Văn bản hợp nhất của Bộ Nông nghiệp và Môi trường về trình tự, thủ tục đánh giá rủi ro, cấp phép nhập khẩu thủy sản sống đã hệ thống hóa rõ các trường hợp phải đánh giá rủi ro, thành phần hồ sơ, thời hạn giải quyết thủ tục, trách nhiệm của cơ quan quản lý và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân nhập khẩu. Điểm đáng chú ý là quy định hướng tới kiểm soát chặt chẽ nguy cơ loài xâm hại, dịch bệnh, phát tán ra môi trường tự nhiên, đồng thời tạo cơ sở thủ tục rõ ràng hơn cho hoạt động nhập khẩu thủy sản sống phục vụ thực phẩm, làm cảnh, giải trí, hội chợ, triển lãm và nghiên cứu khoa học.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã xác thực văn bản hợp nhất đối với Thông tư quy định trình tự, thủ tục đánh giá rủi ro, cấp phép nhập khẩu thủy sản sống. Văn bản này hợp nhất Thông tư số 25/2018/TT-BNNPTNT ngày 15/11/2018 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, đã được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 01/2022/TT-BNNPTNT ngày 18/01/2022 và Thông tư số 17/2026/TT-BNNMT ngày 10/3/2026 của Bộ Nông nghiệp và Môi trường.
Việc ban hành văn bản hợp nhất có ý nghĩa quan trọng trong bối cảnh hoạt động nhập khẩu thủy sản sống ngày càng đa dạng, không chỉ phục vụ nhu cầu thực phẩm mà còn liên quan đến làm cảnh, giải trí, trưng bày tại hội chợ, triển lãm và nghiên cứu khoa học. Đây là nhóm hàng hóa đặc thù, bởi thủy sản sống có khả năng sinh trưởng, phát triển, có thể phát tán ra môi trường, mang theo mầm bệnh hoặc cạnh tranh sinh thái với các loài bản địa nếu không được kiểm soát chặt chẽ.
Xác định rõ phạm vi, đối tượng và các trường hợp cấp phép
Văn bản hướng dẫn nội dung quy định tại khoản 4 và khoản 6 Điều 98 Luật Thủy sản về trình tự, thủ tục đánh giá rủi ro, cấp phép nhập khẩu thủy sản sống chưa có tên trong Danh mục loài thủy sản được phép kinh doanh tại Việt Nam.
Đối tượng áp dụng là tổ chức, cá nhân có liên quan đến hoạt động quản lý, nhập khẩu, vận chuyển, nuôi giữ, chế biến, sử dụng thủy sản sống nhập khẩu chưa có tên trong Danh mục loài thủy sản được phép kinh doanh tại Việt Nam, dùng làm thực phẩm, làm cảnh, giải trí, trưng bày tại hội chợ, triển lãm hoặc nghiên cứu khoa học.
Văn bản giải thích rõ, thủy sản sống là loài động vật thủy sản, rong, tảo có khả năng sinh trưởng, phát triển. Đánh giá rủi ro thủy sản sống là hoạt động xác định những rủi ro và tác động bất lợi có thể xảy ra đối với đa dạng sinh học, khả năng lây nhiễm bệnh dịch cho thủy sản bản địa và con người.
Một nội dung quan trọng là phân loại các trường hợp cấp phép nhập khẩu. Theo đó, thủy sản sống lần đầu nhập khẩu để làm thực phẩm, làm cảnh, giải trí thuộc trường hợp phải đánh giá rủi ro. Trong khi đó, các trường hợp không phải đánh giá rủi ro gồm: thủy sản sống nhập khẩu để làm thực phẩm, làm cảnh, giải trí đã được đánh giá rủi ro; thủy sản sống nhập khẩu để nghiên cứu khoa học; thủy sản sống nhập khẩu để trưng bày tại hội chợ, triển lãm.
Cách phân định này cho thấy tinh thần quản lý dựa trên mức độ rủi ro. Những loài lần đầu được đưa vào Việt Nam với mục đích thương mại hoặc sử dụng rộng rãi phải được đánh giá kỹ lưỡng; còn những trường hợp đã có căn cứ đánh giá hoặc phục vụ mục đích kiểm soát hẹp như nghiên cứu, trưng bày được áp dụng quy trình phù hợp hơn.
Cụ thể hóa hồ sơ, thời hạn và hình thức tiếp nhận
Đối với trường hợp phải đánh giá rủi ro, hồ sơ đề nghị cấp phép gồm đơn đề nghị cấp phép, bản thuyết minh đặc tính sinh học của thủy sản sống nhập khẩu và kế hoạch kiểm soát thủy sản sống nhập khẩu. Tổ chức, cá nhân gửi một bộ hồ sơ đến Cục Thủy sản và Kiểm ngư theo hình thức trực tiếp tại Bộ phận Một cửa, qua Cổng Dịch vụ công quốc gia, qua dịch vụ bưu chính công ích hoặc các hình thức phù hợp theo quy định.
