news

Chuyển đổi từ điện than sang năng lượng tái tạo, đặc biệt là điện gió

Thứ năm, 17/11/2022, 10:52 (GMT+7)
logo Trả lời phỏng vấn báo chí bên lề Hội nghị COP27, Bộ trưởng Bộ TN&MT Trần Hồng Hà đã chia sẻ: Việt Nam có vùng biển trải dài với nguồn năng lượng gió rất lớn, còn trong đất liền là điện mặt trời. Tận dụng nguồn tài nguyên này, phục vụ nhu cầu trong nước là một phần. Trong tương lai, Việt Nam sẽ thành một nước xuất khẩu năng lượng cho khu vực Đông Nam Á và châu Á - Thái Bình Dương.

Bộ trưởng Trần Hồng Hà cho biết, Việt Nam tiếp tục thể hiện vai trò là đất nước có trách nhiệm, chung tay cùng thế giới thực hiện các mục tiêu của Thỏa thuận Paris về BĐKH, cam kết phát thải ròng bằng “0” đến năm 2050. Chúng ta tích cực đàm phán để các Bên đưa ra được những cam kết cụ thể. Tuy nhiên, các điều kiện hỗ trợ càng chi tiết hơn sẽ đảm bảo tính hiệu quả cao hơn như: Hỗ trợ  các vấn đề về cơ cấu nguồn vốn, chính sách ưu đãi của mỗi nguồn vốn; hỗ trợ về kỹ thuật để sớm đánh giá được tổng thể tiềm năng năng lượng tái tạo của Việt Nam. Đây là cơ sở để đưa ra quy hoạch năng lượng mang tính chất tổng thể, bao gồm nguồn điện tái tạo, các ngành công nghiệp phụ trợ, hệ thống hạ tầng truyền tải điện thông minh, sản xuất hydro xanh, amoniac xanh, quá trình vận chuyển bảo quản nhiên liệu... và phát huy được tiềm năng thế mạnh về năng lượng tái tạo.

Chuyển đổi từ điện than sang năng lượng tái tạo, đặc biệt là điện gió

Bộ trưởng Bộ TN&MT Trần Hồng Hà khẳng định Việt Nam cam kết sẽ tiến hành chuyển đổi năng lượng, thích ứng với BĐKH

Hơn 3260 km đường bở biển rất nhiều tiềm năng điện gió ngoài khơi

Báo cáo của Tổng cục KTTV cho thấy, Việt Nam là nước nằm trong vùng gió mùa châu Á mạnh và ổn định, nên tiềm năng năng lượng gió được đánh giá là rất dồi dào. Theo kết quả khảo sát của chương trình đánh giá về năng lượng cho châu Á của Ngân hàng Thế giới (WB), Việt Nam có tiềm năng gió trung bình so với các nước trên thế giới và trong khu vực nhưng thuộc diện lớn nhất trong khu vực Đông Nam Á với tổng tiềm năng điện gió ước đạt 513.360 MW, lớn gấp 200 lần công suất của nhà máy thuỷ điện Sơn La và hơn 10 lần tổng công suất dự báo của ngành điện Việt Nam năm 2020. Các vùng biển được đánh giá có mật độ tài nguyên năng lượng gió cao như Vịnh Bắc Bộ, khu vực giữa và Nam Biển Đông. Vùng biển kéo dài dọc theo hướng Đông Bắc - Tây Nam từ eo biển Đài Loan tới vùng biển ngoài khơi Nam Bộ nước ta có tiềm năng năng lượng cao nhất, đạt 300-600 W/m2. Trong đó, khu vực ven biển cực Nam Trung Bộ có mật độ năng lượng khoảng 400-600 W/m2. Ngoài ra trên khu vực vịnh Bắc Bộ cũng có mật độ năng lượng đạt 300-400 W/m2. Đánh giá mới nhất về tiềm năng năng lượng gió trên Biển Đông sử dụng mô hình động lực với độ phân giải ngang 10km, mô phỏng trong trong 10 năm, cho thấy tiềm năng năng lượng gió được đánh giá cao hơn đáng kể so với các nghiên cứu trước đây, với phân bố mật độ năng lượng gió phổ biến 500-1400W/m2. Trong đó, các vùng biển có có mật độ năng lượng gió lớn đáng chú ý: Vịnh Bắc Bộ, Khu vực QĐ. Hoàng Sa, QĐ. Trường Sa, khu vực giữa Biển Đông và ven biển Nam Trung Bộ.

