news
Triển khai Nghị quyết 26, Khánh Hòa tìm dư địa mới cho du lịch từ tài nguyên bản địa

Triển khai Nghị quyết 26, Khánh Hòa tìm dư địa mới cho du lịch từ tài nguyên bản địa

Thứ sáu, 11/9/2026, 14:13 (GMT+7)
logo Nghị quyết 26-NQ/TW về phát triển du lịch Việt Nam trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong kỷ nguyên mới đặt ra yêu cầu phát triển du lịch trên nền tài nguyên được bảo vệ và sử dụng bền vững. Với Khánh Hòa, khi lượng khách tăng nhanh, câu chuyện không chỉ là phát huy lợi thế biển đảo, mà còn mở rộng không gian du lịch về nông thôn, miền núi, làng nghề, đưa văn hóa bản địa và sản phẩm nông nghiệp vào chuỗi trải nghiệm.

Tám tháng năm 2026, Khánh Hòa đón hơn 18 triệu lượt khách, tăng gần 40% so với cùng kỳ; khách quốc tế hơn 6,3 triệu lượt, tăng gần 68%. Tổng doanh thu du lịch đạt gần 60.900 tỷ đồng.

Những năm gần đây sức hút của du lịch Khánh Hòa rất rõ. Nhưng khi khách tiếp tục tăng, một bài toán khác cũng hiện ra: nếu phần lớn dòng khách vẫn tập trung vào Nha Trang, các vịnh biển, đảo và khu nghỉ dưỡng ven biển, dư địa nào để du lịch tiếp tục đi xa mà không tạo thêm sức ép lên tài nguyên?

thai-thi-le-hang_1788921173.jpg
Bà Thái Thị Lệ Hằng, Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Khánh Hòa

Đây cũng là vấn đề đặt ra khi triển khai Nghị quyết 26-NQ/TW tại một địa phương mà biển, đảo và cảnh quan tự nhiên là nguồn lực đặc biệt quan trọng.

Tinh thần của Nghị quyết không chỉ là khai thác tốt hơn những gì đang có. Nông nghiệp, biển, rừng, cảnh quan và hệ sinh thái phải được nhìn như nguồn vốn cần được giữ gìn, phục hồi và tạo ra giá trị lâu dài.

Phát triển du lịch phải "đi xa hơn dải bờ biển"

Chiến lược phát triển du lịch Khánh Hòa giai đoạn 2026 - 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đặt mục tiêu đến năm 2030 đón khoảng 33 triệu lượt khách lưu trú, tổng thu khoảng 9 tỷ USD. Thời gian lưu trú bình quân được kỳ vọng đạt 4 - 5 ngày, mức chi tiêu của khách tăng 1,5 - 2 lần so với năm 2025.

Những mục tiêu này cho thấy câu chuyện không chỉ nằm ở số lượng khách. Bởi, muốn khách ở lâu hơn, phải có thêm nơi để đi. Muốn tăng chi tiêu, phải có thêm sản phẩm đủ sức giữ chân du khách. Trong khi đó, nếu dòng khách tiếp tục dồn vào những không gian đã quen thuộc, áp lực lên hạ tầng và tài nguyên cũng sẽ lớn hơn.

cang-du-lich_1788921256.jpg
Tám tháng năm 2026, Khánh Hòa đón hơn 18 triệu lượt khách, tăng gần 40% so với cùng kỳ; khách quốc tế hơn 6,3 triệu lượt, tăng gần 68%.

Sau khi không gian phát triển của tỉnh được mở rộng, Khánh Hòa có một bức tranh tài nguyên đa dạng hơn: biển đảo, đồng bằng, miền núi; văn hóa Chăm, Raglai; làng nghề truyền thống; các vùng sản xuất nông nghiệp cùng những sản phẩm đặc trưng như nho, táo, cây ăn quả, trầm hương, yến sào, gốm, dệt thủ công...

Chiến lược du lịch của tỉnh Khánh Hòa đã đưa ra mô hình sản phẩm “lõi kép”, kết nối hai cực phát triển Bắc - Nam. Một khu vực tiếp tục phát huy lợi thế nghỉ dưỡng biển đảo, dịch vụ cao cấp; khu vực còn lại mở rộng các sản phẩm sinh thái, văn hóa, nông nghiệp dựa trên tài nguyên bản địa.

