news
Bài 1: Khánh Hòa trước mùa hạn mới: Khi an ninh nguồn nước phải đi trước một vụ mùa
Khánh Hòa chuyển từ chống hạn sang quản trị an ninh nguồn nước

Bài 1: Khánh Hòa trước mùa hạn mới: Khi an ninh nguồn nước phải đi trước một vụ mùa

Thứ ba, 2/6/2026, 06:50 (GMT+7)
logo Từ những thửa ruộng gần hồ Thành Sơn vẫn phải chờ nước, đến vùng ven hồ Ông Kinh từng khô hạn nay chủ động hơn nhờ dòng nước liên thông từ hệ thống Tân Mỹ, thực tế cho thấy chống hạn không thể chỉ là giải pháp tình thế. Loạt bài ghi nhận quá trình Khánh Hòa chuyển từ ứng phó hạn hán từng mùa sang quản trị an ninh nguồn nước, gắn với kiểm kê nguồn nước, phân vùng rủi ro, tổ chức lại mùa vụ, liên thông thủy lợi và bảo đảm sinh kế bền vững cho người dân.

LTS: Trong bối cảnh biến đổi khí hậu làm hạn hán, thiếu nước và xâm nhập mặn diễn biến khó lường hơn, Khánh Hòa đang đứng trước yêu cầu phải thay đổi cách điều hành sản xuất nông nghiệp. Vụ hè thu 2026 không chỉ đặt ra câu hỏi gieo trồng bao nhiêu diện tích, mà quan trọng hơn là nguồn nước bảo đảm đến đâu, vùng nào được sản xuất, vùng nào phải giảm lúa, chuyển cây trồng hoặc tạm dừng để tránh thiệt hại.

Có những mùa hạn không bắt đầu từ những lòng hồ cạn trơ đáy, mà bắt đầu từ một quyết định rất sớm trên đồng ruộng: từ quyết định nơi nào được xuống giống, nơi nào phải giảm diện tích, nơi nào buộc chuyển cây trồng hoặc dừng sản xuất để giữ nước cho dân sinh. Vụ hè thu 2026, khi hiện tượng ENSO được dự báo chuyển dần sang trạng thái El Nino, nhiệt độ tăng, lượng mưa thấp hơn trung bình nhiều năm, Khánh Hòa không chỉ đối mặt với nguy cơ nắng nóng gay gắt và thiếu nước kèo dài. Thách thức lớn hơn là cách tỉnh chuyển từ tư duy “chống hạn từng vụ” sang quản trị an ninh nguồn nước cho cả nền nông nghiệp trong điều kiện khí hậu ngày càng cực đoan.

Mùa hạn bắt đầu từ những con số cảnh báo

Những ngày đầu vụ hè thu, áp lực nguồn nước tại Khánh Hòa không còn là dự báo xa mà đã hiện hữu rõ rệt. Theo dự báo của ngành khí tượng thủy văn, từ giữa năm 2026, ENSO có xu hướng chuyển sang trạng thái El Nino; nhiệt độ trung bình có thể cao hơn từ 0,5–1,5°C so với trung bình nhiều năm, trong khi lượng mưa có xu thế giảm và mùa mưa có khả năng đến muộn, vào khoảng cuối tháng 9.  Trong các tháng 5–7/2026, nắng nóng được dự báo gia tăng cả về cường độ lẫn phạm vi, khiến nhu cầu sử dụng nước tăng mạnh, trong khi nguồn bổ sung cho các hồ chứa ngày càng hạn chế.

khanh-hoa-chuyen-tu-chong-han-sang-quan-tri-an-ninh-nguon-nuoc-15_1780126996.jpg
Tính đến giữa tháng 5/2026, dung tích các hồ chứa thủy lợi trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa đạt gần 50% dung tích thiết kế

Tính đến giữa tháng 5/2026, dung tích các hồ chứa thủy lợi trên địa bàn tỉnh đạt gần 50% dung tích thiết kế. Nếu tính đến hết tháng 4, dung tích trữ của các hồ chứa thủy lợi, không bao gồm hồ Sông Than, đạt 352,19 triệu m³, tương đương 52,8% thiết kế. Đây là mức cơ bản đáp ứng nhu cầu trước mắt, nhưng chưa đủ để chủ quan nếu nắng nóng kéo dài và không xuất hiện các đợt mưa bổ sung đáng kể.

