news

Cảnh báo ô nhiễm môi trường từ khai thác, chế biến khoáng sản

Thứ tư, 27/9/2023, 16:59 (GMT+7)
logo Mặc dù ngành khai thác, chế biến khoáng sản đã đóng góp lớn cho phát triển kinh tế của đất nước; giải quyết công ăn việc làm và tăng thu nhập cho người lao động,… Tuy nhiên, lĩnh vực này cũng gây ra nhiều hệ lụy không nhỏ về môi trường.

Nguy cơ ô nhiễm cao

Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 và các Nghị định, Thông tư hướng dẫn Luật đã tạo điều kiện cho doanh nghiệp thực hiện tốt, đầy đủ các yêu cầu của công tác bảo vệ môi trường và phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn. Thủ tướng Chính phủ cũng đã ban hành Quyết định số: 1266/QĐ-TTg về việc Phê duyệt Chiến lược phát triển vật liệu xây dựng Việt Nam thời kỳ 2021-2030, định hướng 2050. Trong đó, có nội dung đẩy mạnh nghiên cứu và ứng dụng khoa học kỹ thuật nhằm ổn định và nâng cao chất lượng đầu vào, góp phần nâng cao chất lượng sản phẩm vật liệu xây dựng, sử dụng hiệu quả tài nguyên khoáng sản và bảo vệ môi trường.

Tuy nhiên, trên thực tế trong quá trình thực hiện công tác khai thác nguyên liệu không thể tránh khỏi những tác động tiêu cực đến môi trường tự nhiên và xã hội, gây ra tác động đến môi trường đồng thời tiềm ẩn nhiều yếu tố có khả năng gây suy thoái, ô nhiễm môi trường. Theo đánh giá tác động môi trường trong quá trình khai thác, chế biến và sử dụng các loại khoáng sản các ô nhiễm phát sinh gồm: Ô nhiễm bụi thải; ô nhiễm môi trường nước; phát sinh đất đá thải; sạt lở đất, đá thải; rủi ro về nổ mìn và tác động rung chấn, ...

Theo Cục Địa chất Việt Nam (Bộ Tài nguyên và Môi trường), hoạt động khai thác khoáng sản ở nước ta đã và đang gây nhiều tác động xấu đến môi trường xung quanh. Biểu hiện rõ nét nhất là việc sử dụng thiếu hiệu quả các nguồn khoáng sản tự nhiên; tác động đến cảnh quan và hình thái môi trường; tích tụ hoặc phát tán chất thải; làm ảnh hưởng đến sử dụng nước, ô nhiễm nước, tiềm ẩn nguy cơ về dòng thải axit mỏ,... Những hoạt động này đang phá vỡ cân bằng điều kiện sinh thái được hình thành từ hàng chục triệu năm, gây ô nhiễm nặng nề đối với môi trường, trở thành vấn đề cấp bách mang tính chính trị và xã hội của cộng đồng một cách sâu sắc. Các hoạt động khai thác, chế biến khoáng sản quy mô nhỏ đang diễn ra khá phổ biến ở nước ta. Do vốn đầu tư của các doanh nghiệp này hạn chế, khai thác bằng phương pháp thủ công, bán cơ giới, công nghệ lạc hậu và nhất là chạy theo lợi nhuận, ý thức chấp hành luật pháp chưa cao nên các chủ cơ sở ít quan tâm đến công tác bảo vệ môi trường, an toàn lao động, bảo vệ tài nguyên khoáng sản, để lại nhiều hậu quả xấu đến môi trường. Bên cạnh đó, không ít các công ty hoạt động không tuân thủ dự án, thiết kế và báo cáo đánh giá tác động môi trường, hoặc bản cam kết được duyệt.

