Từ bao bì, biển hiệu đến website, mạng xã hội và sàn thương mại điện tử, hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ đối với nhãn hiệu “Yến sào Khánh Hòa” ngày càng đa dạng. Chống hàng giả vì vậy không chỉ là bảo vệ quyền của chủ sở hữu nhãn hiệu, mà còn liên quan trực tiếp đến quyền lợi người tiêu dùng, trật tự thị trường và uy tín của sản phẩm yến sào Việt Nam.
Nhãn hiệu “Yến sào Khánh Hòa” được hình thành trên nền tảng nghề khai thác yến đảo có lịch sử gần 700 năm, nguồn tài nguyên chim yến thiên nhiên và quá trình xây dựng hệ thống quản lý, chế biến, kiểm soát chất lượng.
Từ các văn bản chấp thuận sử dụng địa danh Khánh Hòa vào năm 1993 và 2003, hệ thống nhãn hiệu tiếp tục được đăng ký, mở rộng phạm vi bảo hộ qua nhiều giai đoạn. Ngày 24/4/2025, Cục Sở hữu trí tuệ cấp Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu số 541401, bảo hộ độc lập dấu hiệu “Yến sào Khánh Hòa” đối với nhiều nhóm hàng hóa và dịch vụ. Đây là căn cứ pháp lý để giám sát, phản đối đơn đăng ký và yêu cầu xử lý các hành vi sử dụng trái phép hoặc tương tự gây nhầm lẫn.
Tuy nhiên, văn bằng bảo hộ mới chỉ là điều kiện ban đầu. Khi hoạt động kinh doanh dịch chuyển mạnh lên môi trường số, hành vi xâm phạm không còn giới hạn ở sản phẩm giả được bày bán tại cửa hàng, mà xuất hiện trên website, mạng xã hội, sàn thương mại điện tử, tên doanh nghiệp, tên miền và hệ thống bán hàng trực tuyến.
Bà Trịnh Thị Hồng Vân, Chủ tịch Hội đồng Thành viên Công ty Yến sào Khánh Hòa, nhận định hành vi xâm phạm hiện “diễn ra dưới nhiều hình thức, ngày càng đa dạng, tinh vi và có xu hướng chuyển dịch từ các hành vi vi phạm truyền thống sang môi trường số”.
Theo bà Trịnh Thị Hồng Vân, tính đến ngày 15/6/2026, quá trình theo dõi, rà soát và xác minh ghi nhận 122 doanh nghiệp sử dụng trái phép dấu hiệu “Yến sào Khánh Hòa”; 280 tài khoản Facebook hoặc website sử dụng dấu hiệu này để quảng bá, kinh doanh sản phẩm; 42 doanh nghiệp đăng ký tên thương mại có dấu hiệu liên quan và 55 đơn đăng ký nhãn hiệu chứa dấu hiệu “Yến sào Khánh Hòa” hoặc dấu hiệu tương tự gây nhầm lẫn.
Các số liệu cho thấy vi phạm không chỉ xảy ra tại khâu bán hàng. Một số tổ chức, cá nhân sử dụng những cụm từ như “Yến Khánh Hòa”, “Nước yến sào Khánh Hòa” hoặc “Yến đảo Khánh Hòa” trên tên doanh nghiệp, bao bì, biển hiệu, tài liệu quảng cáo và phương tiện kinh doanh, có thể khiến người mua hiểu sai về chủ thể sản xuất hoặc nguồn gốc thương mại của sản phẩm.
Bà Trịnh Thị Hồng Vân cũng chỉ ra một trong những khó khăn lớn nhất hiện nay là xác định chính xác chủ thể vi phạm. Không ít sản phẩm ghi đầy đủ tên doanh nghiệp, địa chỉ và mã số thuế trên bao bì, nhưng khi kiểm tra, doanh nghiệp đã ngừng hoạt động hoặc không còn ở địa chỉ đăng ký.