Bà Thái Thị Lệ Hằng, Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Khánh Hòa cho rằng, biển vẫn là lợi thế lớn, nhưng không gian du lịch của tỉnh không thể chỉ dừng ở biển.

“Khánh Hòa có nhiều vùng tài nguyên và văn hóa khác nhau. Mỗi nơi phải tìm được sản phẩm phù hợp với điều kiện và bản sắc của mình. Khi kết nối được biển với sinh thái, nông nghiệp, làng nghề và cộng đồng, khách sẽ có thêm lý do để ở lại lâu hơn, dòng khách cũng được phân bổ rộng hơn”, bà Hằng chia sẻ.

Một bước đi đáng chú ý là tỉnh đang xây dựng Đề án Phát triển du lịch cộng đồng giai đoạn 2026 - 2030. Theo đề cương đã được phê duyệt, các điểm du lịch cộng đồng tiềm năng được nghiên cứu theo ba hành lang: biển - đảo; đồng bằng - làng nghề; miền núi - sinh thái văn hóa bản địa.

Cách tổ chức này cho thấy du lịch biển vẫn giữ vai trò chủ lực, nhưng không còn là không gian duy nhất để Khánh Hòa tìm kiếm tăng trưởng.

Khi nông nghiệp trở thành một phần của hành trình du lịch

Từ một vùng sản xuất nông nghiệp đến một sản phẩm du lịch là một quãng đường không ngắn.

Một vườn cây mở cửa cho khách chụp ảnh chưa chắc đã trở thành điểm đến. Một sản phẩm OCOP đặt trên quầy hàng cũng chưa đủ để khách hiểu về vùng đất và người làm ra nó. Giá trị chỉ khác đi khi sản xuất, ẩm thực, cảnh quan, văn hóa và dịch vụ được nối lại với nhau.

du-khach-tham-quan-trai-nghiem-tai-san-viet-farm-1_1788921240.jpg
Du khách trải nghiệm du lịch nông nghiệp tại Sản Việt Farm.

Ở thôn Suối Sâu, xã Nam Ninh Hòa, Sản Việt Farm là một ví dụ cho cách làm này. Từ vùng đồi khô cằn, trang trại từng bước phát triển thành không gian nông nghiệp gần 130ha, kết nối cây trồng, vật nuôi, rừng tái sinh, ao hồ với hoạt động trải nghiệm. Phụ phẩm từ trồng trọt, chăn nuôi được đưa trở lại chu trình sản xuất; du khách có thể tham quan vườn cây, khu chăn nuôi, khu nuôi ong, tìm hiểu cách xử lý phụ phẩm và sử dụng những sản phẩm được làm ra ngay tại trang trại.

Ông Nguyễn Minh Thành, chủ Sản Việt Farm, cho rằng điều quan trọng không phải là tạo một điểm để khách đến chụp ảnh rồi đi.

“Chúng tôi muốn du khách hiểu nông sản được tạo ra như thế nào, vì sao phải giữ đất, giữ nước, giữ rừng. Khi được thấy nơi nguyên liệu được trồng, nghe cách chăm sóc và thưởng thức thành phẩm ngay tại trang trại, nông sản có thêm một lớp giá trị mới: giá trị trải nghiệm”, ông Thành chia sẻ.

Sản Việt Farm còn đưa văn hóa Raglai, Ê Đê, cồng chiêng, ẩm thực bản địa vào hoạt động trải nghiệm với sự tham gia của các đội văn nghệ trong vùng.

Theo ông Thành, làm du lịch nông nghiệp không thể tách rời người dân và văn hóa địa phương. “Một trang trại có thể trồng được cây, nuôi được con, làm được dịch vụ. Nhưng để điểm đến có chiều sâu thì phải có câu chuyện văn hóa và phải có sự tham gia của cộng đồng”.

Câu chuyện ở Sản Việt cho thấy, khi nông sản được nối với quy trình sản xuất, ẩm thực, văn hóa và trải nghiệm, giá trị tạo ra không còn dừng ở việc bán một sản phẩm.

bieu-dien-van-nghe-va-giao-luu-van-hoa-voi-nguoi-dong-bao-ban-dia-7_1788921232.jpg
Du lịch nông nghiệp không thể tách rời người dân và văn hóa địa phương.