Hiện tại, đối với khu vực biển Việt Nam, yếu tố gió chủ yếu được quan trắc tại các trạm ven bờ và một số đảo chính như Bạch Long Vĩ, Cô Tô, Cồn Cỏ, Lý Sơn, Phú Quý, Côn Đảo, Thổ Chu, Phú Quốc, Song Tử Tây, Trường Sa. Độ cao quan trắc khoảng 10-60m trên bề mặt biển, thấp hơn so với độ cao khai thác năng lượng gió (60-100m). Chính vì vậy cần quan trắc bổ sung liên tục, đủ dài (cỡ 1 năm) và tại các mức độ cao khai thác (từ 60-100m) để có thể đánh giá đầy đủ tiềm năng năng lượng gió.

Trong khuôn khổ Hội nghị COP 27, tại Hội nghị Bàn tròn về thu hút tài chính hỗ trợ Việt Nam thực hiện các cam kết về BĐKH, do Liên minh tài chính Glasgow vì mục tiêu phát thải ròng bằng “0” (GFANZ) tổ chức, Bộ trưởng Trần Hồng Hà cho biết: Việt Nam cam kết sẽ tiến hành chuyển đổi năng lượng, thích ứng với BĐKH và mong muốn GFANZ sẽ hỗ trợ đẩy nhanh hơn nữa quá trình này. Để đóng góp vào mục tiêu giữ nhiệt độ toàn cầu tăng không quá 1,5 độ C và phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050, Việt Nam cần làm chủ công nghệ sản xuất khí Hydro, amoniac xanh, cách thức vận chuyển và lưu trữ năng lượng; giải pháp đảm bảo lưới điện bền vững. Việt Nam có đường bở biển dài có bờ biển dài, nhiều tiềm năng điện gió ngoài khơi và các nguồn năng lượng tái tạo khác rất dồi dào. Mặc dù vậy, chưa nói đến kinh phí đầu tư điện gió, quá trình chuyển đổi có thể gây khó khăn về đảm bảo việc làm cho người lao động. Các nước phát triển cũng cần làm rõ cam kết tài chính 100 tỷ USD dành cho ứng phó BĐKH, không chỉ tập trung vào chuyển đổi năng lượng mà còn dùng cho nhiều mục tiêu ứng phó với BĐKH khác. Theo lộ trình chuyển đổi của Việt Nam, nên chia theo từng bước tận dụng hiệu quả các nguồn tài chính và dần mở rộng phạm vi trong những giai đoạn tiếp theo. Xét đến quy mô và cơ hội, Việt Nam kỳ vọng sẽ tập trung vào: Điện gió, hydrogen, ưu tiên cho nhu cầu trong nước và có thể xuất khẩu.

Chuyển đổi từ điện than sang năng lượng tái tạo, đặc biệt là điện gió

Hội nghị COP 27  kêu gọi thêm nhiều quốc gia tham gia phát triển điện gió ngoài khơi

Cũng tại cuộc họp cấp cao của Ngân hàng Thế giới (WB), về vấn đề đẩy mạnh các chương trình giảm phát thải bằng cách sử dụng các nguồn tài chính khí hậu, Bộ trưởng Trần Hồng Hà khẳng định, một cơ chế mới rất cần thiết nhằm phát huy vai trò của WB trong việc kết nối các nguồn quỹ như: Quỹ môi trường, quỹ BĐKH và các quỹ khác. Việt Nam hoan nghênh mô hình hỗ trợ của WB gần đây, có dự án hỗ trợ kỹ thuật, hỗ trợ đầu tư bao gồm đóng góp của Chính phủ, các nhà đầu tư tư nhân. Đây là một hình thức quan trọng trong thời gian tới. Việt Nam mong muốn chuyển đổi từ điện than sang năng lượng tái tạo, đặc biệt là điện gió ngoài khơi do có tiềm năng năng lượng gió lớn. Với cơ chế mới, Việt Nam kỳ vọng, WB sẽ điều phối tốt nhất, hiệu quả nhất nhằm tạo ra nguồn tài chính khí hậu để hỗ trợ Việt Nam thực hiện những hoạt động giảm phát thải ưu tiên.

