Nghề nuôi chim yến phát triển nhanh, tạo nguồn nguyên liệu cho chế biến nhưng cũng đặt ra nhiều vấn đề về quy hoạch, tiếng ồn, môi trường và dịch bệnh. Với Khánh Hòa, bài toán càng phức tạp khi yến nhà cùng chia sẻ nguồn thức ăn và không gian hoạt động với quần thể yến đảo thiên nhiên.
Theo Cục Chăn nuôi và Thú y, cả nước hiện có 23/34 tỉnh, thành phố có nhà nuôi chim yến. Số nhà yến tăng từ 22.363 nhà năm 2021 lên 28.913 nhà năm 2024 và 29.797 nhà năm 2026, tăng 546 nhà so với năm 2025. An Giang có số lượng nhà yến cao nhất với 4.750 nhà, tiếp đến là Gia Lai với 2.860 nhà và Đồng Nai với 2.776 nhà. Sản lượng tổ yến năm 2025 ước đạt 275 tấn.
Sự gia tăng nhanh cho thấy sức hấp dẫn của nghề yến, nhưng cũng bộc lộ khoảng cách giữa tốc độ đầu tư và năng lực quản lý. Nhiều nhà yến được cải tạo từ nhà ở, nằm xen trong khu dân cư, chưa được đánh giá đầy đủ về điều kiện sinh thái, nguồn thức ăn và an toàn sinh học.
Theo TS. Nguyễn Mạnh Hà, Giám đốc Trung tâm Bảo tồn Thiên nhiên và Phát triển, hơn 90% nhà yến trên cả nước nằm xen trong khu dân cư, nhiều cơ sở được chuyển đổi từ nhà ở hoặc công trình không dành cho chăn nuôi. Hệ quả là tiếng ồn từ loa dẫn dụ, phân và lông chim, nguy cơ dịch bệnh và xung đột với cộng đồng. Có hộ đầu tư 5-6 tỷ đồng xây dựng nhà yến nhưng không dẫn dụ được chim, phản ánh rủi ro của việc lựa chọn địa điểm thiếu cơ sở khoa học.
Tại tỉnh Khánh Hòa mới, ThS. Nguyễn Hoài Bảo, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh, dẫn số liệu toàn tỉnh có khoảng 1.425 nhà yến, gồm 831 nhà tại khu vực Khánh Hòa cũ và 594 nhà tại khu vực Ninh Thuận cũ. Trong số này, 907 nhà nằm trong khu vực không được phép chăn nuôi.
Khánh Hòa đồng thời quản lý 33 đảo với 173 hang yến thiên nhiên. Vì vậy, việc gia tăng số lượng và sản lượng yến nhà phải được theo dõi tách bạch với biến động của đàn yến đảo, tránh để chỉ số sản lượng chung che khuất rủi ro sinh thái.
Khung pháp lý về quản lý nghề nuôi yến đã được hình thành. Theo ông Dương Tất Thắng, Cục trưởng Cục Chăn nuôi và Thú y, vùng nuôi chim yến do UBND cấp tỉnh trình HĐND cùng cấp quyết định, phải phù hợp với tập tính của chim, điều kiện kinh tế - xã hội và không ảnh hưởng đến đời sống cư dân.
Cơ sở nuôi phải có biện pháp bảo vệ môi trường, nguồn nước bảo đảm chất lượng và hồ sơ ghi chép để truy xuất nguồn gốc. Âm thanh dẫn dụ đo tại miệng loa không được vượt quá 70 dBA; thời gian phát loa từ 5 giờ đến 11 giờ 30 và từ 13 giờ 30 đến 19 giờ mỗi ngày. Nhà yến đã hoạt động nhưng không đáp ứng yêu cầu về vùng nuôi phải giữ nguyên trạng, không được cơi nới; nhà yến trong khu dân cư hoặc cách khu dân cư dưới 300 m không được sử dụng loa phóng.
Theo ông Dương Tất Thắng, công tác khảo sát quy hoạch ngành nghề nuôi chim yến tại các địa phương phải được tiến hành do UBND tỉnh chỉ đạo các ngành thực hiện đồng bộ vì lợi ích chung của địa phương và cộng đồng xã hội.