Theo bà Thái Thị Lệ Hằng, du lịch không nên phát triển tách rời nông nghiệp, ngư nghiệp và đời sống cộng đồng.

“Khi khách sạn, nhà hàng, khu du lịch sử dụng nhiều hơn nông sản, hải sản khai thác có trách nhiệm và sản phẩm OCOP tại chỗ, lợi ích từ du lịch sẽ được chia sẻ rộng hơn. Người dân có thêm đầu ra cho sản phẩm, còn du khách có thêm trải nghiệm gắn với chính vùng đất mình đến”, bà Hằng nói.

Tuy nhiên, đưa khách về nông thôn hay miền núi không đồng nghĩa người dân tự nhiên có thể làm du lịch.

Nhiều hộ quen sản xuất nhưng chưa quen phục vụ khách; sản phẩm quy mô nhỏ, kỹ năng giới thiệu, bán hàng, vệ sinh, an toàn còn hạn chế. Một điểm có thể đẹp, có câu chuyện nhưng nếu giao thông khó khăn, thiếu dịch vụ hoặc không kết nối được với doanh nghiệp lữ hành thì khách vẫn chỉ đến lẻ tẻ.

Theo bà Hằng, người dân phải được tham gia sâu hơn vào chuỗi du lịch. “Người dân không nên chỉ đứng ở vai trò hỗ trợ mà phải được tham gia xây dựng sản phẩm, cung cấp dịch vụ, gìn giữ văn hóa và bảo vệ tài nguyên tại điểm đến. Khi họ nhìn thấy lợi ích từ du lịch gắn với trách nhiệm bảo tồn, mô hình mới có thể đi đường dài”.

Giữ lại những tài nguyên khiến du khách tìm đến

Mở rộng du lịch về những vùng còn nhiều tài nguyên tự nhiên và văn hóa cũng mang theo một rủi ro khác.

Khi một nơi bắt đầu đông khách, nhu cầu xây dựng và mở dịch vụ tăng rất nhanh. Nếu không kiểm soát, vùng nông nghiệp có thể bị bê tông hóa; làng nghề dần chỉ còn hoạt động trình diễn; kiến trúc và sinh hoạt cộng đồng thay đổi theo thị hiếu du khách.

dong-cuu-suoi-tien-2_1788922196.jpg
Ngoài biển, Khánh Hòa có nhiều dư địa để phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn.

Với du lịch sinh thái và du lịch biển, bài toán còn nhạy cảm hơn. Khách đông hơn đồng nghĩa rác thải nhiều hơn, sử dụng nước và năng lượng tăng lên, sức ép đối với rừng, vùng ven biển, san hô, cỏ biển và các hệ sinh thái tự nhiên cũng tăng.

Đây là lý do Nghị quyết 26-NQ/TW đặt phát triển du lịch sinh thái, du lịch biển trong mối quan hệ với bảo vệ tài nguyên và sức tải môi trường.

Bà Thái Thị Lệ Hằng cho rằng cách nhìn về tài nguyên cũng cần thay đổi. “Không thể chỉ xem tài nguyên như thứ để khai thác cho du lịch. Với biển, rừng hay các hệ sinh thái nhạy cảm, cần nhìn đó là một dạng vốn tự nhiên. Có giữ được nguồn vốn này thì du lịch mới có thể phát triển lâu dài. Vì vậy, quy hoạch và phát triển sản phẩm phải dựa trên sức chịu tải của từng khu vực”, bà Hằng nói.

Kế hoạch hành động phát triển ngành du lịch Khánh Hòa năm 2026 cũng xác định hướng tới điểm đến “Xanh - An toàn - Hấp dẫn - Bền vững”, phát huy không chỉ tài nguyên biển mà cả văn hóa, lịch sử, di sản và nông nghiệp trải nghiệm.

