mà vẫn bảo đảm cân bằng với môi trường và nguồn lợi tự nhiên. Khi đã giảm cường lực khai thác hải sản đồng nghĩa với việc giảm khai thác hải sản ven bờ, xa bờ điều đó tác động rất lớn đến quá trình gỡ thẻ vàng IUU của Việt Nam”, ông Khôi nhấn mạnh.

Sỹ Tùng - Mạnh Hải