Từ yêu cầu này, địa phương cần rà soát, phân loại cơ sở hiện có: nhóm phù hợp vùng nuôi; nhóm phải khắc phục về tiếng ồn, môi trường và hồ sơ; nhóm thuộc khu vực không được phép chăn nuôi phải giữ nguyên trạng và được quản lý theo quy định.
Trong khi đó, TS. Nguyễn Mạnh Hà đề xuất đưa “sức tải sinh thái” thành công cụ bắt buộc trong quy hoạch nghề yến. Chim yến sử dụng hoàn toàn nguồn côn trùng bay tự nhiên. Nguồn thức ăn này có giới hạn và biến động theo mùa, lượng mưa, diện tích mặt nước, thảm thực vật, phương thức canh tác và mức độ sử dụng thuốc bảo vệ thực vật. Khi số nhà yến tăng nhanh trong khi đồng ruộng, đất ngập nước, rừng ngập mặn và thảm thực vật ven biển bị thu hẹp, tổng đàn chim có thể vượt khả năng cung cấp thức ăn của môi trường.
TS. Nguyễn Mạnh Hà nêu rõ: “Số lượng nhà yến trong một vùng không thể vượt quá ngưỡng mà sinh cảnh tự nhiên có thể cung cấp thức ăn đủ cho toàn bộ đàn chim”. Đây là giới hạn cần được lượng hóa khi xem xét phát triển nhà yến mới.
Kinh nghiệm quốc tế cho thấy Thái Lan yêu cầu đánh giá sinh cảnh, mật độ côn trùng trong bán kính 20 km và tác động tiếng ồn đến cộng đồng trước khi cấp phép. Ngược lại, tại một số khu vực của Malaysia, phát triển nhà yến ồ ạt trong khi nguồn thức ăn và sinh cảnh suy giảm đã dẫn đến giảm đàn và sản lượng.
Với Khánh Hòa, sức tải sinh thái còn phải tính đến sự tương tác giữa yến nhà và yến đảo. Chim yến đảo có thể kiếm ăn trong phạm vi 20-30 km và chia sẻ nguồn côn trùng với các nhà yến ven biển. Khi tổng tải lượng chim vượt khả năng cung cấp thức ăn của sinh cảnh, đàn yến đảo thiên nhiên có nguy cơ chịu tác động.
Quy hoạch vì vậy cần phân chia rõ vùng cấm, vùng hạn chế và vùng phát triển; đồng thời bổ sung vùng đặc biệt bảo vệ sinh cảnh yến đảo. Mật độ nhà yến trong từng vùng phải được xác định trên cơ sở chất lượng sinh cảnh, nguồn côn trùng, hiện trạng đàn chim, khoảng cách đến khu dân cư và khả năng kiểm soát môi trường.
Để quy hoạch vận hành, cơ sở dữ liệu nhà yến phải được hoàn thiện. Mỗi cơ sở cần được thống kê, cấp mã định danh, ghi nhận vị trí, quy mô, sản lượng, tình trạng pháp lý và việc tham gia chuỗi liên kết. Dữ liệu nhà yến phải kết nối với thông tin về vùng kiếm ăn, sinh cảnh, dịch bệnh và truy xuất nguồn gốc.
Ông Dương Tất Thắng đề xuất xây dựng và vận hành hệ thống quốc gia về cơ sở dữ liệu chăn nuôi, thú y, trong đó có đầy đủ thông tin về nhà yến. Ông Đỗ Văn Hoan, Phó Trưởng phòng Giống vật nuôi, Cục Chăn nuôi và Thú y, cũng đề nghị hỗ trợ thủ tục pháp lý, giám sát nhà yến theo quy hoạch, thúc đẩy liên kết chuỗi, truy xuất nguồn gốc và nghiên cứu phòng, chống dịch bệnh.
Quản lý nhà yến không thể chỉ dừng ở kiểm soát tiếng ồn hoặc xử lý công trình vi phạm. Một mô hình bền vững phải đồng thời phù hợp quy hoạch, không vượt sức tải sinh thái, bảo đảm an toàn sinh học và có khả năng truy xuất nguồn gốc.
Đối với Khánh Hòa, mục tiêu không phải tăng số nhà yến bằng mọi giá, mà là nâng chất lượng quản lý các cơ sở hiện có. Để thực hiện điều đó, quy hoạch cần được hỗ trợ bởi dữ liệu và công nghệ - nội dung của bài tiếp theo.