Tìm hướng phát triển du lịch cộng đồng từ gốm Chăm Bàu Trúc
Khánh Hòa:

Tìm hướng phát triển du lịch cộng đồng từ gốm Chăm Bàu Trúc

Chủ nhật, 18/10/2026, 14:03 (GMT+7)
logo Sau 4 năm Nghệ thuật làm gốm của người Chăm được UNESCO ghi danh vào Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp, các nhà khoa học, chuyên gia và đại diện làng nghề đã đề xuất nhiều giải pháp phát triển du lịch cộng đồng gắn với bảo tồn di sản. Trong đó, vấn đề được đặc biệt quan tâm là tạo sinh kế, mở rộng thị trường, bảo vệ kỹ thuật truyền thống và bảo đảm người dân thực sự được hưởng lợi từ hoạt động du lịch.

Ngày 11/10, trong khuôn khổ Lễ hội Katê năm 2026, tại xã Ninh Phước, UBND tỉnh Khánh Hòa phối hợp với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch tổ chức Hội thảo khoa học “Bảo tồn và phát huy giá trị Nghệ thuật làm gốm của người Chăm được UNESCO ghi danh vào Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp”.

Hội thảo tập trung đánh giá kết quả sau 4 năm thực hiện cam kết bảo vệ di sản, nhận diện những khó khăn trong duy trì nghề truyền thống, đồng thời đề xuất giải pháp phát triển làng nghề gắn với du lịch, thương mại và sinh kế của cộng đồng Chăm.

gom-bau-truc-12_1791711881.jpg
Hội thảo có sự tham gia của đại diện các cơ quan quản lý văn hóa, UNESCO tại Việt Nam, các nhà khoa học, chuyên gia, nghệ nhân và cộng đồng thực hành nghề gốm Chăm...

Phát biểu khai mạc, bà Thái Thị Lệ Hằng, Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Khánh Hòa, nhấn mạnh Nghệ thuật làm gốm của người Chăm là di sản có giá trị đặc biệt, kết tinh tri thức dân gian, kỹ năng, kỹ thuật, thẩm mỹ và đời sống văn hóa cộng đồng.

Tại Bàu Trúc, người Chăm vẫn duy trì phương thức chế tác thủ công, tạo hình bằng đôi bàn tay kết hợp kỹ thuật xoay thân người, không sử dụng bàn xoay; sản phẩm được phơi và nung lộ thiên. Đây là những giá trị được trao truyền qua nhiều thế hệ, tạo nên bản sắc riêng của nghề gốm Chăm.

Theo bà Hằng, bảo vệ di sản không chỉ là giữ kỹ thuật hay sản phẩm mà trước hết phải giữ được cộng đồng, nghệ nhân và tri thức truyền thống. Bảo tồn cũng phải gắn với sinh kế, bởi nếu người làm nghề không có thu nhập ổn định, sản phẩm thiếu thị trường và thế hệ trẻ không nhìn thấy tương lai từ nghề thì việc trao truyền di sản sẽ gặp nhiều khó khăn.

gom-bau-truc-5_1791711861.jpg
GS,TS. Nguyễn Văn Kim, Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam - Phó Chủ tịch Hội đồng Di sản văn hóa quốc gia chủ trì hội thảo.

Khánh Hòa mong muốn nâng cao giá trị sản phẩm gốm Chăm, mở rộng thị trường, kết nối với du lịch và các ngành công nghiệp văn hóa, giúp người dân có thể bảo đảm cuộc sống bằng chính nghề truyền thống.

Phát triển du lịch phải tạo sinh kế cho người làm gốm

Trình bày báo cáo đề dẫn, PGS,TS. Trương Văn Món, giảng viên cao cấp Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia TP. HCM, cho biết sau 4 năm được UNESCO ghi danh, công tác bảo tồn gốm Chăm Bàu Trúc đã ghi nhận những kết quả bước đầu.

Theo số liệu được trình bày tại hội thảo, địa phương đã đầu tư khoảng 12 tỷ đồng nâng cấp hạ tầng làng nghề, quy hoạch vùng nguyên liệu, tổ chức các lớp truyền dạy, hỗ trợ phát triển hợp tác xã và quảng bá sản phẩm. Lượng khách tham quan làng gốm cũng tăng từ hơn 11.000 lượt năm 2023 lên hơn 17.000 lượt năm 2025.

gom-bau-truc-6_1791711862.jpg
Bà Thái Thị Lệ Hằng, Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Khánh Hòa

Tuy nhiên, PGS,TS. Trương Văn Món chỉ ra những thách thức liên quan đến quá trình đô thị hóa, nguồn nguyên liệu, lực lượng kế thừa nghề, khả năng thích ứng thị trường và thu nhập của người làm gốm. Đây là những vấn đề cần tiếp tục giải quyết để di sản có thể duy trì sức sống trong cộng đồng.

Từ góc nhìn về tính xác thực của di sản, TS. Nguyễn Thị Thu Trang, Trường Đại học Văn hóa TP. HCM, cho biết theo số liệu nghiên cứu, số người thực hành nghề tại Bàu Trúc giảm từ 455 người năm 2019 xuống còn 360 người năm 2024, trong khi chỉ còn 6 nghệ nhân có khả năng truyền dạy.

