Tổng kết 10 năm FFF: Hợp tác để nâng giá trị rừng và sinh kế

Tổng kết 10 năm FFF: Hợp tác để nâng giá trị rừng và sinh kế

Thứ tư, 14/10/2026, 15:03 (GMT+7)
logo Từ nhóm hộ trồng keo góp vốn làm xưởng xẻ đến những hợp tác xã học cách kiểm soát chất lượng nông sản hữu cơ, câu chuyện tại Hội thảo tổng kết 10 năm Chương trình Hỗ trợ Rừng và Trang trại ở Việt Nam cho thấy những thay đổi trong cách làm ăn của người dân. Liên kết sản xuất, nâng năng lực quản trị và tìm được thị trường đang giúp người làm rừng, trang trại cải thiện sinh kế.

Ngày 9/10 tại Hà Nội, Trung ương Hội Nông dân Việt Nam phối hợp với Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên hợp quốc (FAO) tổ chức Hội thảo tổng kết 10 năm Chương trình Hỗ trợ Rừng và Trang trại (FFF) tại Việt Nam. Cùng với báo cáo kết quả, những chia sẻ từ hợp tác xã và các đơn vị hỗ trợ kỹ thuật đã làm rõ chặng đường người dân học cách hợp tác, tổ chức sản xuất và nâng giá trị sản phẩm.

untitled-606537_1791552773.jpg
Ông Nguyễn Xuân Định – Phó Chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương Hội Nông dân Việt Nam phát biểu khai mạc Hội thảo Tổng kết 10 năm Chương trình Hỗ trợ Rừng và Trang trại (FFF) tại Việt Nam. Ảnh Quang Lịch.

Chủ trì hội thảo có ông Nguyễn Xuân Định, Phó Chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương Hội Nông dân Việt Nam; ông Vinod Ahuja, Trưởng đại diện FAO tại Việt Nam và bà Sophie Grouwels, Chuyên gia lâm nghiệp FAO, Điều phối viên FFF toàn cầu.

hoi-nong-dan-viet-nam-1617_1791552979.webp
Ông Nguyễn Xuân Định - Phó Chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương Hội Nông dân Việt Nam trao tặng Kỷ niệm chương Vì giai cấp Nông dân Việt Nam cho bà Sophie Grouwels, Chuyên gia lâm nghiệp FAO, Điều phối viên FFF toàn cầu và các cá nhân có nhiều cống hiến, đóng góp cho giai cấp nông dân. Ảnh Quang Lịch.

Mười năm được nhìn lại bằng những diện tích rừng có chứng chỉ, sản phẩm đạt tiêu chuẩn và số hộ hưởng lợi. Nhưng qua từng câu chuyện, điều được các đại biểu quan tâm còn là cách duy trì sự hợp tác giữa nông dân, đưa sản xuất gắn với thị trường và tạo nguồn thu ổn định từ rừng, trang trại.

Bắt đầu từ nhu cầu của những hộ trồng keo

Câu chuyện của Hợp tác xã Nông lâm nghiệp Bình Minh, hiện ở phường Văn Phú, tỉnh Lào Cai, bắt đầu từ những hộ trồng keo tại thôn Lêm, xã Phú Thịnh trước đây. Người dân muốn liên kết để nâng chất lượng rừng trồng, tìm cách tăng giá trị gỗ và tiếp cận thị trường.

Báo cáo tổng kết tại hội thảo cho biết, sau khi tham gia Chương trình FFF năm 2015, các hộ được học về phân tích và phát triển thị trường, kỹ thuật quản lý rừng trồng, chế biến gỗ, quản lý tổ chức và xây dựng đề xuất dự án. Tổ hợp tác thôn Lêm được thành lập năm 2015 với bảy thành viên ban đầu.

Việc học được gắn với nhu cầu làm ăn của người dân. Trồng keo thế nào, tính trữ lượng gỗ ra sao, tổ chức khai thác và chế biến bằng cách nào, tìm đối tác ở đâu là những vấn đề các hộ phải giải quyết khi muốn nâng hiệu quả sản xuất.

