Khánh Hòa đưa nuôi biển công nghệ cao thành động lực mới

Khánh Hòa đưa nuôi biển công nghệ cao thành động lực mới

Thứ tư, 26/8/2026, 16:20 (GMT+7)
logo Nghị quyết số 20-NQ/TW về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh đặt ra yêu cầu khai thác hiệu quả không gian biển, phát triển kinh tế biển theo hướng xanh, hiện đại và bền vững. Với những lợi thế đặc biệt về không gian, khoa học công nghệ, nguồn giống và hệ thống dịch vụ hậu cần, Khánh Hòa đang từng bước đưa nuôi biển công nghệ cao trở thành một động lực mới trong phát triển kinh tế biển.

Xung quanh những cơ hội, điểm nghẽn và định hướng phát triển lĩnh vực nuôi biển, phóng viên Tạp chí Nông nghiệp và Môi trường đã có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Duy Quang, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Khánh Hòa.

PV: Thưa ông, Nghị quyết 20 xác định biển là không gian phát triển và là một động lực tăng trưởng quan trọng của đất nước. Với Khánh Hòa, đâu là lợi thế và dư địa để phát triển nuôi biển công nghệ cao?

Ông Nguyễn Duy Quang: Khánh Hòa có nhiều lợi thế nổi bật để phát triển nuôi biển công nghệ cao. Trước hết là điều kiện tự nhiên và không gian biển. Tỉnh có đường bờ biển dài khoảng 490 km, nhiều vịnh, đầm phá, vùng biển tương đối kín gió như Vân Phong, Nha Trang, Cam Ranh, Vĩnh Hy và hơn 200 đảo, tạo điều kiện thuận lợi để phát triển đa dạng các loại hình nuôi biển.

nguyen-duy-quang_1787638741.jpg
Ông Nguyễn Duy Quang, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Khánh Hòa

Khánh Hòa cũng có hệ thống cảng biển, dịch vụ hậu cần nghề cá và khả năng kết nối khá thuận lợi. Đây là nền tảng để từng bước hình thành các vùng nuôi biển tập trung, quy mô lớn.

Đặc biệt, dư địa về không gian biển còn rất lớn. Hoạt động nuôi có thể từng bước mở rộng từ khu vực ven bờ ra vùng biển từ 3 đến 6 hải lý và xa hơn tại những khu vực có điều kiện phù hợp, không chồng lấn với các ngành kinh tế khác. Việc đưa nuôi biển ra xa bờ cũng góp phần giảm áp lực lên vùng ven bờ và tăng khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu.

Một lợi thế khác của Khánh Hòa là khoa học, công nghệ và nguồn nhân lực biển. Tỉnh tập trung nhiều cơ sở nghiên cứu, đào tạo như Trường Đại học Nha Trang, Viện Hải dương học Nha Trang, các viện nghiên cứu thủy sản. Hoạt động nghiên cứu và chuyển giao công nghệ đã tạo ra nhiều giống mới, quy trình nuôi tiên tiến.

Khánh Hòa đồng thời là một trong những trung tâm sản xuất giống thủy sản lớn của cả nước, chiếm khoảng 30% tổng sản lượng giống thủy sản, với nhiều đối tượng có giá trị kinh tế cao. Đây là điều kiện quan trọng để hình thành chuỗi sản xuất tương đối hoàn chỉnh từ nghiên cứu, sản xuất giống đến nuôi thương phẩm, chế biến và tiêu thụ.

Đặc biệt, Quyết định số 231/QĐ-TTg ngày 24/1/2025 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án thí điểm phát triển nuôi biển công nghệ cao tại Khánh Hòa đã xác định tương đối rõ định hướng, không gian, đối tượng và công nghệ phát triển nuôi biển. Đây là cơ sở để tỉnh từng bước chuyển từ mô hình nuôi nhỏ lẻ sang nuôi tập trung, ứng dụng công nghệ cao và quản lý theo không gian biển.

PV: Để nuôi biển thực sự trở thành một ngành kinh tế có giá trị cao, Khánh Hòa đang định hướng chuyển đổi phương thức sản xuất như thế nào, thưa ông?

Ông Nguyễn Duy Quang: Một trong những định hướng quan trọng là đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ và tổ chức lại sản xuất theo hướng hiện đại.

nuoi-bien-cong-nghe-cao_1787125149.jpg
Khánh Hòa đang khuyến khích chuyển từ lồng bè truyền thống sang vật liệu mới có độ bền cao

Khánh Hòa đang khuyến khích chuyển từ lồng bè truyền thống sang vật liệu mới có độ bền cao, khả năng chịu sóng gió tốt hơn; đồng thời ứng dụng hệ thống cho ăn tự động, camera giám sát, cảm biến, quan trắc môi trường, quản lý dữ liệu và truy xuất nguồn gốc.

