Camera trí tuệ nhân tạo, cảm biến vi khí hậu, giám sát âm thanh và bản đồ vùng kiếm ăn đang mở ra khả năng quản lý quần thể chim yến bằng dữ liệu. Tuy nhiên, công nghệ chỉ có ý nghĩa khi giúp cảnh báo sớm rủi ro, hỗ trợ quyết định bảo tồn và kết nối được thông tin từ nơi khai thác đến khâu truy xuất nguồn gốc.
Thông tin về đảo yến, hang yến, nhà yến, vùng kiếm ăn, sản lượng và điều kiện sinh sản hiện còn phân tán. Việc theo dõi quần thể yến đảo tại nhiều khu vực vẫn dựa nhiều vào quan sát trực tiếp và kinh nghiệm của người làm nghề, khiến biến động bất thường khó được nhận diện từ sớm.
ThS. Nguyễn Hoài Bảo, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh, cho rằng ứng dụng khoa học công nghệ và chuyển đổi số cần được tiếp cận “như một chương trình quản trị tài nguyên sinh học trong thời đại dữ liệu, không chỉ là một hoạt động lắp đặt thiết bị hay xây dựng phần mềm”.
Bước đầu tiên là xây dựng cơ sở dữ liệu thống nhất, ghi nhận vị trí đảo, hang và nhà yến; vùng kiếm ăn; khu vực có nguy cơ săn bắt; vùng không được phép chăn nuôi; sản lượng, tình trạng pháp lý và mã định danh của từng cơ sở. Dữ liệu phải tách bạch giữa yến đảo với yến nhà, giữa sản lượng khai thác, nguyên liệu chế biến và sản phẩm cuối cùng.
Tại các hang yến, camera hồng ngoại, ảnh nhiệt hoặc thiết bị hoạt động trong điều kiện ánh sáng yếu có thể hỗ trợ đếm lượng chim ra vào, theo dõi biến động của đàn và phát hiện xâm nhập. Dữ liệu cần được so sánh theo mùa, từng hang và chu kỳ sinh sản, thay vì chỉ dùng để quan sát khi sự việc đã xảy ra.
Giám sát âm thanh thụ động là giải pháp ít xâm lấn, phù hợp với môi trường hang tối. Thiết bị có thể ghi nhận tiếng chim, tiếng người, tiếng máy, thuyền hoặc âm thanh dẫn dụ bất thường. Cảm biến vi khí hậu giúp theo dõi nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng và rung động; các chỉ số này cần được đối chiếu với số tổ, tỷ lệ trứng nở và số chim non rời tổ.
TS. Nguyễn Mạnh Hà, Giám đốc Trung tâm Bảo tồn thiên nhiên và Phát triển, đề xuất lắp đặt hệ thống giám sát thông minh bằng camera AI và cảm biến âm thanh tại các đảo yến, đồng thời theo dõi quần thể định kỳ và thiết lập cảnh báo khi mật độ đàn giảm dưới ngưỡng an toàn. Theo ông, khi sinh cảnh hoặc quần thể tự nhiên đã mất, khả năng phục hồi rất khó khăn; công nghệ phải được sử dụng để phòng ngừa, thay vì chỉ ghi nhận thiệt hại sau khi xảy ra.
Thiết bị triển khai ngoài đảo phải chịu được độ ẩm cao, hơi muối, gió mạnh và thời tiết khắc nghiệt; đồng thời không phát ra ánh sáng hoặc tiếng động làm thay đổi tập tính của chim. Vì vậy, các giải pháp cần được thí điểm tại một số hang đại diện, đánh giá sai số và tác động sinh thái trước khi nhân rộng.
Hệ thống bản đồ thông tin địa lý có thể tích hợp vị trí đảo, hang, nhà yến, nguồn nước, thảm thực vật, khu dân cư, đường bay, vùng kiếm ăn và các điểm từng xảy ra săn bắt. Trên cơ sở đó, cơ quan quản lý xác định điểm nóng vi phạm, khu vực cần tăng cường tuần tra, sinh cảnh phải ưu tiên bảo vệ và vùng cần hạn chế phát triển nhà yến.