Theo báo cáo của HTX nông lâm nghiệp Bình Minh (phường Văn Phú, Lào Cai), hợp tác xã ghi nhận 7 trong số 15 hộ của tổ hợp tác đã góp 500 triệu đồng đầu tư xưởng xẻ rộng 400 m². Tháng 7/2017, Hợp tác xã Bình Minh được thành lập với vốn góp 1 tỷ đồng. Trong các năm 2018-2019, xưởng xẻ được mở rộng; đến năm 2019, công suất đạt 700 m³/tháng.

Từ nhóm hộ trồng rừng đến hợp tác xã có hoạt động chế biến là một quá trình tích lũy về vốn, kỹ thuật và cách tổ chức. Khi cùng đầu tư, các thành viên phải bàn bạc về sản xuất, quản lý chi phí, chất lượng nguyên liệu và đầu ra. Những yêu cầu ấy cũng đặt ra nhu cầu nâng năng lực quản trị cho hợp tác xã.

Trong quá trình phát triển, FFF và Hội Nông dân Việt Nam hỗ trợ đào tạo, kỹ thuật, kết nối thị trường, tổ chức cho nông dân học tập kinh nghiệm về chứng chỉ quản lý rừng bền vững FSC tại Quảng Trị. Hội Nông dân địa phương vận động người dân tham gia nhóm chứng chỉ, phối hợp với cơ quan chức năng và doanh nghiệp tập huấn; 494 hộ tham gia đợt FSC đầu tiên tại Yên Bình.

Sự phối hợp được hình thành từ những công việc cụ thể. Chính quyền và cơ quan chuyên môn hỗ trợ điều phối, kỹ thuật; doanh nghiệp hỗ trợ chi phí liên quan đến chứng chỉ, liên kết thu mua, chế biến và đầu tư. Hợp tác xã đứng giữa các khâu ấy, kết nối hộ trồng rừng với yêu cầu của chuỗi cung ứng.

Theo báo cáo của HTX Bình Minh tại Hội thảo, mạng lưới liên kết đã có hơn 3.000 hộ trồng rừng, với khoảng 8.000 ha rừng liên kết, trong đó khoảng 6.000 ha có chứng chỉ FSC. Xưởng xẻ đạt chứng chỉ chuỗi hành trình sản phẩm FSC-CoC; hợp tác xã liên kết với Công ty Hòa Phát, NAFOCO và các đối tác khác trong chuỗi cung ứng gỗ. Ở khâu đầu vào, hợp tác xã còn kết nối cung cấp cây giống keo chất lượng cao cho hơn 650 ha. Việc liên kết vì thế được mở rộng từ cây giống, quản lý rừng đến chế biến và tiêu thụ.

Hiệu quả cũng được thể hiện qua việc làm tại địa phương. Đại diện HTX Bình Minh cho biết, năm 2024, hợp tác xã có 25-30 lao động, với mức thu nhập 14-15 triệu đồng/người/tháng. Những con số này cho thấy hoạt động chế biến và liên kết sản xuất đã tạo thêm việc làm bên cạnh thu nhập từ trồng rừng.

Bài học của HTX Bình Minh đưa ra là tổ chức nông dân phải bắt đầu từ nhu cầu thực tế và lợi ích chung. Vùng nguyên liệu cần gắn với chế biến, quản lý chất lượng và doanh nghiệp tiêu thụ. Cùng với kỹ thuật, thiết bị, hợp tác xã cần đầu tư cho quản trị và minh bạch tài chính.