Ông Nguyễn Duy Quang – Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Khánh Hòa (Sở NN&MT) cho biết, trên cơ sở đánh giá nguồn nước và nguy cơ hạn hán, vụ hè thu 2026 được xây dựng với kế hoạch sản xuất khoảng 39.500 ha. Trong đó, khu vực phía Bắc tỉnh khoảng 14.219 ha, chủ yếu là lúa; khu vực phía Nam khoảng 25.286 ha, gồm lúa, rau màu, cây công nghiệp, cây ăn quả, dược liệu và nuôi trồng thủy sản. Tuy nhiên, sau rà soát nguồn nước thực tế, toàn tỉnh dự kiến có khoảng 1.400 ha diện tích sản xuất phải dừng cấp nước để ưu tiên phục vụ nước sinh hoạt và chăn nuôi.

Con số 1.400 ha không đơn thuần chỉ là diện tích bị cắt giảm. Đó là dấu hiệu cho thấy một thay đổi quan trọng trong tư duy điều hành sản xuất nông nghiệp: không chờ người dân gieo sạ rồi mới chống hạn, mà phải xác định ngay từ đầu vụ diện tích nào đủ nước để sản xuất, diện tích nào cần chuyển đổi hoặc tạm dừng nhằm tránh thiệt hại.

Ở khu vực phía Bắc, hơn 840 ha dự kiến phải tạm dừng hoặc không sản xuất do phụ thuộc vào các hồ chứa nhỏ, đập dâng như Suối Trầu, Am Chúa, Láng Nhớt, Đồng Tròn, Hàm Rồng. Ở khu vực phía Nam có trên 540 ha tại một số vùng phụ thuộc hồ Phước Trung, Phước Nhơn, Bà Râu và hệ thống thủy lợi Nha Trinh phải cắt giảm hoặc dừng cấp nước do nguồn nước không bảo đảm hoặc công trình đã xuống cấp.

khanh-hoa-chuyen-tu-chong-han-sang-quan-tri-an-ninh-nguon-nuoc-27_1780126978.jpg
Vụ hè thu đã bắt đầu khoảng nửa tháng nhưng nhiều khu vực nguy cơ thiếu nước nên được khuyến cáo không xuống giống để tránh thiệt hại

Rủi ro hạn hán cũng không chỉ dừng ở cây lúa. Các khu vực ven sông, hạ du và ven biển đang đối diện nguy cơ xâm nhập mặn khi lưu lượng nước ngọt suy giảm kết hợp với triều cường. Một số vùng sử dụng nguồn nước từ các sông, suối nhỏ như Suối Lạnh, Ô Căm, Lồ Ồ, Kiền Kiền có khả năng thiếu nước sinh hoạt cục bộ nếu hạn kéo dài. Nguồn nước ngầm ven biển cũng đứng trước nguy cơ suy giảm và nhiễm mặn.

Trong bức tranh đó, lúa hè thu là đối tượng dễ bị tổn thương nhất do nhu cầu sử dụng nước lớn. Các vùng cuối kênh, vùng gò cao, vùng tưới bằng trạm bơm hoặc phụ thuộc hồ chứa nhỏ trở thành những điểm nóng cần được theo dõi chặt chẽ. Vụ hè thu 2026 vì vậy không chỉ là câu chuyện “hồ còn bao nhiêu nước”, mà là bài kiểm tra năng lực quản trị nguồn nước đến từng vùng sản xuất.

Không thể chống hạn bằng tư duy cũ

Điểm mới trong chỉ đạo của ngành nông nghiệp Khánh Hòa là cách tiếp cận không còn dừng ở “chống hạn khi hạn xảy ra”. Theo ông Nguyễn Duy Quang, nếu chỉ tập trung ứng phó khi hạn đã xảy ra thì luôn trong thế bị động, chi phí lớn và hiệu quả không bền vững. Vì vậy, chuyển sang quản trị an ninh nguồn nước từ sớm, từ xa là yêu cầu tất yếu để ngành nông nghiệp chủ động thích ứng và giảm thiểu rủi ro.

khanh-hoa-chuyen-tu-chong-han-sang-quan-tri-an-ninh-nguon-nuoc-1_1780127005.jpg
Khánh Hòa chuyển sang quản trị an ninh nguồn nước từ sớm, từ xa để ngành nông nghiệp chủ động thích ứng và giảm thiểu rủi ro

Tư duy cách tiếp cận này đặc biệt cần thiết với Khánh Hòa sau sáp nhập, khi không gian khí hậu và đặc điểm nguồn nước có sự khác biệt rõ rệt giữa phía Bắc và phía Nam. Phía Bắc có nhiều vùng phụ thuộc hồ nhỏ, đập dâng, cuối kênh. Thì phía Nam, khu vực Ninh Thuận cũ - là khu vực khô hạn đặc thù, với lượng mưa thấp, mùa mưa ngắn, thường xuyên chịu tác động mạnh của hạn hán. Một chính sách mùa vụ chung nếu không dựa trên phân vùng nguồn nước sẽ khó đi vào thực tế.