Tham luận cho rằng hoạt động bảo tồn đã quan tâm đến hạ tầng, lễ hội, thương hiệu và quảng bá, nhưng các điều kiện trực tiếp duy trì nghề như nguồn nguyên liệu, truyền dạy trong gia đình, sinh kế của người thợ và quyền quyết định của cộng đồng vẫn cần được chú trọng hơn.

Trong khi đó, PGS,TS. Phan Quốc Anh, nguyên Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Ninh Thuận, đề xuất hướng tiếp cận mô hình “bảo tàng sống” đối với làng gốm Bàu Trúc.

gom-bau-truc-4_1791711859.jpg
PGS,TS. Phan Quốc Anh phát biểu tại hội thảo.

Theo đề xuất, làng nghề có thể được tổ chức thành không gian bảo tồn và trải nghiệm với ba lớp liên kết: vùng lõi bảo vệ kỹ thuật, nghệ nhân và không gian thực hành; vùng tương tác phát triển giáo dục di sản, trải nghiệm và sinh kế; vùng kết nối phục vụ số hóa, nhận diện sản phẩm và mở rộng thị trường.

Mô hình này hướng đến việc duy trì hoạt động sản xuất, truyền nghề và sinh hoạt văn hóa thực tế của cộng đồng, thay vì biến làng nghề thành nơi chỉ trình diễn cho khách tham quan. Du lịch được xem là phương tiện hỗ trợ người dân tiếp tục sống với nghề.

Từ thực tiễn sản xuất, ông Vạn Quan Phú Đoan, Giám đốc Hợp tác xã Sản xuất Thương mại Dịch vụ gốm Bàu Trúc, cho biết sau khi được UNESCO ghi danh, làng nghề có thêm cơ hội quảng bá hình ảnh, kết nối du lịch, phát triển sản phẩm thủ công mỹ nghệ và mở rộng thị trường. Tuy nhiên, người làm gốm vẫn gặp nhiều khó khăn cần được giải quyết lâu dài.

Theo ông Đoan, các nghệ nhân, hộ sản xuất và hợp tác xã cần mặt bằng để tập kết nguyên liệu, tạo hình, phơi, nung và trưng bày sản phẩm. Nhiều cơ sở còn hạn chế về nguồn vốn, thiết bị, bao bì, mẫu mã và khả năng tiếp cận thị trường. Việc tiêu thụ sản phẩm chưa ổn định, vẫn phụ thuộc vào lượng khách du lịch và đơn đặt hàng.

gom-bau-truc-13_1791711847.jpg
Ông Vạn Quan Phú Đoan chia sẻ và kiến nghị tại hội thảo.

Đáng chú ý, ông cho rằng hoạt động du lịch cần gắn chặt hơn với người trực tiếp làm gốm, tránh phát triển hình thức trình diễn nghề nhưng thiếu chiều sâu văn hóa Chăm.

Đại diện hợp tác xã đề xuất xây dựng các chương trình tham quan, trải nghiệm làm gốm, trình diễn nghệ thuật và giới thiệu văn hóa Chăm; đồng thời tạo điều kiện để nghệ nhân, hộ sản xuất và hợp tác xã cùng tham gia cung cấp dịch vụ, có cơ hội tiếp cận công bằng và hưởng lợi thiết thực từ hoạt động du lịch.

Bên cạnh đó, ông kiến nghị hỗ trợ mặt bằng, vốn sản xuất, xây dựng thương hiệu, bao bì, quảng bá trên nền tảng số và kết nối sản phẩm gốm Bàu Trúc với doanh nghiệp du lịch, khách sạn, khu nghỉ dưỡng, cửa hàng quà tặng và các chương trình xúc tiến thương mại.

Đặc biệt, ông Vạn Quan Phú Đoan kiến nghị sau hội thảo cần có văn bản tổng hợp các đề xuất, xác định rõ nhiệm vụ ưu tiên, cơ quan phụ trách và lộ trình thực hiện, để những kiến nghị từ cộng đồng làng nghề sớm được chuyển thành hành động cụ thể.

Chuyển từ khai thác di sản sang du lịch vì di sản

Một trong những định hướng đáng chú ý tại hội thảo là thay đổi cách tiếp cận phát triển du lịch làng nghề, đặt cộng đồng nắm giữ di sản vào vị trí trung tâm.

bau-truc-1_1791711863.jpg
PGS,TS. Quảng Đại Tuyên đề xuất chuyển từ tư duy “khai thác di sản cho du lịch” sang “du lịch vì di sản”.

PGS,TS. Quảng Đại Tuyên, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Di sản Văn hóa và Phát triển, Trường Đại học Văn Lang, đề xuất chuyển từ tư duy “khai thác di sản cho du lịch” sang “du lịch vì di sản”.

Theo ông, du lịch có thể tạo thêm sinh kế và quảng bá văn hóa, nhưng nếu quá chú trọng trình diễn, thương mại hóa sản phẩm sẽ có nguy cơ tách nghề gốm khỏi cộng đồng, hệ thống tri thức và không gian văn hóa truyền thống.

