Từ nuôi trên biển đến kinh tế nuôi biển

Từ nuôi trên biển đến kinh tế nuôi biển

Thứ bảy, 22/8/2026, 15:12 (GMT+7)
logo Nghị quyết số 20-NQ/TW đặt ra yêu cầu mới đối với các địa phương ven biển: Không chỉ khai thác lợi thế sẵn có, mà phải biến không gian biển thành động lực tăng trưởng xanh, hiện đại và bền vững. Với Khánh Hòa, yêu cầu đó đang được cụ thể hóa bằng bước chuyển từ những lồng bè phân tán ven bờ sang nuôi biển dựa trên công nghệ, chuỗi giá trị và sức chịu tải của hệ sinh thái.

Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 28/7/2026 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIV về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh xác định biển không chỉ là không gian sinh tồn mà còn phải trở thành động lực tăng trưởng mới của đất nước. Phát triển kinh tế biển phải gắn với bảo vệ tài nguyên, môi trường, bảo tồn đa dạng sinh học và nâng cao đời sống người dân vùng ven biển, hải đảo.

Trong định hướng đó, nuôi biển được xác định là một trong những động lực mới của kinh tế biển, gắn với yêu cầu cơ cấu lại ngành thủy sản theo hướng hiện đại và bền vững.

nuoi-tom-hum_1787125153.jpg
Khánh Hòa hội đủ nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển đa dạng các loại hình nuôi biển

Với Khánh Hòa, bài toán hiện nay không chỉ là tăng diện tích hay sản lượng nuôi. Quan trọng hơn là chuyển từ nuôi biển truyền thống sang phương thức sản xuất hiện đại, có quy hoạch, có công nghệ, có thị trường và tạo ra giá trị cao hơn trên cùng một không gian biển.

Tổ chức lại không gian sản xuất trên biển

Khánh Hòa có đường bờ biển dài khoảng 490 km cùng nhiều vịnh, đầm, vùng biển tương đối kín gió như Vân Phong, Nha Trang, Cam Ranh, Vĩnh Hy và hơn 200 hòn đảo lớn nhỏ. Đây là điều kiện thuận lợi để phát triển đa dạng các loại hình nuôi biển, đồng thời tạo dư địa từng bước đưa hoạt động nuôi trồng thủy sản ven bờ ra ngoài khơi. 

Theo ông Nguyễn Duy Quang, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Khánh Hòa, lợi thế của địa phương không chỉ nằm ở điều kiện tự nhiên. Khánh Hòa còn tập trung nhiều cơ sở nghiên cứu, đào tạo về biển như Trường Đại học Nha Trang, Viện Hải dương học Nha Trang, Viện Khoa học Thủy sản Việt Nam. 

Cùng với đó, Khánh Hòa cũng là một trong những trung tâm sản xuất giống thủy sản lớn, chiếm khoảng 30% tổng sản lượng tôm giống thủy sản cả nước. 

Những lợi thế đó chính là nền tảng để tỉnh hình thành chuỗi sản xuất tương đối hoàn chỉnh, từ nghiên cứu, sản xuất con giống, nuôi thương phẩm đến chế biến và tiêu thụ.

nguyen-duy-quang_1787125787.jpg
Ông Nguyễn Duy Quang, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Khánh Hòa

Một bước chuyển quan trọng khác nằm ở cách tổ chức không gian sản xuất. Quyết định số 231/QĐ-TTg ngày 24/1/2025 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án thí điểm phát triển nuôi biển công nghệ cao tại Khánh Hòa đã xác định không gian phát triển từ bờ đến 3 hải lý và từ 3 đến 6 hải lý, tạo cơ sở để chuyển từ mô hình nhỏ lẻ sang các vùng nuôi tập trung và quản lý theo không gian biển.

Theo ông Nguyễn Duy Quang, dư địa phát triển của Khánh Hòa còn rất lớn, nhất là khả năng mở rộng ra khu vực từ 3 đến 6 hải lý và xa hơn tại những nơi có điều kiện phù hợp, không chồng lấn với các hoạt động kinh tế khác.

Việc dịch chuyển ra xa bờ vì vậy không đơn thuần là mở rộng thêm diện tích mặt nước. Đây còn là cơ hội để tổ chức lại phương thức sản xuất, giảm áp lực lên vùng ven bờ, tăng khả năng thích ứng với điều kiện thời tiết và tạo quy mô đủ lớn để ứng dụng công nghệ.

Công nghệ trong nuôi biển cũng không thể chỉ được hiểu là thay lồng gỗ bằng lồng vật liệu mới. Theo định hướng của Khánh Hòa, hệ thống nuôi biển hiện đại cần từng bước tích hợp công nghệ cho ăn tự động, camera giám sát, cảm biến, quan trắc môi trường, quản lý dữ liệu, truy xuất nguồn gốc và các giải pháp tự động hóa.