Khai thác, sử dụng năng lượng gió là xu hướng tất yếu

Tại COP 27, TS. Tăng Thế Cường, Cục trưởng Cục BĐKH cho biết, Việt Nam là nước cam kết phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050 và cần chuyển đổi năng lượng. Việt Nam là quốc gia Đông Nam Á nhưng có tiềm năng phát triển điện gió ngoài khơi lớn. Tiềm năng phát triển điện gió có thể nâng lên 600GW. Hiện nay, Việt Nam đã ban hành Chiến lược quốc gia về BĐKH giai đoạn đến năm 2050 với mục tiêu phát thải ròng bằng “0”. Đồng thời, Việt Nam đã đệ trình NDC cập nhật năm 2022, tổng lượng phát thải giảm 43,5% so với BAU năm 2030 (đóng góp có điều kiện). Cũng như Inddonesia, Việt Nam đang đàm phán với các quốc gia G7 về Tuyên bố chính trị Quan hệ đối tác chuyển đổi năng lượng công bằng (JETP), và hy vọng cuối năm sẽ hoàn thành.

Để thực hiện được JETP, Việt Nam gặp phải một số thách thức. Trước tiên là thiếu các công nghệ để chuyển đổi năng lượng, cần hợp tác với các nước khác sản xuất hydrogen, phát triển công nghệ lưu trữ khí thải CO2. Để đẩy nhanh quá trình phát thải ròng bằng “0”, Việt Nam có nhu cầu nguồn lực lớn và cần hỗ trợ từ các đối tác, đặc biệt là tài chính để giải quyết vấn đề các dự án nhà máy điện than chưa hết vòng đời. Một nhà máy cần 30 - 40 năm vận hành. Trong bối cảnh tăng dần điện gió, điện mặt trời, cách thức đền bù đối với các nhà máy điện than mới xây dựng và vận hành mà phải đóng cửa sớm như thế nào. Bên cạnh đó, cần tập trung vào phần “công bằng” trong JETP, cần chuyển đổi nghề cho các công nhân đang làm trong ngành khai thác than.

Tại cuộc họp mới đây về nghiên cứu, phát triển năng lượng gió, GS.TS. Trần Hồng Thái, Tổng cục trưởng Tổng cục KTTV cho rằng, việc khai thác, sử dụng năng lượng gió là xu hướng tất yếu và cần thiết, chúng ta cần có những bước đi cụ thể, rõ ràng trong quá trình triển khai thực hiện. Vai trò của ngành KTTV đóng vai trò quan trọng trong công tác nghiên cứu, thực hiện nhiệm vụ trên. Vì vậy, các đơn vị liên quan cùng phối hợp xây dựng báo cáo tổng hợp, đánh giá các nghiên cứu liên quan, phân tích, đánh giá các phương pháp thực hiện trong và ngoài nước tất cả các phân vùng gió, tiềm năng năng lượng gió, điều kiện về phân vùng thiên tai, phân vùng khí hậu, môi trường khu vực cần đánh giá. Tập trung phân tích các điều kiện tác động đến khu vực nghiên cứu, xin ý kiến các chuyên gia trước khi trình báo cáo lên Bộ TN&MT; xây dựng kế hoạch triển khai bước tiếp theo đánh giá cụ thể, chi tiết gợi mở các tiềm năng cho khu vực gửi các bộ, ban, ngành áp dụng thực hiện, nâng cao vị thế, vai trò then chốt của ngành KTTV trong thời gian tới.

PHƯƠNG ĐÔNG