Câu chuyện ấy của HTX Bình Minh cũng là thông điệp được gửi gắm trong phát biểu khai mạc của ông Nguyễn Xuân Định: Chương trình FFF lấy tổ chức của người sản xuất rừng và trang trại làm trung tâm, giúp các hộ nhỏ lẻ từng bước liên kết, chủ động tham gia chuỗi giá trị và đối thoại chính sách.

nguoi-lao-dong-va-go-xe_1791599403.png
Nông dân học tính trữ lượng gỗ tại Lào Cai

Từ bài học của Hợp tác xã Bình Minh: Liên kết phải bắt đầu bằng nhu cầu thực tế và lợi ích chung của nông dân; nâng giá trị rừng phải gắn vùng nguyên liệu với chế biến, chứng chỉ FSC và doanh nghiệp tiêu thụ. FFF đồng hành nâng năng lực kỹ thuật, quản trị và minh bạch tài chính, giúp hợp tác xã tạo việc làm, cải thiện thu nhập và phát triển sinh kế bền vững cho người trồng rừng.

Làm hữu cơ phải đi cùng kiểm soát chất lượng

Nếu HTX Bình Minh cho thấy quá trình liên kết trong sản xuất lâm nghiệp, thì báo cáo của Viện Quản lý đất đai và Phát triển nông thôn, Trường Đại học Lâm nghiệp làm rõ một công việc khác: hỗ trợ tổ hợp tác, hợp tác xã vùng núi phía Bắc nâng chất lượng sản phẩm thông qua tiêu chuẩn hữu cơ và hệ thống chứng nhận cùng tham gia.

Theo TS. Trần Thị Thanh Bình và TS. Đỗ Thị Hường, Viện Quản lý đất đai và Phát triển nông thôn, Trường Đại học Lâm nghiệp, hoạt động hỗ trợ được trình bày theo các bước từ đào tạo, phân tích mẫu đến hoàn thiện hồ sơ, giám sát, thanh tra và chứng nhận sản phẩm. Đây là những công việc người sản xuất cần thực hiện để duy trì chất lượng và tạo cơ sở cho việc giới thiệu sản phẩm ra thị trường.

Theo Viện Quản lý đất đai và Phát triển nông thôn, trong giai đoạn 2019-2026, đơn vị đã tổ chức 10 đợt tập huấn về nông nghiệp hữu cơ và hệ thống bảo đảm cùng tham gia (PGS) cho các tổ hợp tác, hợp tác xã tại bốn tỉnh, với 300 thành viên tham gia.

Sáu lớp đào tạo thanh tra viên được tổ chức với 180 thành viên tham gia. Hai lớp đào tạo giảng viên nguồn về nông nghiệp hữu cơ và PGS có 46 giảng viên, đại diện hợp tác xã và đối tác của FFF tham gia.

Việc đào tạo người làm công tác thanh tra, giám sát ngay trong quá trình phát triển mô hình là một nội dung đáng chú ý. Cùng với kiến thức sản xuất hữu cơ, các tổ chức cần có người hiểu quy trình, biết kiểm tra, ghi nhận và hỗ trợ thành viên thực hiện đúng yêu cầu.

Để phục vụ việc xin cấp chứng nhận, 50 mẫu đất, nước và sản phẩm của 30 hợp tác xã, tổ hợp tác đã được thu thập, phân tích. Viện Quản lý đất đai và Phát triển nông thôn đồng thời hỗ trợ hoàn thiện hồ sơ, tổ chức giám sát, thanh tra và cấp chứng nhận; vận động thành lập các ban điều phối PGS Bắc Kạn, PGS Hòa Bình và thành lập Ban điều phối PGS của Viện.

Những tên gọi địa bàn trong báo cáo phản ánh quá trình triển khai hoạt động giai đoạn 2019-2026. Qua đó có thể thấy, việc hỗ trợ đã được thực hiện theo tiến trình, từ chuẩn bị năng lực đến xây dựng cơ chế phối hợp và kiểm soát chất lượng.

Cùng với chứng nhận, các hợp tác xã được hỗ trợ về cách giới thiệu và bán sản phẩm. Báo cáo của Viện Quản lý đất đai và Phát triển nông thôn giới thiệu website của 10 hợp tác xã; ghi nhận 13 bộ nhận diện được xây dựng cùng hoạt động in bao bì sản phẩm.