Theo bà Hằng, với những khu vực có giá trị sinh thái cao, việc bảo tồn phải được tính ngay từ khâu quy hoạch. “Nếu phát triển xong rồi mới quay lại xử lý môi trường thì thường đã muộn. Tài nguyên còn thì du lịch mới còn”, bà Hằng chia sẻ.

Không chỉ... đếm khách mà cần tạo thêm việc làm từ du lịch

Tám tháng đã đón hơn 18 triệu lượt khách, trong khi mục tiêu cả năm 2026 của Khánh Hòa là hơn 18,8 triệu lượt. Nhưng chính lúc khách tăng nhanh cũng là lúc chất lượng tăng trưởng cần được nhìn kỹ hơn.

Một khách chỉ sử dụng dịch vụ trong khu nghỉ dưỡng khác với người đi vào địa phương, ăn món bản địa, mua sản phẩm OCOP, trải nghiệm làng nghề hay sử dụng dịch vụ của cộng đồng.

nha-trang-4_1788921391.jpg
Khi tài nguyên được giữ lại, người dân có thể sống tốt hơn từ chính tài nguyên ấy, tinh thần phát triển du lịch bền vững mà Nghị quyết 26-NQ/TW đặt ra mới thực sự đi vào đời sống.

Theo bà Thái Thị Lệ Hằng, Khánh Hòa sẽ không chỉ nhìn vào số lượng khách. “Chất lượng tăng trưởng phải thể hiện ở thời gian lưu trú, mức chi tiêu và phần giá trị được giữ lại tại địa phương. Khi người dân bán được nông sản, làng nghề có thêm đầu ra hay cộng đồng có thêm việc làm từ du lịch thì tăng trưởng ấy mới có ý nghĩa rõ hơn”, bà Hằng nói.

Từ yêu cầu của Nghị quyết 26-NQ/TW nhìn vào thực tế Khánh Hòa, bài toán những năm tới không chỉ là mục tiêu 33 triệu lượt khách hay 9 tỷ USD tổng thu.

Phía sau những con số đó là câu hỏi tài nguyên nào sẽ được sử dụng để tạo ra tăng trưởng, những vùng đất đón thêm khách sẽ thay đổi ra sao và người dân tại đó nhận được gì từ du lịch.

Biển vẫn sẽ là lợi thế lớn của Khánh Hòa. Nhưng khi du khách sau những ngày ở biển còn muốn đi lên miền núi, vào vùng cây trái, ghé làng nghề, tìm hiểu văn hóa Chăm, Raglai hay mang về một sản phẩm địa phương cùng câu chuyện về nơi nó được làm ra, không gian du lịch sẽ rộng hơn.

Và khi tài nguyên được giữ lại, người dân có thể sống tốt hơn từ chính tài nguyên ấy, tinh thần phát triển du lịch bền vững mà Nghị quyết 26-NQ/TW đặt ra mới thực sự đi vào đời sống.

Trao đổi với phóng viên Tạp chí Nông nghiệp và Môi trường, PGS,TS. Lê Chí Công, Trưởng Khoa Du lịch, Trường Đại học Nha Trang cho rằng, phát triển du lịch bền vững cần chuyển từ tư duy “khai thác tài nguyên” sang “quản trị vốn tự nhiên”.

Theo ông, biển đảo Khánh Hòa không chỉ là tài nguyên du lịch mà còn là hệ sinh thái cần được bảo tồn lâu dài. Quy hoạch không gian biển cần dựa trên sức chịu tải môi trường, kiểm soát mật độ khai thác và hạn chế những hoạt động làm suy giảm san hô, cỏ biển, hệ sinh thái ven bờ.

PGS,TS. Lê Chí Công cũng cho rằng cộng đồng địa phương cần được chuyển từ vị trí “tham gia hỗ trợ” sang cùng quản trị và cùng hưởng lợi. Đồng thời, nên tăng liên kết giữa ngư nghiệp, nông nghiệp và du lịch; khuyến khích khách sạn, nhà hàng, khu du lịch sử dụng nông sản, hải sản khai thác có trách nhiệm và sản phẩm OCOP địa phương.

Khi các ngành cùng chia sẻ giá trị và trách nhiệm bảo tồn, du lịch mới có thể tạo thêm sinh kế mà không làm tăng áp lực lên tài nguyên.

 

 

Trung Nhân