Chuẩn hóa kỹ thuật đo địa chấn phản xạ đa kênh trên biển

Chuẩn hóa kỹ thuật đo địa chấn phản xạ đa kênh trên biển

Thứ ba, 28/7/2026, 11:15 (GMT+7)
logo Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã ban hành quy định kỹ thuật đối với công tác đo địa chấn phản xạ đa kênh trên biển, thống nhất từ khâu chuẩn bị, bố trí mạng lưới điều tra, thi công thực địa đến xử lý, minh giải số liệu và lập báo cáo kết quả. Quy định mới góp phần nâng cao chất lượng điều tra địa chất, đánh giá khoáng sản biển, đồng thời tăng cường yêu cầu về an toàn thi công và bảo vệ dữ liệu nguyên thủy.
1783910606804_fb0ac8e4-067f-e426-8789-50f789172a95_1784710975.jpeg
ảnh minh hoạ

Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã ban hành Thông tư số 29/2026/TT-BNNMT quy định kỹ thuật công tác đo địa chấn phản xạ đa kênh trên biển trong hoạt động điều tra cơ bản địa chất, điều tra địa chất về khoáng sản và thăm dò khoáng sản. Thông tư do Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Đặng Ngọc Điệp ký thay Bộ trưởng.

Thông tư được xây dựng trên cơ sở Luật Địa chất và khoáng sản số 54/2024/QH15, được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 147/2025/QH15; Nghị định số 193/2025/NĐ-CP ngày 2/7/2025 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Địa chất và khoáng sản; Nghị định số 21/2026/NĐ-CP ngày 16/1/2026 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 193/2025/NĐ-CP và Nghị định số 35/2025/NĐ-CP ngày 25/2/2025 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của Bộ Nông nghiệp và Môi trường.

Thống nhất quy trình điều tra địa chấn trên biển

Thông tư gồm 5 chương, 17 điều và phụ lục ban hành kèm theo, quy định tương đối toàn diện nội dung, quy trình và yêu cầu kỹ thuật của công tác đo địa chấn phản xạ đa kênh trên biển bằng trạm địa chấn 48 kênh.

Đối tượng áp dụng gồm cơ quan quản lý nhà nước về địa chất và khoáng sản; các tổ chức, cá nhân thực hiện nhiệm vụ, đề án, dự án điều tra cơ bản địa chất, điều tra địa chất về khoáng sản, thăm dò khoáng sản và các lĩnh vực có liên quan khi tiến hành đo địa chấn phản xạ đa kênh trên biển.

Theo giải thích tại Thông tư, phương pháp đo địa chấn phản xạ đa kênh 2D là phương pháp thăm dò địa chấn phản xạ theo tuyến, nghiên cứu sóng phản xạ từ các mặt ranh giới địa chấn để phục vụ điều tra cơ bản địa chất và thăm dò khoáng sản. Phương pháp này sử dụng nguồn gây sóng tạo ra sóng đàn hồi, các máy thu địa chấn tiếp nhận dao động và chuyển đổi thành tín hiệu điện.

Mỗi lần tạo sóng tại một vị trí thu nhất định sẽ hình thành một đường ghi sóng địa chấn. Tập hợp các đường ghi do một loạt máy thu ghi nhận từ cùng một lần tạo sóng được gọi là băng ghi sóng địa chấn. Đây là nguồn dữ liệu quan trọng để xử lý, lập mặt cắt và nhận diện các mặt ranh giới, cấu trúc, đứt gãy cũng như những dấu hiệu địa chất liên quan đến triển vọng khoáng sản.

Quy trình đo địa chấn phản xạ đa kênh trên biển được chia thành ba nhóm công việc lớn. Trước hết là công tác chuẩn bị trước thực địa, gồm thu thập, phân tích, tổng hợp tài liệu, số liệu địa chất và địa vật lý; khảo sát điều kiện thi công; kiểm tra, hiệu chuẩn máy móc, thiết bị; xây dựng thiết kế kỹ thuật - dự toán trình cơ quan có thẩm quyền phê duyệt; chuẩn bị vật tư, vật liệu và phụ kiện chuyên dụng.

Thông tư quy định phương pháp đo địa chấn phản xạ đa kênh được tiến hành tại vùng biển có độ sâu mực nước lớn hơn 7 m. Trường hợp khu vực khảo sát có độ sâu mực nước nhỏ hơn 7 m, chỉ được tổ chức đo khi bảo đảm tàu khảo sát có thể di chuyển an toàn.

Giai đoạn thi công thực địa gồm vận chuyển, lắp đặt, kiểm tra máy móc và thiết bị trên tàu; đo thử nghiệm để lựa chọn thông số; đo đạc, thu thập số liệu trên tuyến; tháo dỡ, bảo quản thiết bị và thực hiện công tác văn phòng tại thực địa.

