Bộ Nông nghiệp và Môi trường: Tháo gỡ điểm nghẽn thủ tục, tăng quyền chủ động cho địa phương trong lĩnh vực chăn nuôi

Bộ Nông nghiệp và Môi trường: Tháo gỡ điểm nghẽn thủ tục, tăng quyền chủ động cho địa phương trong lĩnh vực chăn nuôi

Thứ năm, 18/6/2026, 06:34 (GMT+7)
logo Bộ Nông nghiệp và Môi trường mới ban hành Văn bản hợp nhất số 61/VBHN-BNNMT hợp nhất Thông tư hướng dẫn chi tiết một số điều của Luật Chăn nuôi. Trong bối cảnh Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 15 luật trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường đã có hiệu lực từ cuối năm 2025, văn bản không chỉ hoàn thiện khung pháp lý về quản lý giống vật nuôi, nguồn gen giống vật nuôi và thức ăn chăn nuôi mà còn thể hiện rõ định hướng phân cấp, cải cách thủ tục hành chính và chuyển đổi phương thức quản lý nhà nước trong ngành chăn nuôi.

chatgpt-image-11_21_43-15-thg-6-2026_1781497610.png

Đáng chú ý, nhiều thủ tục trước đây do cơ quan Trung ương trực tiếp giải quyết đã được chuyển giao cho cơ quan chuyên môn do Chủ tịch UBND cấp tỉnh giao thực hiện. Đây được xem là một trong những thay đổi quan trọng nhất của văn bản, góp phần rút ngắn quy trình xử lý hồ sơ, giảm chi phí tuân thủ và tăng tính chủ động cho địa phương.

img-7381-3-16633239928061407976414_1781496437.jpg
ảnh minh hoạ

Hoàn thiện hành lang pháp lý về quản lý nguồn gen và giống vật nuôi

Một trong những nội dung lớn của Thông tư là quy định chi tiết việc quản lý nguồn gen giống vật nuôi, đặc biệt đối với các giống vật nuôi quý, hiếm và các giống vật nuôi thuộc danh mục cấm xuất khẩu.

Theo quy định, tổ chức, cá nhân có nhu cầu trao đổi quốc tế nguồn gen giống vật nuôi thuộc danh mục cấm xuất khẩu phục vụ nghiên cứu khoa học, triển lãm hoặc quảng cáo phải thực hiện thủ tục đăng ký với Cục Chăn nuôi và Thú y. Hồ sơ phải thể hiện rõ nguồn gốc, hiện trạng, mục đích sử dụng và các thỏa thuận hợp tác liên quan. Thời hạn giải quyết hồ sơ được quy định cụ thể, bảo đảm vừa tạo điều kiện cho hoạt động nghiên cứu khoa học vừa bảo vệ nguồn gen vật nuôi có giá trị của quốc gia.

Văn bản cũng đưa ra các tiêu chí cụ thể để xác định giống vật nuôi cần bảo tồn. Theo đó, những giống có số lượng cá thể còn rất ít, nguy cơ cận huyết cao hoặc suy giảm từ 50% trở lên trong vòng 5 năm gần nhất hoặc được dự báo suy giảm tương tự trong 5 năm tiếp theo sẽ được xem xét đưa vào danh mục bảo tồn. Đây là cơ sở quan trọng để bảo vệ các nguồn gen vật nuôi bản địa đang đứng trước nguy cơ mai một trong quá trình phát triển chăn nuôi hàng hóa quy mô lớn.

Đối với danh mục giống vật nuôi cấm xuất khẩu, văn bản xác định rõ tiêu chí là những giống vật nuôi bản địa mang nguồn gen quý, hiếm hoặc có tính đặc hữu của Việt Nam. Quy định này không chỉ nhằm bảo tồn nguồn gen mà còn bảo đảm lợi ích quốc gia đối với các nguồn tài nguyên sinh học có giá trị đặc biệt.

Bên cạnh đó, Thông tư tiếp tục quy định chi tiết trình tự nhập khẩu đực giống, tinh giống và phôi giống gia súc. Một điểm mới đáng chú ý là đối với các trường hợp nhập khẩu lặp lại cùng cá thể giống hoặc cùng cơ sở sản xuất đã được chấp thuận trước đó, tổ chức, cá nhân chỉ cần thực hiện thủ tục thông báo thay vì xin phép lại từ đầu. Quy định này giúp giảm đáng kể thời gian và chi phí hành chính cho doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực giống vật nuôi.

20_1_anh_trang_trai_lon_20260120080534_1781496727.webp
ảnh minh hoạ

Phân cấp mạnh thủ tục khảo nghiệm giống vật nuôi và thức ăn chăn nuôi

Nếu như trước đây nhiều thủ tục chuyên ngành phải trình cấp Trung ương xem xét thì nay một phần đáng kể thẩm quyền đã được chuyển giao cho địa phương.