Trên môi trường số, nhiều website, fanpage và tài khoản bán hàng sử dụng địa chỉ ảo, thông tin không chính xác hoặc thay đổi liên tục. Sau khi bị phát hiện, chủ thể vi phạm có thể nhanh chóng đổi tên tài khoản, chuyển nền tảng hoặc tạo một gian hàng mới. Việc sản xuất, gia công, đóng gói và phân phối cũng có thể được thực hiện tại nhiều địa phương khác nhau, gây khó khăn cho truy xuất nguồn gốc và thu thập chứng cứ.
Theo ThS. Bùi Thanh Thủy, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hội Bảo vệ người tiêu dùng Việt Nam, nhiều đối tượng còn đầu tư để tạo dựng “lòng tin giả tạo” bằng cách thiết kế bao bì gần giống hàng thật, làm giả tem, sao chép mã QR, lập website và fanpage gần giống kênh chính hãng; thậm chí sử dụng hình ảnh chuyên gia, bác sĩ hoặc người nổi tiếng để tăng độ tin cậy.
Một số sản phẩm được quảng cáo là “yến đảo thiên nhiên”, “100% yến nguyên chất” hoặc hàng chính hãng nhưng không chứng minh được nguồn gốc. Có trường hợp sản phẩm bị pha trộn với gelatin, mủ trôm hoặc phụ gia; sản phẩm nước yến đóng lọ được quảng cáo không đúng về hàm lượng yến, khiến người tiêu dùng khó đánh giá chất lượng thực tế.
Vụ gần 16.000 sản phẩm giả mạo nhãn hiệu Yến sào Khánh Hòa bị phát hiện tại Đồng Tháp là một trường hợp điển hình. Cụ thể, ngày 12/6/2026, cơ quan chức năng đã khởi tố hai bị can liên quan đến việc tự in nhãn “Yến sào Khánh Hòa”, “Yến đảo Khánh Hòa” và sử dụng hình ảnh đảo yến Khánh Hòa để sản xuất, kinh doanh hàng giả.
Vụ việc cho thấy hành vi xâm phạm đã chuyển từ việc sử dụng trái phép tên gọi sang tổ chức sản xuất hàng hóa giả với số lượng lớn, phân phối qua nhiều địa bàn và kênh bán hàng.
Tuy vậy, không phải mọi trường hợp sử dụng từ ngữ liên quan đến yến sào hoặc địa danh Khánh Hòa đều mặc nhiên bị xem là xâm phạm. TS. Nguyễn Hữu Cẩn, Viện Sở hữu trí tuệ quốc gia, lưu ý việc đánh giá phải căn cứ vào phạm vi bảo hộ, tổng thể dấu hiệu, hàng hóa hoặc dịch vụ liên quan và khả năng khiến người tiêu dùng hiểu sai về nguồn gốc thương mại.
Khả năng gây nhầm lẫn không đòi hỏi hai dấu hiệu phải giống nhau tuyệt đối. Việc thay đổi màu sắc, kiểu chữ hoặc một số chi tiết chưa đủ để loại trừ vi phạm nếu thành phần nổi bật và ấn tượng tổng thể vẫn khiến người tiêu dùng liên tưởng sai về chủ thể sản xuất, kinh doanh.
Hàng giả và hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ không chỉ gây thiệt hại cho chủ sở hữu nhãn hiệu. Người tiêu dùng có thể mua phải sản phẩm không đúng nguồn gốc, chất lượng hoặc thành phần được công bố, trong khi phần lớn không có đủ kiến thức và điều kiện kiểm nghiệm để phân biệt thật – giả.
Khi sử dụng một sản phẩm kém chất lượng mang dấu hiệu gần giống nhãn hiệu có uy tín, người mua có thể quy trách nhiệm cho đơn vị bị giả mạo. Trong môi trường mạng xã hội, một phản ánh tiêu cực thường lan truyền nhanh hơn quá trình kiểm tra và xác minh, làm suy giảm niềm tin đối với cả sản phẩm chính hãng và ngành yến nói chung.
Từ thực trạng này, bà Trịnh Thị Hồng Vân nhận định: “Tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ đối với nhãn hiệu ‘Yến sào Khánh Hòa’ không còn là vấn đề riêng của doanh nghiệp mà đã trở thành vấn đề cần được quan tâm ở góc độ quản lý nhà nước, bảo vệ người tiêu dùng và phát triển kinh tế – xã hội”.