Theo ThS. Nguyễn Hoài Bảo, dữ liệu từ camera, âm thanh, cảm biến và bản đồ cần được tích hợp trên một hệ thống điều hành chung, hỗ trợ xác định hang cần bảo vệ, khu vực có nguy cơ săn bắt, thời điểm cần hạn chế khai thác và vùng nhà yến phải rà soát.
Khoa học công nghệ không chỉ phục vụ giám sát mà còn được sử dụng để hỗ trợ phục hồi quần thể. Tại Cù Lao Chàm, TS. Võ Tấn Phong, Trưởng phòng Nghiên cứu phát triển, Ban Quản lý và Khai thác yến Cù Lao Chàm, Hội An và nhóm nghiên cứu đã lựa chọn 450 chim yến non từ quá trình ấp nhân tạo để thử nghiệm chăm sóc, tập bay và theo dõi sau khi thả về tự nhiên.
Kết quả cho thấy tỷ lệ sống ở các giai đoạn nuôi đều trên 95%; riêng giai đoạn tập bay đạt 97,49%. Qua giám sát bước đầu, 12% số chim được đánh dấu quay lại các hang đảo vào ban đêm. Kết quả cho thấy khả năng bổ sung cá thể cho đàn, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục nghiên cứu về vùng di chuyển, khả năng thích nghi và phương pháp theo dõi dài hạn sau tái thả.
Đối với Khánh Hòa, TS. Lê Hữu Hoàng, nguyên Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Khánh Hòa, cho biết các nghiên cứu đã tạo cơ sở khoa học cho việc kết hợp giữa bảo vệ, nhân đàn, di đàn, phát triển hang đảo mới và khai thác hợp lý. Quan điểm xuyên suốt là “khai thác đi đôi với bảo tồn”, trong đó khoa học công nghệ phải góp phần duy trì ổn định quần thể.
Dữ liệu bảo tồn cũng cần được kết nối với quá trình thu hoạch, sơ chế và lưu thông. Đối với yến nhà, mã định danh cơ sở cần gắn với vị trí, vùng nuôi, tình trạng pháp lý, thời điểm thu hoạch và nơi tiếp nhận nguyên liệu. Đối với yến đảo, thông tin phải thể hiện rõ đảo, hang khai thác, ngày thu hoạch và đơn vị thực hiện.
TS. Nguyễn Mạnh Hà đề xuất xây dựng hệ thống truy xuất điện tử bắt buộc. Với yến đảo, mỗi lô hàng cần gắn với mã định danh hang tổ, ngày khai thác và thông tin đội khai thác; với yến nhà, hệ thống ghi nhận mã cơ sở, tọa độ, ngày thu hoạch và nơi tiếp nhận nguyên liệu. Dữ liệu có thể được mã hóa thành mã QR; công nghệ blockchain chỉ nên được nghiên cứu cho những chuỗi cần mức xác thực cao.
Truy xuất nguồn gốc không chỉ phục vụ lưu thông hàng hóa. Hệ thống còn giúp chứng minh tổ yến được khai thác hợp pháp, đúng thời điểm và có kiểm soát chất lượng. Để triển khai, cần xác định rõ đơn vị cập nhật dữ liệu, quy trình kiểm tra và cơ chế chia sẻ giữa cơ quan quản lý, đơn vị khai thác, nhà khoa học và lực lượng bảo vệ.
Chuyển đổi số không thay thế kinh nghiệm của người làm nghề, mà giúp chuyển kinh nghiệm thành thông tin có thể lưu giữ, so sánh và kiểm chứng. Khi dữ liệu từ nơi khai thác được nối tới khâu lưu thông, công nghệ cũng trở thành công cụ quan trọng để nhận diện hàng giả và bảo vệ người tiêu dùng - nội dung của bài cuối loạt bài.