news
Bài 4: Không chỉ cứu hạn - Khánh Hòa định hình lại nền nông nghiệp theo nguồn nước
Khánh Hòa chuyển từ chống hạn sang quản trị an ninh nguồn nước

Bài 4: Không chỉ cứu hạn - Khánh Hòa định hình lại nền nông nghiệp theo nguồn nước

Thứ bảy, 6/6/2026, 08:43 (GMT+7)
logo Một bên là những thửa ruộng nằm sát hồ Thành Sơn vẫn phải chờ nước, đứng trước nguy cơ bỏ vụ hè thu. Một bên là vùng ven hồ Ông Kinh từng nhiều năm cạn trơ đáy, nay dần hồi sinh nhờ dòng nước liên thông từ hệ thống Tân Mỹ. Hai lát cắt trái ngược ấy cho thấy bài toán nước của Khánh Hòa không còn có thể giải bằng những giải pháp chống hạn ngắn hạn hay xử lý tình huống theo từng mùa vụ. Trong bối cảnh khí hậu ngày càng cực đoan, điều tỉnh cần không chỉ là thêm nguồn nước, mà là một chiến lược bảo đảm an ninh nguồn nước dài hạn cho dân sinh, sản xuất và sinh kế nông thôn.

Chiến lược đó đòi hỏi phải chuyển từ tư duy ứng phó sang quản trị chủ động; từ vận hành riêng lẻ từng công trình sang liên thông hệ thống thủy lợi; từ sản xuất theo thói quen sang sản xuất theo khả năng nguồn nước; từ điều hành bằng kinh nghiệm sang điều hành dựa trên dữ liệu, dự báo và bản đồ rủi ro. Trong kỷ nguyên khí hậu cực đoan, Khánh Hòa cần một chiến lược lớn hơn: bảo đảm an ninh nguồn nước cho dân sinh, sản xuất và sinh kế nông thôn, trên nền tảng liên thông hạ tầng, dữ liệu, tổ chức lại mùa vụ và sử dụng nước tiết kiệm.

khanh-hoa-chuyen-tu-chong-han-sang-quan-tri-an-ninh-nguon-nuoc-8_1780126998.jpg
Khánh Hòa hướng đến bảo đảm an ninh nguồn nước cho dân sinh, sản xuất và sinh kế nông thôn, trên nền tảng liên thông hạ tầng, dữ liệu, tổ chức lại mùa vụ và sử dụng nước tiết kiệm

Từ cứu hạn từng mùa đến bảo đảm sinh kế lâu dài

Nhiều năm trước, khi nói đến hạn hán, cách ứng xử phổ biến là chờ hạn đến rồi bơm chuyền, nạo vét, khoan giếng, hỗ trợ nước, cố cứu diện tích đã gieo trồng. Cách làm này cần thiết trong tình huống khẩn cấp, nhưng không thể là nền tảng dài hạn cho một nền nông nghiệp đang đối mặt với biến đổi khí hậu.

Khánh Hòa hiện có không gian khí hậu phức tạp hơn sau sáp nhập. Phía Bắc có nhiều vùng phụ thuộc hồ chứa nhỏ, đập dâng, vùng cuối kênh, khu tưới nhỏ lẻ. Phía Nam, tức vùng Ninh Thuận cũ, là khu vực khô hạn đặc thù, lượng mưa thấp, mùa mưa ngắn, nguồn nước phân bố không đều. Trong bối cảnh ENSO có xu hướng chuyển sang El Nino từ giữa năm 2026, nhiệt độ tăng, lượng mưa thấp hơn trung bình nhiều năm, yêu cầu bảo đảm nguồn nước cho cả dân sinh và sản xuất càng trở nên cấp bách.

Theo lãnh đạo Sở Nông nghiệp và Môi trường Khánh Hòa, an ninh nguồn nước không còn là bài toán riêng của ngành nông nghiệp, mà là nền tảng để bảo đảm dân sinh, phát triển nông nghiệp bền vững và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong điều kiện biến đổi khí hậu. Trong mọi tình huống, nước sinh hoạt của người dân phải được ưu tiên cao nhất; tiếp theo là nước uống cho gia súc, gia cầm và phục vụ chăn nuôi; sau đó mới đến sản xuất nông nghiệp và các nhu cầu kinh tế khác.

khanh-hoa-chuyen-tu-chong-han-sang-quan-tri-an-ninh-nguon-nuoc-14_1780126997.jpg
Các công trình thủy lợi tại Khánh Hòa thường xuyên được duy tu bảo dưỡng và nâng cấp, đầu tư mới

Cách tiếp cận này buộc ngành nông nghiệp phải thay đổi căn bản. Không thể chỉ đặt mục tiêu gieo trồng bao nhiêu ha, mà phải hỏi trước: nguồn nước bảo đảm đến đâu, cấp được cho cây gì, ở vùng nào, trong bao lâu. Không thể duy trì lúa ở những vùng thiếu nước chỉ vì thói quen canh tác. Không thể để người dân xuống giống ngoài kế hoạch rồi mới tính đến chống hạn.