HĐND tỉnh đã ban hành Nghị quyết số 12/2026/NQ-HĐND ngày 8/7/2026 về chính sách hỗ trợ chuyển đổi lồng bè nuôi biển bằng vật liệu truyền thống sang vật liệu mới giai đoạn 2026-2029. Trước đó, tỉnh cũng đã có chính sách hỗ trợ kinh phí mua bảo hiểm tai nạn cho người lao động làm việc trên lồng bè và phương tiện phục vụ nuôi trồng thủy sản trên biển.

Những chính sách này góp phần giảm một phần chi phí đầu tư và rủi ro cho người nuôi, tạo điều kiện chuyển đổi sang phương thức sản xuất an toàn và hiện đại hơn.

Tuy nhiên, phát triển nuôi biển không chỉ dừng ở khâu nuôi. Tỉnh đặc biệt quan tâm đến việc hình thành chuỗi giá trị, trong đó doanh nghiệp tham gia từ sản xuất giống, cung ứng vật tư, tổ chức nuôi, thu mua, bảo quản đến chế biến và tiêu thụ.

Đối với chế biến, cần hướng tới các sản phẩm có giá trị gia tăng cao, đáp ứng yêu cầu về chất lượng, an toàn thực phẩm và truy xuất nguồn gốc, thay vì chủ yếu tiêu thụ dưới dạng tươi sống hoặc nguyên liệu thô.

PV: Để hiện thực hóa định hướng phát triển kinh tế biển hiện đại, vai trò của doanh nghiệp rất quan trọng. Khánh Hòa ưu tiên thu hút những nhà đầu tư như thế nào?

Ông Nguyễn Duy Quang: Quan điểm của tỉnh là thu hút đầu tư vào nuôi biển không chỉ đặt mục tiêu về số lượng vốn, mà quan trọng hơn là chất lượng vốn, năng lực công nghệ, quản trị và khả năng tạo ra chuỗi giá trị.

long-be-tom-hum_1786336343.jpg
Bên cạnh các chính sách hỗ trợ về tín dụng, nhà đầu tư đến Khánh Hòa còn được hưởng những cơ chế ưu đãi về sử dụng khu vực biển và thuế theo quy định đối với các dự án nuôi biển tại từng khu vực

Khánh Hòa ưu tiên các nhà đầu tư có tiềm lực tài chính, kinh nghiệm trong lĩnh vực thủy sản, có công nghệ tiên tiến và thị trường tiêu thụ ổn định; đặc biệt là những doanh nghiệp có khả năng đầu tư đồng bộ từ hệ thống lồng nuôi, neo đậu, thiết bị tự động hóa, con giống, thức ăn, quản lý môi trường đến thu hoạch, bảo quản và chế biến.

Tỉnh cũng mong muốn thu hút các nguồn vốn gắn với khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo. Công nghệ đưa vào nuôi biển phải phù hợp với điều kiện tự nhiên của Khánh Hòa, đồng thời góp phần nâng cao năng suất, kiểm soát môi trường, giảm rủi ro và nâng cao khả năng truy xuất nguồn gốc sản phẩm.

Hiện nay, bên cạnh các chính sách hỗ trợ về tín dụng, nhà đầu tư còn được hưởng những cơ chế ưu đãi về sử dụng khu vực biển và thuế theo quy định đối với các dự án nuôi biển tại từng khu vực.

Khánh Hòa cũng đang đề xuất đầu tư hạ tầng vùng nuôi trồng thủy sản tập trung trên biển với tổng vốn dự kiến khoảng 500 tỷ đồng trong kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026-2030. Các hạng mục dự kiến gồm mốc ranh giới khu vực nuôi, hệ thống neo lồng bè và các công trình phụ trợ.

Việc hình thành hạ tầng dùng chung sẽ góp phần giảm chi phí đầu tư ban đầu cho doanh nghiệp, tăng mức độ an toàn và tạo điều kiện hình thành những vùng nuôi quy mô lớn.

Có thể nói, định hướng của Khánh Hòa là vốn đi cùng công nghệ, công nghệ đi cùng thị trường và đầu tư đi cùng trách nhiệm môi trường.

PV: Một trong những vấn đề doanh nghiệp quan tâm là thủ tục giao khu vực biển và hồ sơ môi trường. Địa phương sẽ tháo gỡ “điểm nghẽn” này như thế nào?

Ông Nguyễn Duy Quang: Sở Nông nghiệp và Môi trường Khánh Hòa xác định cần triển khai đồng bộ các giải pháp theo hướng rõ khu vực, rõ quy trình, rõ trách nhiệm, rõ đầu mối, đồng thời rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ nhưng vẫn bảo đảm đầy đủ các yêu cầu của pháp luật.

Trước hết, tỉnh tiếp tục rà soát, xác định và công bố các khu vực có thể bố trí nuôi trồng thủy sản, bảo đảm phù hợp với quy hoạch không gian biển quốc gia, quy hoạch tỉnh và các quy hoạch liên quan, đồng thời không chồng lấn với các yêu cầu về quốc phòng, an ninh, hàng hải, du lịch, bảo tồn và các hoạt động sử dụng biển khác.