Vì vậy, người dân cần tham gia quyết định nội dung giới thiệu với du khách, cách tổ chức trải nghiệm và cơ chế phân phối lợi ích. Nguồn thu từ hoạt động du lịch phải góp phần tái đầu tư cho truyền nghề, bảo vệ nguyên liệu, duy trì không gian thực hành và cải thiện đời sống người làm gốm.

PGS,TS. Quảng Đại Tuyên đề xuất cách tiếp cận theo chuỗi giá trị, từ di sản sống, cộng đồng chủ thể, cùng xây dựng trải nghiệm, tạo lập và phân phối giá trị đến tái đầu tư cho sức sống của di sản.

gom-bau-truc-1_1791711851.jpg
TS. Phạm Cao Quý phát biểu tại hội thảo.

Ở góc độ quản lý, TS. Phạm Cao Quý, Cục Di sản văn hóa, đề xuất chuyển trọng tâm từ các hoạt động bảo tồn riêng lẻ sang quản trị dựa vào cộng đồng, có cơ chế đánh giá, đo lường kết quả phục hồi sức sống của di sản; ưu tiên nguồn nguyên liệu, truyền dạy liên thế hệ, sinh kế công bằng và quyền đối với tri thức truyền thống.

Theo hướng tiếp cận này, du lịch, công nghiệp văn hóa, hạ tầng và chuyển đổi số đóng vai trò hỗ trợ duy trì hoạt động thực hành nghề, thay vì trở thành mục tiêu thay thế các giá trị truyền thống.

Cùng đề cập những thách thức sau ghi danh, NCS.ThS. Đạo Thanh Quyến, Phân viện Văn hóa, Nghệ thuật, Thể thao và Du lịch miền Nam, tập trung phân tích nguy cơ suy giảm lực lượng truyền nghề, khó khăn về tài nguyên đất sét sông Quao, cát sông Lu và nguy cơ biến đổi kỹ thuật truyền thống khi đưa bàn xoay cơ học, lò nung khép kín vào sản xuất.

bau-truc-122_1791712733.jpg
NCS.ThS. Đạo Thanh Quyến chia sẻ tại hội thảo.

Tham luận đề xuất tiếp cận bảo tồn từ chiều sâu văn hóa, bảo vệ kỹ thuật thủ công, tri thức và không gian thực hành truyền thống, đồng thời chú trọng xây dựng dữ liệu, chứng cứ phục vụ báo cáo định kỳ quốc gia về tình trạng di sản.

Các tham luận cho thấy để du lịch cộng đồng tại Bàu Trúc phát triển bền vững, cần đồng thời giải quyết những vấn đề căn bản của làng nghề. Đó là bảo đảm không gian sản xuất, nguồn nguyên liệu, lực lượng kế thừa, thị trường tiêu thụ và cơ chế để người dân tham gia, hưởng lợi từ hoạt động du lịch.

Phát biểu bế mạc, GS,TS. Nguyễn Văn Kim, Phó Chủ tịch Hội đồng Di sản văn hóa quốc gia, Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, nhấn mạnh việc bảo vệ nghề gốm trước hết phải bảo vệ cộng đồng chủ thể sáng tạo và không gian thực hành di sản. Nghệ nhân, người thực hành và thế hệ trẻ Chăm phải tiếp tục giữ vai trò trung tâm trong quá trình giữ gìn, sáng tạo và trao truyền nghề.

thanh-huong_1791713201.jpg
Bà Phạm Thị Thanh Hường đại diện UNESCO tại Việt Nam đánh giá cao hội thảo khoa học khi quy tụ được các chuyên gia, nhà nghiên cứu, chính quyền cùng các nghệ nhân và cộng đồng.

Ông đề xuất Khánh Hòa tiếp tục triển khai các nhiệm vụ thuộc Chương trình hành động quốc gia, trong đó chú trọng bảo vệ kỹ thuật truyền thống, đào tạo và truyền dạy, bảo đảm nguồn nguyên liệu, không gian thực hành, thị trường tiêu thụ và sinh kế cho người làm nghề.

Đồng thời, phát triển du lịch văn hóa gắn với trải nghiệm nghề gốm cần bảo đảm tính chân thực, tính cộng đồng và bản sắc di sản, tránh thương mại hóa làm mất đi những giá trị cốt lõi.

Theo GS,TS. Nguyễn Văn Kim, những ý kiến được chia sẻ tại hội thảo sẽ là nguồn tư liệu và cơ sở thực tiễn quan trọng để tỉnh Khánh Hòa tiếp tục rà soát, hoàn thiện các nhiệm vụ, giải pháp trong thời gian tới. Đồng thời là cơ sở để tiếp tục triển khai hiệu quả các cam kết và nhiệm vụ trong Chương trình hành động quốc gia, hướng đến mục tiêu đưa Nghệ thuật làm gốm của người Chăm ra khỏi tình trạng cần được bảo vệ khẩn cấp và từng bước nâng cao vị thế, sức sống của di sản trong đời sống đương đại.

 

Trung Nhân