Sau thực địa, đơn vị thi công phải xử lý số liệu, lập mặt cắt địa chấn; minh giải kết quả đo; xây dựng sản phẩm chuyên môn và lập báo cáo kết quả công tác đo địa chấn phản xạ đa kênh trên biển.

Việc quy định liên tục các bước từ chuẩn bị đến hoàn thiện sản phẩm giúp hình thành một quy trình kỹ thuật thống nhất. Mỗi công đoạn đều gắn với yêu cầu kiểm tra, ghi chép, lưu trữ và đánh giá chất lượng, qua đó hạn chế tình trạng thiếu đồng bộ giữa số liệu thực địa, quá trình xử lý và sản phẩm minh giải cuối cùng.

Một nội dung đáng chú ý là quy định cụ thể tỷ lệ và mạng lưới tuyến điều tra. Các tuyến dọc được bố trí song song với phương của đối tượng điều tra; các tuyến ngang cắt vuông góc hoặc gần vuông góc với tuyến dọc, đồng thời vượt ngoài ranh giới đối tượng để bảo đảm độ phủ cần thiết.

Thông tư xác lập sáu cấp tỷ lệ, từ 1:250.000 đến 1:5.000. Với tỷ lệ 1:250.000, khoảng cách giữa các tuyến ngang từ 2,5 đến 3 km, khoảng cách giữa các tuyến dọc từ 3 đến 3,5 km, phục vụ điều tra tổng thể. Ở tỷ lệ 1:100.000, khoảng cách tuyến ngang là 1-2 km, tuyến dọc là 1,5-3 km.

Đối với tỷ lệ 1:50.000, khoảng cách giữa các tuyến ngang từ 0,5 đến 1 km, giữa các tuyến dọc từ 1 đến 2 km. Tỷ lệ 1:25.000 được bố trí với khoảng cách tuyến ngang 0,25-0,5 km, tuyến dọc 0,5-1 km, tùy theo chuyên đề, mục tiêu và nhiệm vụ của đề án, dự án.

Hai tỷ lệ chi tiết 1:10.000 và 1:5.000 được áp dụng cho thăm dò khoáng sản. Trong đó, tỷ lệ 1:10.000 có khoảng cách giữa các tuyến ngang 0,1-0,25 km, tuyến dọc 0,25-0,5 km; tỷ lệ 1:5.000 có khoảng cách tuyến ngang 0,05-0,1 km, tuyến dọc 0,1-0,25 km.

Trong trường hợp cần thiết, tỷ lệ và khoảng cách tuyến có thể được điều chỉnh theo yêu cầu cụ thể của đề án nhưng phải được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt. Quy định này vừa tạo ra chuẩn kỹ thuật chung, vừa bảo đảm khả năng vận dụng phù hợp với đặc điểm địa chất, quy mô và mục tiêu của từng nhiệm vụ.

geological-survey-thumbnail-001_1784711311.jpg
ảnh minh hoạ

An toàn là yêu cầu xuyên suốt quá trình thi công

Hoạt động đo địa chấn trên biển được thực hiện trong điều kiện chịu tác động trực tiếp của sóng, gió, dòng chảy, độ rung của tàu và nhiều yếu tố bất lợi khác. Vì vậy, Thông tư đặt ra yêu cầu an toàn tương đối chặt chẽ đối với vận chuyển, lắp đặt, vận hành và theo dõi thiết bị.

Thiết bị phải được lắp đặt theo hướng bảo đảm an toàn vận hành, hạn chế rung lắc và va chạm khi tàu di chuyển. Hệ thống cấp điện, thu tín hiệu và định vị GPS phải được bố trí khoa học, giảm nhiễu; thiết bị phát - thu phải được cố định chắc chắn, có giải pháp chống trượt và dịch chuyển.

Sau khi lắp đặt, đơn vị thi công phải kiểm tra đồng bộ toàn bộ hệ thống, thử kết nối GPS, thử phát - thu tín hiệu và kiểm tra an toàn điện theo quy chuẩn kỹ thuật hiện hành.

Trước khi đưa thiết bị từ kho hoặc từ bờ lên tàu, đơn vị thi công phải kiểm kê, đối chiếu với danh mục thiết bị và phụ kiện; thực hiện biện pháp phòng ngừa va đập, hư hỏng trong quá trình nâng, hạ, di chuyển; sắp xếp đúng vị trí dự kiến lắp đặt hoặc khu vực lưu trữ tạm thời và có chằng buộc an toàn.