Cảnh báo ô nhiễm môi trường từ khai thác, chế biến khoáng sản

Ô nhiễm môi trường cao tại các mỏ khai thác đá vôi ở Hà Nam

Theo Cục Kiểm soát ô nhiễm môi trường (Bộ Tài nguyên và Môi trường), hoạt động khai thác khoáng sản, trong đó khu vực phía Bắc nổi lên là hoạt động khai thác đá vôi làm vật liệu xây dựng, phân bố chủ yếu tại các địa phương (Ninh Bình, Hà Nam, Hải Phòng, Hải Dương, Quảng Ninh, Hòa Bình, Thanh Hóa) có diện tích dưới 10 ha và công suất khai thác dưới 100.000 m3/năm hoạt động dọc quốc lộ, tỉnh lộ đã tồn tại khá lâu, công nghệ khai thác thủ công, không đảm bảo quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật an toàn, ảnh hưởng xấu đến môi trường, nhất là bụi và tiếng ồn, có nguy cơ cao về mất an toàn lao động trong quá trình khai thác, tác động tiêu cực tới các khu du lịch, danh lam, thắng cảnh đã công nhận là di sản văn hóa thiên nhiên thế giới; khu di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Cùng quan điểm này, ông Ngọc Thái Hoàng, Phó Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Quảng Ninh cho biết, cùng với áp lực về nhu cầu sử dụng các loại khoáng sản, nhiên liệu hoá thạch ngày càng gia tăng, đòi hỏi việc khai thác khoáng sản với công suất, sản lượng ngày càng lớn, cộng với đặc thù của ngành khai thác khoáng sản đã tác động tiêu cực đến môi trường đất, nước, không khí và cảnh quan, đa dạng sinh học xung quanh. Trong khi các đòi hỏi về công tác bảo vệ môi trường ngày càng cao, điều này đã tạo ra một số mâu thuẫn giữa đẩy mạnh khai thác khoáng sản và bảo vệ môi trường thiên nhiên.

Cần một phương án bền vững

Do vậy, các nhà khoa học và chuyên gia về ngành khai khoáng, để quyết định đưa một mỏ vào khai thác cần phải xem xét thận trọng giữa lợi ích trước mắt cũng như lầu dài, đảm bảo các yêu cầu phát triển bền vững.

Trước hết, nên khai thác mỏ ít chất thải. Bởi, một thách thức lớn phải giải quyết trong quá trình khai thác mỏ là quản lý chất thải rắn trong mỏ. Ngành công nghiệp khai thác mỏ hàng năm tạo ra khối lượng đất đá thải rất lớn do phải bóc lớp đất phủ và quặng nghèo không đáp ứng yêu cầu chế biến trong khai thác lộ thiên. Trong đất, đá thải chứa nhiều tạp chất khác nhau nên phải được quản lý theo một quy trình nghiêm ngặt để ngăn ngừa ô nhiễm nước mặt và nước ngầm. Việc chuyển đổi từ khai thác lộ thiên sang hầm lò sẽ hạn chế và giảm thiểu tác động đến môi trường, khắc phục tình trạng ô nhiễm nước mặt cũng như nước ngầm do đất đá thải gây ra. Tài nguyên khoáng sản ở độ sâu vừa phải được khai thác bằng phương pháp lộ thiên ở giai đoạn trước, nay đã cạn kiệt nên khai thác tài nguyên khoáng sản ở độ sâu lớn nằm trong long đất bằng phương pháp hầm, lò. Đơn cử, việc khai thác các mỏ than ở Quảng Ninh hiện nay.

Theo các nhà khoa học, tiếp tục rà soát các quy định về ký quỹ phục hồi môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản theo hướng quy định cụ thể về định mức trong công tác cải tạo, phục hồi môi trường và cần làm rõ phương án, trách nhiệm cải tạo, phục hồi môi trường của các tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động khai thác, chế biến khoáng sản; đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát trong hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản, kiên quyết xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường, cũng như tuyên truyền, vận động người dân tham gia tích cực trong việc phát hiện, tố cáo các hành vi vi phạm của các tổ chức, cá nhân trong lĩnh vực này.