Nhận định trên cho thấy xử lý vi phạm không thể chỉ dựa vào nỗ lực tự bảo vệ của chủ sở hữu nhãn hiệu. Hoạt động này cần sự phối hợp giữa cơ quan sở hữu trí tuệ, quản lý thị trường, công an, cơ quan đăng ký kinh doanh, chính quyền địa phương, các nền tảng thương mại điện tử, hệ thống phân phối và người tiêu dùng.
Từ góc độ pháp luật cạnh tranh, ông Lê Hoài Điệp, Phụ trách phòng điều tra 2 - Cơ quan điều tra vụ việc cạnh tranh, Uỷ ban cạnh tranh Quốc gia, cho rằng điều cần bảo vệ là một môi trường công bằng, nơi doanh nghiệp cạnh tranh bằng chất lượng, giá cả, đổi mới sáng tạo và năng lực thực chất, thay vì sử dụng thủ đoạn gian dối, gây nhầm lẫn hoặc lợi dụng uy tín của chủ thể khác.
Một yêu cầu quan trọng là chuyển từ xử lý bị động từng vụ việc sang giám sát và cảnh báo sớm. Bà Trịnh Thị Hồng Vân đề xuất “chuyển từ phương thức xử lý từng vụ việc sang quản trị tài sản sở hữu trí tuệ và quản trị rủi ro thương hiệu một cách chủ động”, kết hợp các giải pháp pháp lý, công nghệ, dữ liệu, truyền thông và hợp tác quốc tế.
Theo đó, cần thường xuyên rà soát thị trường, mạng xã hội, sàn thương mại điện tử, cơ sở dữ liệu đăng ký doanh nghiệp và đăng ký nhãn hiệu; phát hiện dấu hiệu vi phạm ngay từ giai đoạn đầu, thay vì chờ đến khi hàng hóa đã được sản xuất và phân phối rộng rãi.
Các nền tảng số cũng cần có cơ chế tiếp nhận, xác minh và gỡ bỏ nhanh nội dung vi phạm. Việc tài khoản bị khóa nhưng có thể nhanh chóng lập lại dưới tên khác cho thấy cần tăng cường chia sẻ dữ liệu và nhận diện chủ thể, thay vì chỉ xử lý từng đường dẫn riêng lẻ.
Cùng với thực thi quyền sở hữu trí tuệ, truy xuất nguồn gốc là công cụ trực tiếp bảo vệ người tiêu dùng. Hệ thống phải kết nối thông tin từ đảo yến hoặc nhà yến, thời điểm thu hoạch, cơ sở sơ chế, kiểm nghiệm, chế biến, đóng gói đến khâu phân phối.
Mã QR và tem chống giả chỉ có giá trị khi dữ liệu phía sau được cập nhật đầy đủ, có chủ thể xác thực và khó bị chỉnh sửa hoặc sao chép. Người tiêu dùng cũng cần được hướng dẫn về cách kiểm tra nguồn gốc, nhận diện sản phẩm và cung cấp thông tin khi phát hiện dấu hiệu bất thường.
ThS. Bùi Thanh Thủy cho rằng cuộc chiến chống hàng giả phải được nhìn nhận như một nhiệm vụ bảo vệ niềm tin xã hội. Một thị trường chỉ có thể vận hành bền vững khi chất lượng sản phẩm được kiểm soát, quyền lợi người tiêu dùng được tôn trọng và hành vi gian lận được phát hiện, xử lý kịp thời.
Bảo vệ nguồn gốc sản phẩm yến sào vì vậy phải được thực hiện đồng thời từ hai phía: bảo tồn quần thể chim yến và kiểm soát chuỗi lưu thông. Một bên gìn giữ nguồn tài nguyên sinh học; một bên bảo đảm sản phẩm đến tay người tiêu dùng đúng nguồn gốc, đúng chất lượng.
Chỉ khi bảo tồn, truy xuất nguồn gốc, bảo vệ người tiêu dùng và thực thi quyền sở hữu trí tuệ trở thành một chuỗi quản lý thống nhất, hàng giả và thông tin sai lệch mới không làm suy giảm những giá trị được hình thành từ tài nguyên và tri thức nghề yến qua nhiều thế hệ.