Về thời hạn xử lý, trong không quá 2 ngày làm việc kể từ khi nhận được hồ sơ, Cục Thủy sản và Kiểm ngư xem xét tính đầy đủ của hồ sơ. Nếu hồ sơ chưa đầy đủ, cơ quan này thông báo bằng văn bản cho tổ chức, cá nhân. Trong thời hạn 3 ngày làm việc kể từ khi nhận đủ hồ sơ, Cục Thủy sản và Kiểm ngư thẩm định hồ sơ; nếu hồ sơ không hợp lệ thì thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do.
Đối với trường hợp phải đánh giá rủi ro, trong thời hạn 28 ngày kể từ khi nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Cục Thủy sản và Kiểm ngư tổ chức đánh giá rủi ro, cấp Giấy phép nhập khẩu thủy sản sống kèm theo kế hoạch kiểm soát đã được phê duyệt. Trường hợp không cấp phép, cơ quan có thẩm quyền phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.
Đối với trường hợp không phải đánh giá rủi ro, thời hạn cấp giấy phép là 7 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ. Giấy phép được cấp kèm kế hoạch kiểm soát thủy sản sống hoặc phương án xử lý sau khi kết thúc hội chợ, triển lãm, tùy từng trường hợp.
Văn bản cũng quy định cụ thể việc cấp lại giấy phép khi giấy phép bị mất, bị hỏng hoặc có thay đổi thông tin nhà xuất khẩu, cửa khẩu nhập, kích cỡ loài thủy sản, địa chỉ của tổ chức, cá nhân nhập khẩu hoặc thay đổi, bổ sung nhà xuất khẩu, cửa nhập khẩu. Trong thời hạn 2 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đơn đề nghị, Cục Thủy sản và Kiểm ngư cấp lại giấy phép; nếu không cấp lại phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.
Hiệu lực của giấy phép nhập khẩu thủy sản sống để làm thực phẩm, làm cảnh, giải trí, nghiên cứu khoa học được xác định theo đề xuất của tổ chức, cá nhân nhập khẩu hoặc kết quả đánh giá rủi ro, nhưng không quá 12 tháng kể từ ngày cấp. Riêng giấy phép nhập khẩu thủy sản sống để trưng bày tại hội chợ, triển lãm có hiệu lực theo đề xuất và kế hoạch tổ chức hội chợ, triển lãm, nhưng không quá thời điểm kết thúc hội chợ, triển lãm.
Đánh giá rủi ro dựa trên an toàn sinh học và bảo vệ hệ sinh thái
Một trong những nội dung cốt lõi của văn bản là quy định về nội dung, phương pháp đánh giá rủi ro thủy sản sống nhập khẩu. Đây là cơ sở quan trọng để phòng ngừa nguy cơ từ sớm, từ xa, nhất là đối với các loài chưa có tên trong Danh mục loài thủy sản được phép kinh doanh tại Việt Nam.
Nội dung đánh giá rủi ro bao gồm nhiều nhóm vấn đề. Trước hết là việc đáp ứng các quy định liên quan đến an toàn thực phẩm đối với thủy sản sống nhập khẩu làm thực phẩm. Tiếp đó là khả năng tồn tại, sinh trưởng, phát triển trong điều kiện môi trường Việt Nam và khả năng cạnh tranh thức ăn với các loài bản địa.
Văn bản cũng yêu cầu đánh giá khả năng trở thành loài xâm hại hoặc có nguy cơ xâm hại; khả năng tái tạo quần đàn trong điều kiện môi trường Việt Nam; khả năng tạp giao giữa loài thủy sản sống nhập khẩu với loài thủy sản bản địa trong điều kiện tự nhiên; nguy cơ phát sinh, phát tán mầm bệnh cho thủy sản bản địa và con người.
Phương pháp đánh giá rủi ro được thực hiện theo hướng nhận diện, phân loại mối nguy có khả năng gây rủi ro; xác định mức độ rủi ro và hậu quả có nguy cơ xảy ra trên thực tế khi nhập khẩu thủy sản sống. Việc đánh giá phải dựa trên các nội dung theo quy định của văn bản, quy định pháp lý có liên quan của Việt Nam, các công trình khoa học được công bố trên tạp chí khoa học có uy tín, tài liệu chính thức của các tổ chức quốc tế như Tổ chức Nông lương Liên hợp quốc hoặc tài liệu có giá trị tương đương, cảnh báo của cơ quan có thẩm quyền trong nước, quốc tế và hồ sơ do tổ chức, cá nhân cung cấp.
Để bảo đảm tính khoa học, khách quan, Cục Thủy sản và Kiểm ngư thành lập hội đồng đánh giá rủi ro gồm 7-11 thành viên, bao gồm chủ tịch, phó chủ tịch, ủy viên phản biện, các ủy viên và thư ký. Thành viên hội đồng là nhà khoa học có uy tín, có chuyên môn phù hợp hoặc cán bộ quản lý có kinh nghiệm thực tiễn liên quan. Phiên họp đánh giá rủi ro phải có ít nhất 2/3 tổng số thành viên tham dự và có thể tổ chức theo hình thức trực tiếp hoặc trực tiếp kết hợp trực tuyến.