Cảnh báo ô nhiễm môi trường từ khai thác, chế biến khoáng sản

Cần sớm có biện pháp ngăn chặn ô nhiễm môi trường từ khai thác, chế biến khoáng sản

Ở góc độ khác, theo thông tin từ đại diện Công ty TNHH Khai thác chế biến khoáng sản Núi Pháo, quá trình chế biến quặng nguyên khai có thải ra đuôi quặng ôxit (OTC), đây là chất thải rắn công nghiệp thông thường và được lưu giữ ở đập chứa quặng đuôi theo phương án đã được phê duyệt trong báo cáo đánh giá tác động môi trường. Nhưng lại có tiềm năng tái chế, tái sử dụng cho các mục đích như làm cốt liệu cho bê tông/gạch không nung, nguyên liệu cho sản xuất Clinker - xi măng. Bên cạnh đó, cũng phải kể đến khối lượng rất lớn đất đá thải và đất bóc phủ dự kiến phát sinh trong thời gian tiến hành hoạt động khai thác tại mỏ Núi Pháo lên đến hơn 100 triệu tấn, bao gồm các loại vật liệu phủ (saprolite, laterite) và loại thành phần có nhiều canxisilicat, granit có thể được tái sử dụng để làm vật liệu san lấp mặt bằng hoặc vật liệu xây dựng.

Được biết, nếu như khối lượng đuôi quặng và đất đá thải này được tận dụng, thì chúng có thể tạo ra nhiều kết quả tích cực như tối ưu hóa việc sử dụng vật liệu thải cho các mục đích xã hội theo chủ trương của Chính phủ; giảm thiểu rủi ro về môi trường, giảm phụ tải lên khu vực lưu giữ đất đá thải trong mỏ; tạo việc làm và lợi nhuận cho các thành phần tham gia chuỗi quy trình tái sử dụng đất đá thải cho các mục đích thương mại.

Theo đại diện Tổng Công ty xi măng Việt Nam (VICEM), sử dụng phương án nổ mìn vi sai hạn chế được lượng bụi và khí thải vào môi trường không khí; bố trí hợp lý các vị trí nổ mìn, hạn chế nổ nhiều lần và kéo dài thời gian nổ mìn để giảm thời gian phát tán bụi vào không khí; thực tế khai thác chất lượng, sản lượng nguyên liệu có khác biệt so với chất lượng và trữ lượng mỏ trong hồ sơ, giấy phép. Nhiều mỏ có sự biến động về địa chất, xuất hiện nhiều hang caster, đá xen kẹp và đất, có hàm lượng MgO cao, cá biệt có một số mỏ tỷ lệ đá phi nguyên liệu lớn (tới 25%) nên trữ lượng mỏ giảm và tác động đến tuổi thọ của dự án. Đồng thời, các đơn vị khai thác, chế biến khoáng sản phải xây dựng phương án khai thác hợp lý, hiệu quả và tính toán phối liệu nhằm sử dụng tối đa khoáng sản khai thác nhằm tiết kiệm nguồn tài nguyên khoáng sản, bảo vệ môi trường bền vững; thường xuyên bảo dưỡng, sửa chữa máy móc, thiết bị khai thác khoan hoạt động theo đúng thông số kỹ thuật để giảm tiếng ồn và đảm bảo chất lượng khí xả; hệ thống thổi phoi và hút bụi máy khoan luôn được duy trì hoạt động hiệu quả nhằm thu hồi tối đa lượng bụi phát sinh trong quá trình khoan tạo lỗ; trước lúc nổ mìn, triển khai phun nước vào mặt tầng chuẩn bị nổ để một phần nước chảy vào trong đá theo các vết nứt làm ẩm đá vôi, từ đó giảm thiểu phát tán bụi ra xung quanh; trong quá trình bốc xúc, vận chuyển nguyên liệu, thường xuyên bố trí xe tưới nước dập bụi.

Nhất Nam