Đối với hoạt động khảo nghiệm dòng, giống vật nuôi, tổ chức, cá nhân được chủ động thực hiện khảo nghiệm theo tiêu chuẩn quốc gia và chịu trách nhiệm về kết quả khảo nghiệm. Cơ quan chuyên môn do Chủ tịch UBND cấp tỉnh giao quản lý lĩnh vực chăn nuôi và thú y có trách nhiệm tiếp nhận thông báo, giám sát quá trình khảo nghiệm và đánh giá kết quả khảo nghiệm.

Đáng chú ý, thẩm quyền công nhận kết quả khảo nghiệm dòng, giống vật nuôi được giao cho cơ quan được Chủ tịch UBND cấp tỉnh giao giải quyết thủ tục hành chính trong lĩnh vực chăn nuôi và thú y. Sau khi tiếp nhận hồ sơ hợp lệ, cơ quan này thành lập hội đồng đánh giá, xem xét hồ sơ và ban hành quyết định công nhận kết quả khảo nghiệm.

Cách tiếp cận tương tự cũng được áp dụng đối với khảo nghiệm thức ăn chăn nuôi. Tổ chức, cá nhân được chủ động khảo nghiệm theo tiêu chuẩn kỹ thuật tương ứng; cơ quan quản lý địa phương chịu trách nhiệm giám sát và công nhận kết quả khảo nghiệm.

Việc phân cấp này thể hiện rõ tinh thần của chủ trương cải cách hành chính hiện nay: những thủ tục mang tính kỹ thuật, gắn với điều kiện sản xuất cụ thể của địa phương sẽ được giao cho địa phương xử lý, trong khi cơ quan Trung ương tập trung vào xây dựng thể chế, ban hành tiêu chuẩn, quy chuẩn và thực hiện công tác kiểm tra, giám sát. Không chỉ rút ngắn quy trình xử lý hồ sơ, mô hình này còn giúp cơ quan quản lý tiếp cận sát hơn với thực tiễn sản xuất, từ đó nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với ngành chăn nuôi.

Cắt giảm thủ tục không làm giảm hiệu lực quản lý, mà nâng cao hiệu quả phục vụ.

Chuẩn hóa quản lý chăn nuôi theo hướng hiện đại

Ngoài các quy định về giống vật nuôi và thức ăn chăn nuôi, Thông tư còn dành một chương riêng quy định về quy mô chăn nuôi, mật độ chăn nuôi và danh mục động vật khác được phép chăn nuôi.

Theo đó, quy mô chăn nuôi được xác định bằng đơn vị vật nuôi và được chia thành bốn nhóm gồm chăn nuôi trang trại quy mô lớn, quy mô vừa, quy mô nhỏ và chăn nuôi nông hộ. Trang trại quy mô lớn được xác định từ 300 đơn vị vật nuôi trở lên; quy mô vừa từ 30 đến dưới 300 đơn vị vật nuôi; quy mô nhỏ từ 10 đến dưới 30 đơn vị vật nuôi; dưới 10 đơn vị vật nuôi được xác định là chăn nuôi nông hộ.

Văn bản cũng phân chia các địa phương thành sáu vùng để xác định mật độ chăn nuôi phù hợp với điều kiện tự nhiên, môi trường và khả năng tiếp nhận của từng khu vực. Đây là căn cứ quan trọng để các địa phương xây dựng chính sách phát triển chăn nuôi bền vững, kiểm soát ô nhiễm môi trường và hạn chế tình trạng phát triển nóng vượt quá sức chịu tải của hệ sinh thái.

Một điểm đáng chú ý khác là quy định thống nhất về hình thức nộp hồ sơ. Theo đó, các thủ tục có thể được thực hiện trực tiếp, qua dịch vụ bưu chính hoặc trên môi trường điện tử. Việc thừa nhận hồ sơ điện tử và tích hợp với Cổng Dịch vụ công quốc gia cho thấy xu hướng chuyển đổi số đang được đẩy mạnh trong quản lý nhà nước về chăn nuôi.

Có thể thấy, Văn bản hợp nhất số 61/VBHN-BNNMT không chỉ là sự tổng hợp các quy định hiện hành về chăn nuôi mà còn phản ánh rõ định hướng cải cách thể chế của ngành nông nghiệp và môi trường trong giai đoạn mới. Từ bảo tồn nguồn gen vật nuôi, quản lý giống, thức ăn chăn nuôi đến phân cấp thủ tục hành chính và chuyển đổi số, các quy định mới đang hướng tới mục tiêu xây dựng một ngành chăn nuôi hiện đại, minh bạch, hiệu quả và phát triển bền vững.

Theo lộ trình thực hiện, các quy định liên quan đến phân cấp thủ tục hành chính trong lĩnh vực chăn nuôi sẽ có hiệu lực từ ngày 1/7/2026. Đây được xem là một bước cụ thể hóa chủ trương xây dựng nền hành chính phục vụ, tăng tính chủ động cho địa phương và nâng cao hiệu quả quản lý ngành chăn nuôi trong giai đoạn mới.

Hồng Minh