Tăng trách nhiệm hậu kiểm và kiểm soát sau cấp phép
Không chỉ quy định thủ tục cấp phép, văn bản còn đặt ra trách nhiệm rõ ràng đối với cơ quan quản lý trung ương, địa phương, cơ quan kiểm dịch và tổ chức, cá nhân nhập khẩu.
Cục Thủy sản và Kiểm ngư có trách nhiệm chủ trì đánh giá rủi ro, cấp giấy phép nhập khẩu thủy sản sống; công khai trên website danh sách thủy sản sống đã được đánh giá rủi ro, gồm tên tiếng Việt, tên khoa học và tên tiếng Anh nếu có. Cơ quan này cũng có trách nhiệm hướng dẫn biện pháp xử lý khi phát hiện bằng chứng thủy sản sống nhập khẩu là loài xâm hại, có nguy cơ xâm hại hoặc có dịch bệnh xảy ra tại quốc gia xuất xứ, quốc gia xuất khẩu.
Ở cấp địa phương, cơ quan quản lý nhà nước về thủy sản cấp tỉnh phải xây dựng kế hoạch kiểm tra thủy sản sống nhập khẩu hằng năm, tổ chức kiểm tra, giám sát định kỳ cơ sở nhập khẩu không quá một lần trong thời gian hiệu lực của giấy phép, trừ trường hợp kiểm tra đột xuất khi phát hiện dấu hiệu vi phạm. Cơ quan này cũng phải báo cáo kết quả kiểm tra định kỳ hằng quý hoặc báo cáo ngay khi phát hiện thủy sản sống xuất hiện ở môi trường tự nhiên, môi trường nuôi trồng thủy sản.
Cơ quan kiểm dịch thủy sản sống nhập khẩu có trách nhiệm gửi thông tin về tên loài, số lượng thủy sản sống nhập khẩu theo từng doanh nghiệp đến Cục Thủy sản và Kiểm ngư trước ngày 25 hằng tháng; đồng thời gửi thông tin về kết quả kiểm dịch lô hàng đến cơ quan quản lý nhà nước về thủy sản cấp tỉnh trong thời hạn 5 ngày làm việc kể từ thời điểm có kết quả kiểm dịch.
Đối với tổ chức, cá nhân nhập khẩu, văn bản quy định nghĩa vụ rất cụ thể. Tổ chức, cá nhân không được phát tán, phóng sinh, cho sinh sản hoặc để thủy sản sống nhập khẩu thoát ra môi trường tự nhiên. Nếu thủy sản sống nhập khẩu bị thoát ra môi trường, phải triển khai ngay biện pháp xử lý và chậm nhất trong 24 giờ kể từ khi phát hiện phải báo cáo cơ quan quản lý nhà nước về thủy sản gần nhất.
Tổ chức, cá nhân nhập khẩu cũng phải tuân thủ nghiêm các biện pháp kiểm soát rủi ro tại kế hoạch kiểm soát hoặc phương án xử lý đã được phê duyệt. Trường hợp thủy sản sống nhập khẩu để làm cảnh, giải trí được bán cho bên thứ ba với cùng mục đích, tổ chức, cá nhân nhập khẩu phải hướng dẫn bên mua thực hiện phương án kiểm soát đã được phê duyệt và cùng chịu trách nhiệm nếu để xảy ra vi phạm.
Có thể thấy, văn bản hợp nhất này không chỉ tạo hành lang thủ tục cho hoạt động nhập khẩu thủy sản sống, mà còn nhấn mạnh yêu cầu quản trị rủi ro sinh học, bảo vệ đa dạng sinh học, phòng ngừa dịch bệnh và bảo đảm an toàn môi trường. Trong bối cảnh giao thương quốc tế mở rộng, nhu cầu nhập khẩu các loài thủy sản sống ngày càng tăng, việc chuẩn hóa quy trình đánh giá rủi ro và cấp phép là yêu cầu cần thiết để hài hòa giữa phát triển thương mại, nghiên cứu, tiêu dùng với bảo vệ hệ sinh thái và nguồn lợi thủy sản bản địa.
Thông qua việc cập nhật thẩm quyền của Cục Thủy sản và Kiểm ngư, bổ sung hình thức tiếp nhận hồ sơ qua Cổng Dịch vụ công quốc gia, rút ngắn một số thời hạn xử lý và làm rõ trách nhiệm hậu kiểm, văn bản góp phần nâng cao tính minh bạch, thuận lợi trong thực hiện thủ tục hành chính, đồng thời không buông lỏng yêu cầu kiểm soát rủi ro đối với thủy sản sống nhập khẩu.
Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để các tổ chức, cá nhân hoạt động trong lĩnh vực nhập khẩu, vận chuyển, nuôi giữ, chế biến, sử dụng thủy sản sống thực hiện đúng quy định; đồng thời giúp cơ quan quản lý nhà nước tăng cường giám sát, phát hiện và xử lý kịp thời các nguy cơ ảnh hưởng đến an toàn sinh học, an toàn thực phẩm và môi trường sinh thái của Việt Nam.