Khi không gian phát triển được xác định rõ, doanh nghiệp sẽ chủ động hơn trong lựa chọn vị trí và xây dựng dự án.

thu-hoach-tom-hum-1_1786334499.jpg
Khánh Hòa đặt mục tiêu tạo môi trường đầu tư minh bạch, thuận lợi, giảm thời gian và chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp, đồng thời bảo đảm tài nguyên biển được quản lý chặt chẽ và sử dụng hiệu quả, bền vững

Sở cũng đã phân công đầu mối chuyên môn hướng dẫn, rà soát tổng thể hồ sơ và phối hợp xử lý những khó khăn phát sinh, nhất là đối với các dự án nuôi biển quy mô lớn, ứng dụng công nghệ cao.

Một yêu cầu quan trọng là hồ sơ về vị trí, tọa độ, diện tích, ranh giới khu vực biển phải thống nhất với hồ sơ môi trường và phương án, dự án nuôi trồng thủy sản. Việc hướng dẫn ngay từ giai đoạn đầu sẽ hạn chế tình trạng hồ sơ phải bổ sung, chỉnh sửa nhiều lần.

Đối với các dự án có tính chất phức tạp, Sở sẽ tăng cường phối hợp liên ngành ngay từ đầu để rà soát các yếu tố liên quan trước khi doanh nghiệp hoàn thiện hồ sơ.

Mục tiêu là tạo môi trường đầu tư minh bạch, thuận lợi, giảm thời gian và chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp, đồng thời bảo đảm tài nguyên biển được quản lý chặt chẽ và sử dụng hiệu quả, bền vững.

PV: Phát triển kinh tế biển theo tinh thần Nghị quyết 20 phải gắn với bảo vệ tài nguyên và môi trường. Khánh Hòa sẽ giải bài toán giữa phát triển nuôi biển, bảo tồn hệ sinh thái và giữ gìn không gian du lịch như thế nào?

Ông Nguyễn Duy Quang: Đây là vấn đề rất quan trọng đối với Khánh Hòa, bởi tỉnh vừa có tiềm năng lớn về nuôi biển, vừa có thế mạnh đặc biệt về du lịch biển, đảo.

Quan điểm của tỉnh là phát triển nuôi biển công nghiệp, công nghệ cao phải đi đôi với bảo vệ môi trường, bảo tồn hệ sinh thái biển và không làm ảnh hưởng đến không gian phát triển du lịch.

Trước hết, nuôi biển phải được quản lý theo quy hoạch và phân vùng không gian biển, xác định rõ khu vực dành cho nuôi trồng thủy sản, du lịch, bảo tồn, giao thông hàng hải và quốc phòng - an ninh. Đối với những khu vực có giá trị cao về cảnh quan, du lịch hoặc hệ sinh thái, việc bố trí hoạt động nuôi phải được xem xét thận trọng.

nuoi-tom-hum_1787125153.jpg
Mục tiêu cuối cùng của Khánh Hòa là phát triển nuôi biển theo hướng “xanh, hiện đại và bền vững”

Tỉnh cũng hướng tới chuyển từ quản lý từng cơ sở nuôi riêng lẻ sang quản lý theo vùng nuôi. Khi hình thành các vùng tập trung, các yêu cầu về mật độ, đối tượng nuôi, công nghệ, khoảng cách giữa các khu vực, hệ thống neo lồng, thu gom chất thải và bảo đảm an toàn có thể được quản lý thống nhất. Đây cũng là điều kiện để kiểm soát tốt hơn sức tải môi trường và nguy cơ dịch bệnh.

Ứng dụng công nghệ cao cũng là giải pháp quan trọng để giảm tác động đến môi trường. Cho ăn tự động, camera giám sát, cảm biến, quan trắc môi trường và quản lý dữ liệu sẽ giúp kiểm soát quá trình nuôi, sử dụng thức ăn hiệu quả hơn và hạn chế phát sinh chất thải.

Đối với mối quan hệ giữa nuôi biển và du lịch, chúng tôi xác định đây không phải là hai lĩnh vực loại trừ nhau. Trong điều kiện phù hợp, nuôi biển công nghệ cao có thể kết hợp với du lịch và trở thành một bộ phận của hệ sinh thái kinh tế biển đa ngành.

Mục tiêu cuối cùng của Khánh Hòa là phát triển nuôi biển theo hướng “xanh, hiện đại và bền vững”. Hoạt động nuôi phải nằm trong khả năng chịu tải của môi trường, không làm suy giảm hệ sinh thái, không ảnh hưởng đến cảnh quan và không gian du lịch; đồng thời bảo đảm sinh kế lâu dài cho người dân và tạo điều kiện để doanh nghiệp đầu tư ổn định.

Khánh Hòa không lựa chọn phát triển nuôi biển bằng mọi giá, mà phát triển có quy hoạch, có kiểm soát và dựa trên sức chịu tải của hệ sinh thái. Đây cũng là nền tảng để khai thác hiệu quả tiềm năng kinh tế biển, đồng thời gìn giữ tài nguyên, môi trường và lợi thế biển, đảo cho phát triển lâu dài.

PV: Xin cảm ơn ông! 

 

Trung Nhân