Việc bàn giao thiết bị giữa bộ phận vận chuyển, bốc xếp và bộ phận kỹ thuật lắp đặt phải được ghi chép, lập biên bản. Khi sử dụng cần cẩu, xe nâng hoặc phương tiện cơ giới chuyên dụng, đơn vị thi công phải tuân thủ quy định hiện hành về an toàn vận hành thiết bị nâng hạ.

Phòng lắp đặt máy phải có điều hòa nhiệt độ, đủ diện tích cho thiết bị và kỹ thuật viên làm việc, được bố trí cách xa buồng máy tàu và tại vị trí ít chịu ảnh hưởng của rung lắc. Cáp nguồn, tời cáp thu tín hiệu và đầu thu được bố trí tại sàn phía sau tàu, tạo không gian thuận lợi, an toàn cho vận hành.

Máy móc phải đặt trên bệ và được gia cố chắc chắn. Cáp cấp điện và cáp thu tín hiệu phải bố trí theo đường riêng. Máy phát điện phải đặt tại nơi thoáng, thuận tiện cho theo dõi trong suốt thời gian vận hành. Nguồn gây sóng địa chấn và đầu cáp máy thu phải được định vị bằng GPS.

Sau lắp đặt, đơn vị thi công phải kiểm tra toàn bộ kết nối, hoạt động của thiết bị và phần mềm thu thập số liệu; đo thử thiết bị dẫn đường GPS; kiểm tra hệ thống thu - phát địa chấn, hệ thống cách điện, tiếp địa, bảo vệ quá tải, ngắt mạch và phòng, chống cháy nổ.

Đo thử nghiệm là bước bắt buộc trước khi triển khai đại trà. Khu vực thử nghiệm phải có đặc điểm địa hình, địa chất đại diện cho vùng nghiên cứu. Nếu vùng điều tra có diện tích lớn, việc thử nghiệm có thể được thực hiện nhiều lần tại các khu vực khác nhau.

Qua đo thử, đơn vị thi công lựa chọn tốc độ chạy tàu; chiều sâu nguồn gây sóng và đầu thu; khoảng cách thu - phát; chiều dài cáp; khoảng cách giữa các lần gây sóng; độ dài ghi tín hiệu; bước số hóa và độ phân giải thời gian.

Thông số chỉ được chấp nhận khi băng ghi sóng địa chấn rõ nét, ít nhiễu; nhận biết được tín hiệu phản xạ từ các ranh giới địa chấn; phân biệt được các tập liền kề và đạt độ sâu nghiên cứu theo yêu cầu của đề án. Toàn bộ tài liệu và dữ liệu đo thử phải được lưu giữ như tài liệu nguyên thủy.

Khi đo chính thức, nguồn phát và đầu thu phải được cố định chắc chắn phía sau đuôi tàu. Hệ thống GPS của phao đầu, phao cuối dải đầu thu và nguồn phát phải kết nối ổn định với trạm điều khiển trung tâm.

Trong suốt quá trình đo, cán bộ kỹ thuật phải theo dõi trường sóng địa chấn và tình trạng hoạt động của thiết bị; ghi chép đầy đủ diễn biến; quan sát băng ghi trên màn hình để điều chỉnh thông số phù hợp với thực tế. Thiết bị kéo theo tàu cũng phải được giám sát liên tục nhằm kịp thời cảnh báo nguy cơ xảy ra sự cố.

Kết thúc mỗi tuyến, số liệu và toàn bộ thông số đi kèm phải được sao lưu vào ổ cứng của máy trung tâm và một phương tiện lưu trữ khác như ổ cứng di động hoặc USB. Yêu cầu này nhằm bảo đảm tính nguyên thủy, hạn chế nguy cơ mất dữ liệu và tạo cơ sở kiểm tra, nghiệm thu sau này.

Nếu máy móc gặp sự cố không thể khắc phục trên biển, thiết bị mất kết nối hoặc nguồn phát không hoạt động, đơn vị thi công phải lập biên bản, báo cáo cấp có thẩm quyền, dừng thi công và đưa thiết bị vào bờ để kiểm tra, sửa chữa.

Chuẩn hóa dữ liệu, minh giải và sản phẩm điều tra

Sau thực địa, số liệu được xử lý bằng các phần mềm chuyên dụng như VISTA 2D-3D Seismic Processing, RadExPro Professional, ProMax hoặc phần mềm có tính năng tương đương.

Quy trình xử lý gồm gán tọa độ hình học cho điểm gây sóng và máy thu; hiệu chỉnh ảnh hưởng của thủy triều và độ cong của dải máy thu; loại bỏ hoặc làm giảm nhiễu liên kết, nhiễu ngẫu nhiên; hiệu chỉnh động; phân tích phổ, lọc tần số; hiệu chỉnh biên độ; cộng điểm sâu chung và thực hiện các kỹ thuật xử lý nâng cao.