Từ kinh nghiệm thực tiễn vận hành thủy lợi tại khu vực phía Nam tỉnh, ông Nguyễn Công Xưng - Chủ tịch HĐQT Công ty TNHH MTV Khai thác công trình Thủy lợi Ninh Thuận cho rằng, việc điều hành nguồn nước hiện nay không thể chủ yếu dựa vào kinh nghiệm, mà phải dựa trên dữ liệu nguồn nước, dự báo khí tượng thủy văn và các kịch bản vận hành từ sớm. Công tác chống hạn hiệu quả phải bắt đầu từ kiểm kê nguồn nước, đánh giá khả năng cấp nước, xây dựng kế hoạch sản xuất phù hợp và điều hành linh hoạt theo từng thời điểm.

“Thực tế cũng cho thấy những nơi được đầu tư liên thông, điều tiết nguồn nước tốt có khả năng chống chịu khác hẳn. Hệ thống thủy lợi Tân Mỹ và hồ chứa nước Sông Cái khi bổ sung nguồn cho hệ thống Nha Trinh – Lâm Cấm đã góp phần duy trì ổn định nguồn nước phục vụ khoảng 12.800 ha sản xuất nông nghiệp trong nhiều thời điểm khó khăn. Các giải pháp nhỏ hơn như chuyển nước từ hồ Tân Giang hỗ trợ hồ Sông Biêu, CK7, Suối Lớn; hồ Thành Sơn hỗ trợ khu tưới kênh Bắc; hay kênh Nam hệ thống Nha Trinh hỗ trợ đập Tuấn Tú cũng giúp nhiều vùng cuối kênh, vùng khô hạn chủ động hơn”, ông Nguyễn Công Xưng nhận định.

khanh-hoa-chuyen-tu-chong-han-sang-quan-tri-an-ninh-nguon-nuoc-13_1780126997.jpg
Hệ thống kênh mương thủy lợi đã giúp bà con nông dân vùng khô hạn chủ động hơn trong trồng trọt, chăn nuôi

Tuy nhiên, không phải nơi nào cũng có điều kiện nguồn nước giống nhau. Chính sự khác biệt giữa vùng đủ nước và vùng buộc phải dừng sản xuất đặt ra yêu cầu quản trị mới: sản xuất không thể chạy theo chỉ tiêu diện tích, mà phải bám sát khả năng nguồn nước thực tế. Nơi chắc nước thì sản xuất tập trung, đúng lịch thời vụ; nơi nguy cơ thiếu nước phải giảm diện tích lúa, chuyển đổi cây trồng; còn nơi không bảo đảm cấp nước cả vụ thì phải dừng sản xuất để tránh thiệt hại cho người dân.

Đó cũng là thông điệp lớn hơn của vụ hè thu 2026. Khánh Hòa đang đối mặt không chỉ với một mùa hạn, mà với yêu cầu tái cấu trúc tư duy quản trị nước cho nông nghiệp: từ giữ cây lúa bằng mọi giá sang sản xuất theo khả năng nguồn nước; từ vận hành từng công trình riêng lẻ sang liên thông hệ thống; từ chống hạn mùa khô sang bảo đảm an ninh nguồn nước cho cả giai đoạn 5 –10 năm tới.

Trong bối cảnh khí hậu ngày càng cực đoan, an ninh nguồn nước không còn đơn thuần là câu chuyện kỹ thuật của ngành thủy lợi. Đó là nền tảng để bảo đảm dân sinh, ổn định sản xuất và định hình lại sinh kế nông thôn Khánh Hòa theo hướng bền vững hơn.

Bài 2: Ruộng sát hồ vẫn chờ nước: Bài toán khi “chắc nước mới sản xuất” trở thành nguyên tắc sống còn ở Khánh Hòa

Trung Nhân