“Chiếc lồng vật liệu mới chỉ là một mắt xích. Nếu chỉ thay chiếc lồng nhưng vẫn giữ nguyên phương thức tổ chức sản xuất, hậu cần và tiêu thụ cũ thì quá trình chuyển đổi chưa đi đến bản chất. Muốn nuôi biển trở thành một ngành kinh tế có sức cạnh tranh, phải đồng thời giải quyết được công nghệ, hạ tầng, nguồn vốn, thị trường và cách quản trị cả vùng nuôi”, ông Nguyễn Duy Quang cho biết.

nuoi-bien-cong-nghe-cao_1787125149.jpg
Nhiều doanh nghiệp và người dân đang dần thay lồng gỗ bằng lồng vật liệu mới

Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Khánh Hòa cho biết thêm, tỉnh ban hành chính sách hỗ trợ chuyển đổi lồng bè từ vật liệu truyền thống sang vật liệu mới giai đoạn 2026 - 2029, cùng chính sách hỗ trợ bảo hiểm tai nạn cho người lao động làm việc trên lồng bè và phương tiện phục vụ nuôi trồng thủy sản trên biển. Các chính sách này góp phần giảm chi phí đầu tư ban đầu, giảm rủi ro và tạo nền tảng cho quá trình chuyển đổi phương thức sản xuất.

Vốn đi cùng công nghệ, công nghệ đi cùng thị trường

Phát triển nuôi biển quy mô lớn, nhất là ở khu vực xa bờ, cần nguồn lực đáng kể cho hệ thống lồng, neo, phương tiện vận chuyển, thiết bị giám sát, giống, thức ăn, bảo quản và hậu cần. Vì vậy, doanh nghiệp được xác định là lực lượng quan trọng trong quá trình tái tổ chức ngành nuôi biển.

Tuy nhiên, Khánh Hòa không đặt mục tiêu thu hút vốn bằng mọi giá. Theo ông Nguyễn Duy Quang, tỉnh ưu tiên nhà đầu tư có tiềm lực tài chính, kinh nghiệm trong lĩnh vực thủy sản, công nghệ tiên tiến và thị trường tiêu thụ ổn định; đặc biệt là dòng vốn dài hạn có khả năng đầu tư đồng bộ từ hệ thống lồng nuôi, neo đậu, thiết bị tự động hóa, con giống, thức ăn, quản lý môi trường đến thu hoạch, bảo quản và chế biến.

tom-hum-2_1787125147.jpg
Nghề nuôi tôm hùm hiện vẫn phụ thuộc nhiều vào thị trường Trung Quốc

Định hướng của Khánh Hòa là thu hút vốn đi cùng công nghệ, công nghệ đi cùng thị trường và đầu tư đi cùng trách nhiệm môi trường”, ông Nguyễn Duy Quang nhấn mạnh.

Điểm đáng chú ý là tỉnh không kỳ vọng doanh nghiệp chỉ đầu tư vào khâu nuôi. Mục tiêu xa hơn là hình thành chuỗi giá trị, trong đó doanh nghiệp tham gia từ giống, vật tư, sản xuất, thu mua đến bảo quản, chế biến và tiêu thụ. Sản phẩm cần được nâng mức độ chế biến, bảo đảm chất lượng, an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc và đáp ứng các yêu cầu của thị trường xuất khẩu.

Đi cùng yêu cầu đó là các cơ chế hỗ trợ đầu tư. Theo các chính sách đặc thù đang áp dụng tại Khánh Hòa, dự án nuôi biển của nhà đầu tư trong nước tại một số khu vực từ 3 hải lý trở ra được hưởng chính sách miễn tiền sử dụng khu vực biển và ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp theo từng phạm vi đầu tư.

Khánh Hòa cũng đang đề xuất đầu tư khoảng 500 tỷ đồng trong kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026 - 2030 để xây dựng hạ tầng vùng nuôi trồng thủy sản tập trung trên biển, gồm mốc ranh giới, hệ thống neo lồng bè và các hạng mục phụ trợ.

Hạ tầng dùng chung nếu được đầu tư đồng bộ sẽ giúp giảm một phần chi phí đầu vào, nâng mức độ an toàn và tạo điều kiện hình thành các vùng sản xuất quy mô lớn. Song song với vốn và hạ tầng là yêu cầu tháo gỡ điểm nghẽn về thủ tục giao khu vực biển và hồ sơ môi trường.

nuoi-tom-hum-khanh-hoa_1787125150.jpg
Định hướng của Khánh Hòa là thu hút vốn đi cùng công nghệ, công nghệ đi cùng thị trường và đầu tư đi cùng trách nhiệm môi trường

Sở Nông nghiệp và Môi trường Khánh Hòa xác định hướng xử lý theo nguyên tắc rõ khu vực, rõ quy trình, rõ trách nhiệm, rõ đầu mối; hướng dẫn doanh nghiệp từ giai đoạn đầu về vị trí, quy mô, phương án nuôi, yêu cầu môi trường và hồ sơ giao khu vực biển, qua đó hạn chế việc phải bổ sung, chỉnh sửa hồ sơ nhiều lần.