Các công cụ số được phát triển để phục vụ kế hoạch sản xuất kinh doanh, truy xuất nguồn gốc và chỉ dẫn địa lý. Bản đồ số vùng chứng nhận giúp bổ sung thông tin về nơi sản xuất, gắn việc quản lý chất lượng với vùng nguyên liệu cụ thể.

Để người dân có tài liệu thực hành, đơn vị đã xây dựng hơn 20 video hướng dẫn về làm phân ủ, thuốc thảo mộc, quy trình sản xuất, xây dựng website và PGS; xuất bản chín sách mỏng về quy trình trồng trọt, chăn nuôi hữu cơ. Các tài liệu về quản lý rủi ro, ươm mầm kinh doanh và chuyển đổi số cũng được biên soạn.

Số liệu này thuộc hoạt động hỗ trợ do Viện thực hiện trong chương trình. Điều đáng quan tâm là sự kết nối giữa các khâu: sản xuất theo quy trình, kiểm soát chất lượng, hoàn thiện hồ sơ và tiếp cận thị trường. Một hợp tác xã muốn duy trì sản phẩm hữu cơ cần được hỗ trợ xuyên suốt những công việc ấy. Từ đây, câu chuyện chứng nhận trở lại với câu chuyện tổ chức sản xuất. Các thành viên phải thống nhất cách làm, cùng thực hiện yêu cầu chất lượng và duy trì giám sát. Năng lực của hợp tác xã được bồi đắp qua những việc cụ thể, gắn với sản phẩm mà người dân đang làm ra.

Mười năm FFF: Kết nối 56 tổ chức sản xuất, mang lại lợi ích cho hơn 20.000 người, góp phần nâng thu nhập 15-30% tùy mô hình và chuỗi sản phẩm. Tiếp nối thành quả bằng liên kết bền chặt, đối thoại chính sách và mở rộng thị trường, để người dân làm chủ sản xuất, sống tốt hơn từ rừng và trang trại.

Để liên kết tiếp tục mang lại lợi ích cho người dân

Bà Nguyễn Thị Việt Hà, Phó Trưởng Ban Công tác Nông dân, Trung ương Hội Nông dân Việt Nam, nguyên Giám đốc FFF II đã báo cáo tại Hội thảo về các câu chuyện cơ sở trong kết quả chung của chương trình. Theo đó tháng 10/2026, FFF đã hỗ trợ 56 tổ hợp tác, hợp tác xã và liên hiệp hợp tác xã, với hơn 5.000 hộ thành viên và thành viên liên kết, hơn 20.000 người hưởng lợi. Các mô hình được triển khai tại Lào Cai, Thái Nguyên, Phú Thọ và Sơn La.

Chương trình ghi nhận hơn 14.000 ha rừng đạt chứng nhận FSC, hơn 14.000 ha quế được chứng nhận hữu cơ và 39 sản phẩm có chứng nhận hữu cơ, OCOP hoặc VietGAP. Thu nhập tăng 15-30%, tùy mô hình và chuỗi giá trị sản phẩm.

Kết quả về môi trường được thể hiện qua hơn 40.000 ha rừng và cảnh quan được quản lý bền vững, 116 mô hình thích ứng dựa vào cộng đồng. Có 38 tổ hợp tác, hợp tác xã cung cấp các dịch vụ xã hội và văn hóa. Những kết quả này gắn với cách tiếp cận kết hợp sản xuất, sinh kế và quản lý cảnh quan. Bên cạnh gỗ, người dân có thêm nguồn thu từ cây trồng, vật nuôi dưới tán rừng, lâm sản ngoài gỗ và dịch vụ phù hợp với điều kiện địa phương. Sản phẩm chủ lực được lựa chọn trên cơ sở nguồn lực sẵn có và khả năng kết nối thị trường.