“Nguyên tắc “sản xuất đến đâu, chắc nước đến đó” vì vậy là một bước chuyển từ quản lý mùa vụ sang quản trị rủi ro. Ở những vùng đủ nước, sản xuất phải tập trung, đồng loạt, đúng lịch, tiết kiệm nước. Ở những vùng nguy cơ thiếu nước cuối vụ, phải gieo sạ sớm, dùng giống ngắn ngày, chuyển cây trồng cạn ít dùng nước có thời gian sinh trưởng ngắn. Ở những vùng không có khả năng tưới, dừng sản xuất có thể là quyết định khó nhưng cần thiết để tránh thiệt hại lớn hơn”, ông Nguyễn Duy Quang - Giám đốc Sở NN&MT Khánh Hòa cho biết.

Thực tế từ cơ sở cho thấy hướng đi này không chỉ nằm trên văn bản. Tại Phước Thiện, nguồn nước từ đạp Nha Trinh qua kênh Chàm đến Trạm bơm Phước Thiện và khoảng 6km kênh mương đang phục vụ khoảng 100 ha hoa màu, táo. Vì cơ cấu cây trồng ít dùng nước hơn lúa, vùng này cơ bản vẫn đủ nước trong mùa khô. Tại hồ Ông Kinh, sau khi được đấu nối với hệ thống Tân Mỹ, một vùng từng cạn khát nhiều năm đã có điều kiện chủ động sản xuất hơn. Hồ Ông Kinh hiện bảo đảm tưới khoảng 140 ha tại Mỹ Tường, Mỹ Phong; nguồn nước ổn định giúp người dân giảm chi phí, mở rộng sản xuất và bớt phụ thuộc vào giếng khoan nhiễm mặn.

khanh-hoa-chuyen-tu-chong-han-sang-quan-tri-an-ninh-nguon-nuoc-46_1780127008.jpg
Kênh Chàm giúp đảm bảo nguồn nước cho trồng trọt, chăn nuôi trong mùa khô hạn

Nhưng cũng có những nơi như thôn An Nhơn, ruộng sát hồ vẫn phải chờ, thậm chí có nguy cơ bỏ lúa vụ hè thu. Chính sự đối lập ấy cho thấy an ninh nguồn nước không chỉ là chuyện có hồ chứa. Đó là khả năng điều tiết tổng thể, ưu tiên đúng, phân bổ đúng và tổ chức sản xuất đúng với điều kiện nước.

Liên thông nguồn nước phải đi cùng tổ chức lại nông nghiệp

Từ thực tiễn nhiều năm ứng phó hạn hán, đặc biệt tại phía Nam tỉnh, ông Nguyễn Duy Quang cho biết, không thể tiếp tục quản lý theo tư duy vận hành riêng lẻ từng công trình. Muốn bảo đảm an ninh nguồn nước, phải chuyển sang quản trị tổng hợp, liên kết hệ thống, điều hành từ sớm, từ xa và sử dụng nước theo hiệu quả tổng thể.

Trong nhóm giải pháp dài hạn, liên thông, điều hòa và chia sẻ nguồn nước giữa các hệ thống công trình là trụ cột quan trọng. Khi nguồn nước phân bố không đều, nơi thiếu, nơi có khả năng bổ sung, việc chuyển nước giữa các hệ thống giúp khai thác tốt hơn nguồn lực hiện có, giảm rủi ro cho vùng khô hạn. Hệ thống Tân Mỹ bổ sung nước cho Nha Trinh – Lâm Cấm, hồ Cho Mo, hồ Thành Sơn là ví dụ rõ. Hồ Ông Kinh là một minh chứng cụ thể hơn: khi được kết nối với nguồn nước lớn, một hồ từng cạn kiệt vào mùa khô có thể trở thành điểm tựa cho sinh kế vùng ven hồ.

Theo ông Nguyễn Công Xưng, hệ thống thủy lợi do Công ty TNHH MTV Khai thác công trình Thủy lợi Ninh Thuận quản lý hiện gồm 23 hồ chứa nước lớn và vừa, 40 đập dâng, 32 trạm bơm điện, khoảng 911,68km kênh mương và hơn 154,7km đường ống dẫn nước. Hằng năm, hệ thống phục vụ tưới gần 69.000 ha đất sản xuất nông nghiệp, đồng thời tham gia cấp nước sinh hoạt, chăn nuôi, công nghiệp và dịch vụ với sản lượng khoảng 35 triệu m³ nước. Với một vùng khô hạn, hệ thống thủy lợi không chỉ là hạ tầng sản xuất, mà là “huyết mạch” bảo đảm an ninh nguồn nước.