Các hồ sơ về vị trí, tọa độ, diện tích và ranh giới khu vực biển cũng được yêu cầu chuẩn hóa, thống nhất với hồ sơ môi trường và phương án sản xuất. Với những dự án liên quan đến quốc phòng, an ninh, hàng hải, du lịch hoặc bảo tồn, việc phối hợp liên ngành được đặt ra ngay từ giai đoạn chuẩn bị.

Theo ông Nguyễn Duy Quang, “mở khóa” không gian biển không phải là nới lỏng yêu cầu quản lý. Điều quan trọng là làm cho quy hoạch và thủ tục đủ rõ để doanh nghiệp biết nơi nào có thể đầu tư, những điều kiện nào phải đáp ứng và trách nhiệm môi trường đến đâu. Khi không gian đầu tư minh bạch hơn, doanh nghiệp có thể chủ động hơn, còn Nhà nước cũng có cơ sở quản lý tài nguyên biển chặt chẽ hơn.

Tăng trưởng trong sức chịu tải của biển

Khánh Hòa vừa có tiềm năng lớn về nuôi trồng thủy sản, vừa là địa phương có thế mạnh đặc biệt về du lịch biển, đảo. Vì vậy, phát triển nuôi biển không thể tách khỏi yêu cầu bảo vệ cảnh quan, hệ sinh thái và các không gian kinh tế khác.

Quan điểm của tỉnh là quản lý nuôi biển theo quy hoạch và phân vùng rõ giữa nuôi trồng thủy sản, du lịch, bảo tồn, giao thông hàng hải và quốc phòng - an ninh. Đối với những khu vực có giá trị cao về cảnh quan, du lịch hoặc đa dạng sinh học, việc bố trí hoạt động nuôi phải được xem xét thận trọng.

nuoi-bien-cong-nghe-cao-1_1787125149.jpg
Muốn nuôi biển trở thành một ngành kinh tế có sức cạnh tranh, phải đồng thời giải quyết được công nghệ, hạ tầng, nguồn vốn, thị trường và cách quản trị cả vùng nuôi

Một thay đổi quan trọng khác là hướng tới quản lý vùng nuôi thay vì chỉ quản lý từng cơ sở riêng lẻ.

Khi hình thành các vùng nuôi tập trung, những yêu cầu về mật độ, đối tượng nuôi, khoảng cách giữa các khu vực, hệ thống neo, thu gom chất thải và phòng chống dịch bệnh có thể được quản lý thống nhất. Đây cũng là cơ sở để kiểm soát sức tải môi trường tốt hơn và giảm nguy cơ dịch bệnh lây lan.

Theo ông Nguyễn Duy Quang, nuôi biển và du lịch không nhất thiết là hai lĩnh vực loại trừ nhau. Khi được quy hoạch, tổ chức và kiểm soát tốt, nuôi biển công nghệ cao có thể trở thành một bộ phận của hệ sinh thái kinh tế biển đa ngành, kể cả các mô hình kết hợp với du lịch.

Mục tiêu cuối cùng của Khánh Hòa là phát triển nuôi biển theo hướng “xanh, hiện đại và bền vững”: hoạt động sản xuất phải nằm trong khả năng chịu tải của môi trường, không làm suy giảm hệ sinh thái, không ảnh hưởng đến cảnh quan và không gian du lịch. Đồng thời bảo đảm sinh kế lâu dài cho người dân và tạo điều kiện để doanh nghiệp đầu tư ổn định.

Đây cũng là điểm gặp giữa thực tiễn Khánh Hòa với tinh thần Nghị quyết số 20-NQ/TW.

Nếu trước đây giá trị của nghề nuôi biển thường được nhìn qua số lồng, diện tích mặt nước hay sản lượng thu hoạch, thì trong một nền kinh tế biển hiện đại, thước đo cần rộng hơn: năng suất, hàm lượng công nghệ, mức độ chế biến, khả năng truy xuất nguồn gốc, thị trường tiêu thụ và cả chất lượng của môi trường biển sau quá trình phát triển.

Chuyển từ “nuôi trên biển” sang “kinh tế nuôi biển” vì thế không chỉ là câu chuyện thay đổi công nghệ. Đó là quá trình tổ chức lại không gian sản xuất, dòng vốn, chuỗi giá trị và phương thức quản trị biển - bước chuyển cần thiết để nguồn lực từ biển thực sự trở thành động lực tăng trưởng mới, đồng thời giữ lại những giá trị lâu dài của biển cho tương lai.

 

Trung Nhân