Một nội dung khác được Hội thảo tổng kết làm rõ là đối thoại để giải quyết khó khăn của người sản xuất. Chương trình đã tổ chức 143 hội nghị bàn tròn ở các cấp; 19 chính sách liên quan đến tổ hợp tác, hợp tác xã được rà soát, thúc đẩy và thực thi thuận lợi hơn.

Các vấn đề từ đất đai, rừng, vốn vay đến đường giao thông phục vụ sản xuất, cây giống, chứng nhận và liên kết tiêu thụ được đưa ra trao đổi với các bên liên quan. Từ nhu cầu của cơ sở, chương trình thúc đẩy phân công trách nhiệm và theo dõi việc thực hiện cam kết.

Tại hội thảo, các đại biểu nhấn mạnh yêu cầu tiếp tục nâng năng lực và phát huy vai trò chủ thể của người dân. Việc củng cố tổ hợp tác, hợp tác xã cần gắn với chuỗi giá trị, thị trường và lợi ích của thành viên; hoạt động đào tạo cần đi cùng thực hành và hỗ trợ giải quyết những vướng mắc trong sản xuất kinh doanh.

Dưới sự điều phối của bà Sophie Grouwels, các đại biểu trao đổi định hướng huy động nguồn lực và mở rộng quan hệ đối tác giữa nhà tài trợ, bộ, ngành, tổ chức tài chính, doanh nghiệp, đối tác kỹ thuật và các cấp Hội Nông dân.

Các ưu tiên được thảo luận gồm nâng năng lực quản trị, tiếp cận tài chính, đẩy mạnh chế biến, ứng dụng công nghệ số và truy xuất nguồn gốc. Những giải pháp như iTwood, mã số vùng trồng rừng, PGS và bản đồ số được đặt trong yêu cầu hỗ trợ người sản xuất quản lý tốt hơn và đáp ứng thị trường.

Tại Hội thảo, báo cáo tổng kết đã nêu hơn 5.000 ha rừng trồng sẵn sàng cho việc đo đạc tín chỉ carbon. Đây là nội dung cần tiếp tục hỗ trợ về kỹ thuật, năng lực tổ chức và chuẩn bị điều kiện tiếp cận tài chính khí hậu, thị trường carbon.

Trong khuôn khổ hội thảo, ông Nguyễn Xuân Định trao Kỷ niệm chương “Vì giai cấp Nông dân Việt Nam” cho bà Sophie Grouwels và các cá nhân có nhiều đóng góp. Các tập thể, cá nhân đồng hành cùng chương trình cũng được tri ân.

Sau những báo cáo tổng kết tại Hội thảo, câu chuyện của HTX Bình Minh và kinh nghiệm hỗ trợ PGS cho thấy nhiều công việc vẫn cần tiếp tục ở cơ sở. Đó là duy trì nhóm hộ liên kết, quản lý chất lượng, tổ chức chế biến, tìm đối tác và phân phối lợi ích cho thành viên. Khi những công việc ấy được thực hiện đều đặn, người dân có thêm điều kiện để nâng giá trị sản phẩm, gắn bó với rừng và phát triển trang trại bền vững.

2aobor4fkvdbui1acsyuhgza1wklfyhobz2bwfxk-1619_1791599859.webp

Mười năm FFF để lại một kinh nghiệm rõ ràng: muốn người dân gắn bó lâu dài với rừng, phải giúp họ có sinh kế tốt từ rừng. Từ những hộ trồng keo góp vốn làm xưởng đến các nhóm nông dân cùng kiểm soát chất lượng sản phẩm hữu cơ, sự hợp tác được duy trì bằng lợi ích cụ thể và niềm tin giữa các thành viên. Tiếp nối chương trình là tiếp tục vun đắp nền tảng ấy, để người làm rừng có thể sống tốt hơn bằng nghề, đủ khả năng đầu tư cho chu kỳ sản xuất dài và chủ động quyết định cách làm ăn trên mảnh đất của mình.

 

Minh -Huyền