khanh-hoa-chuyen-tu-chong-han-sang-quan-tri-an-ninh-nguon-nuoc-7_1780126999.jpg
Hệ thống thủy lợi Tân Mỹ đã giúp hồ Ông Kinh hồi sinh trong mùa hạn

Tuy nhiên, liên thông nguồn nước không thể tách rời tổ chức lại sản xuất. Nếu nguồn nước được bổ sung nhưng cây trồng vẫn bố trí theo thói quen tiêu tốn nhiều nước, áp lực hạn hán sẽ sớm quay lại. Nếu công trình được đầu tư nhưng kênh mương thất thoát, lịch tưới phân tán, người dân tự ý lấy nước, hiệu quả điều tiết sẽ giảm. Nếu vùng khô hạn chuyển cây trồng nhưng không có thị trường, không có kỹ thuật, không có liên kết tiêu thụ, người dân sẽ khó bền bỉ với thay đổi.

Vì vậy, an ninh nguồn nước cần được nhìn như một chiến lược phát triển nông nghiệp tổng thể, thay vì chỉ là giải pháp ứng phó trong mùa khô. Trụ cột đầu tiên là hạ tầng, gồm nâng cấp hồ chứa, kênh mương, trạm bơm, công trình điều tiết và mở rộng các tuyến liên thông nguồn nước nhằm tăng khả năng điều hòa, chia sẻ nước giữa các khu vực.

Trụ cột thứ hai là dữ liệu, với việc xây dựng bản đồ hạn hán, bản đồ vùng thiếu nước, hệ thống quan trắc tự động, camera giám sát hồ chứa; đồng thời kết nối dữ liệu khí tượng thủy văn với công tác điều hành nguồn nước và tổ chức mùa vụ. Trụ cột thứ ba là tái cấu trúc sản xuất: giảm diện tích lúa ở những vùng không chắc nước; mở rộng cây trồng cạn, cây ăn quả, cây giá trị cao phù hợp điều kiện thổ nhưỡng; đẩy mạnh các mô hình tưới tiết kiệm, tưới luân phiên và tưới thông minh để nâng cao hiệu quả sử dụng nước.

Trụ cột cuối cùng là quản trị cộng đồng. Trong điều kiện hạn hán ngày càng gay gắt, việc công khai thông tin nguồn nước, tuyên truyền để người dân không gieo sạ ngoài kế hoạch, sử dụng nước tiết kiệm và hạn chế tranh chấp nguồn nước trong mùa hạn trở thành yếu tố rất quan trọng để bảo đảm điều hành thống nhất và ổn định sản xuất.

Trong bối cảnh khí hậu cực đoan đang dần trở thành trạng thái bình thường mới, an ninh nguồn nước không chỉ quyết định một vụ mùa, mà quyết định khả năng phát triển bền vững của cả nền nông nghiệp Khánh Hòa trong nhiều năm tới.

khanh-hoa-chuyen-tu-chong-han-sang-quan-tri-an-ninh-nguon-nuoc-57_1780129360.jpg
Người nông dân được hưởng lợi khi nước trong mùa hạn đang dần được khắc phục

“Trong thời gian tới, Sở Nông nghiệp và Môi trường đang tham mưu xây dựng Đề án bảo đảm an ninh nguồn nước của tỉnh. Đây cần được xem là khung chính sách quan trọng để đánh giá tổng thể hiện trạng nguồn nước, dự báo nhu cầu sử dụng dài hạn, xác định vùng nguy cơ thiếu nước và đề xuất các giải pháp đầu tư, điều tiết, khai thác phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, thích ứng biến đổi khí hậu đến năm 2030 và các giai đoạn tiếp theo”, ông Nguyễn Nguyễn Duy Quang cho biết.

Từ những câu chuyện trên, nếu nhìn từ bề mặt, là câu chuyện hạn hán vụ hè thu 2026. Nhưng nếu nhìn sâu hơn, đây là câu chuyện về cách một địa phương tái định nghĩa mối quan hệ giữa nước và nông nghiệp. Nước không còn là yếu tố đầu vào mặc định. Nước trở thành điều kiện quyết định cơ cấu cây trồng, mùa vụ, sinh kế và cả không gian phát triển.

Từ ruộng sát hồ vẫn phải dừng lúa đến vùng tâm hạn được hồi sinh nhờ Tân Mỹ, Khánh Hòa đang đứng trước một lựa chọn lớn: tiếp tục chống hạn theo từng mùa, hay xây dựng năng lực an ninh nguồn nước cho nhiều năm tới. Trong kỷ nguyên khí hậu cực đoan, lựa chọn thứ hai không chỉ đúng hơn về quản lý, mà còn nhân văn hơn với người dân, bởi mục tiêu cuối cùng không phải là giữ bằng được một vụ sản xuất, mà là giữ được sinh kế bền vững cho những vùng đất khô hạn.

Trung Nhân