Các kỹ thuật nâng cao có thể gồm bộ lọc f-k, tau-p, hiệu chỉnh phân kỳ, cân bằng phổ, phân tích vận tốc và dịch chuyển địa chấn. Sơ đồ tại trang 9 của văn bản thể hiện chuỗi xử lý từ nhập băng địa chấn định dạng SEG-D hoặc SEG-Y, gán giá trị hình học, lọc nhiễu, phục hồi biên độ, sắp xếp điểm sâu chung đến phân tích tốc độ, cộng điểm sâu chung, dịch chuyển sau cộng và xây dựng mặt cắt địa chấn.

Trong quá trình xử lý, đơn vị thực hiện phải tham khảo tài liệu địa vật lý giếng khoan, tài liệu đo địa chấn dọc thành lỗ khoan hoặc dữ liệu địa chấn của khu vực lân cận nếu có. Nhật ký xử lý, thông số phần mềm, kết quả và tệp dữ liệu trung gian phải được lưu giữ đầy đủ.

Minh giải địa chấn là quá trình giải thích bản chất địa chất từ dữ liệu đã xử lý. Công việc này được thực hiện bằng phần mềm chuyên dụng như Kingdom Software, Petrel, đồng thời kết hợp với tài liệu địa chất, địa vật lý khác.

Quy trình minh giải bắt đầu từ lựa chọn tuyến chuẩn, ưu tiên tuyến có ranh giới phản xạ rõ, có lỗ khoan hoặc cắt qua phương cấu trúc địa chất. Tiếp đó, cán bộ kỹ thuật xác định ranh giới các tập địa chấn, vị trí giao cắt giữa tuyến ngang và tuyến dọc, các đoạn chờm phủ, rồi liên kết ranh giới cho toàn vùng điều tra.

Các đứt gãy kiến tạo được nhận diện thông qua sự dịch chuyển có hệ thống của mặt phản xạ, sự xuất hiện của đới mất sóng hoặc sóng phản xạ từ mặt trượt. Trên cơ sở đó, đơn vị thực hiện khoanh định khu vực có triển vọng khoáng sản thông qua cấu trúc vòm, mặt phản xạ mô phỏng đáy, yếu tố kiến tạo, magma, núi lửa ngầm và các dấu hiệu địa chất liên quan.

Sản phẩm cuối cùng gồm số liệu thực địa dạng số theo định dạng SEG-Y hoặc tương đương quốc tế; băng ghi giấy nếu có; nhật ký đo; tài liệu thử nghiệm, sự cố; báo cáo kết quả; sơ đồ thực tế thi công; mặt cắt địa chấn; mặt cắt địa chấn - địa chất và các bản đồ minh giải.

Mặt cắt địa chấn - địa chất phải thể hiện ranh giới địa chấn - địa chất, đứt gãy kiến tạo, đới phá hủy, cấu trúc có khả năng chứa quặng và, trong điều kiện thuận lợi, các đối tượng khoáng sản được xác định từ dữ liệu địa chấn.

Báo cáo kết quả phải trình bày cơ sở pháp lý, tình hình thực hiện khối lượng, đặc điểm vùng công tác, máy móc và phương pháp kỹ thuật, chất lượng tài liệu, kết quả xử lý - minh giải, hiệu quả kinh tế, những tồn tại và kiến nghị.

Thông tư cũng ban hành mẫu sổ nhật ký đo địa chấn phản xạ đa kênh trên biển, gồm bìa sổ, trang ghi thông tin từng tuyến và trang theo dõi tình trạng máy. Việc chuẩn hóa biểu mẫu không chỉ phục vụ quản lý kỹ thuật mà còn tăng khả năng truy xuất, kiểm tra và xác định trách nhiệm khi xảy ra sự cố.

Theo Thông tư, Cục trưởng Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam có trách nhiệm phổ biến, kiểm tra việc thực hiện. Các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, UBND tỉnh, thành phố và tổ chức, cá nhân có liên quan chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện; khó khăn, vướng mắc phát sinh được phản ánh về Bộ Nông nghiệp và Môi trường để xem xét, giải quyết.

Với việc quy định rõ mạng lưới điều tra, yêu cầu an toàn, quy trình xử lý và hệ thống sản phẩm, Thông tư tạo cơ sở kỹ thuật thống nhất cho hoạt động đo địa chấn phản xạ đa kênh trên biển. Đây là bước cần thiết để nâng cao độ tin cậy của dữ liệu điều tra địa chất, phục vụ đánh giá tiềm năng khoáng sản biển và tăng hiệu quả quản lý nhà nước đối với tài nguyên địa chất, khoáng sản.

 

Hồng Minh