“Chuyển động xanh” mở lối cho thị trường các-bon xanh dương tại Việt Nam

“Chuyển động xanh” mở lối cho thị trường các-bon xanh dương tại Việt Nam

Thứ năm, 18/6/2026, 21:06 (GMT+7)
logo Trong bối cảnh Việt Nam đang từng bước hiện thực hóa cam kết phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050, việc phát triển thị trường các-bon, đặc biệt là các-bon xanh dương, đang trở thành một trong những hướng đi quan trọng nhằm kết hợp giữa bảo tồn thiên nhiên và phát triển kinh tế xanh.
2_1781848295.jpg
TS. Trần Đình Lý - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh phát biểu

Sự siện hội thảo “Chuyển động xanh: Từ chính sách đến tạo dựng giá trị trên thị trường các-bon xanh dương tại Việt Nam”, diễn ra trong hai ngày 17 - 18/6, tại Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh, đã góp phần làm rõ tiềm năng, cơ hội và lộ trình phát triển… lĩnh vực còn khá mới mẻ nhưng đầy triển vọng này.

Diễn đàn kết nối chính sách, khoa học và thị trường

Hội thảo do Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh phối hợp cùng Tổ chức Nghiên cứu Lâm nghiệp Quốc tế và Đại học Flinders tổ chức, quy tụ đông đảo đại diện các cơ quan quản lý nhà nước, tổ chức quốc tế, chuyên gia, doanh nghiệp, nhà đầu tư và các bên liên quan… trong lĩnh vực khí hậu, tài chính xanh và thị trường các-bon.

Phát biểu tại sự kiện, TS. Trần Đình Lý - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh, nhấn mạnh vai trò của Nhà trường trong đào tạo, nghiên cứu và kết nối tri thức phục vụ phát triển bền vững. Hội thảo được kỳ vọng trở thành diễn đàn đa ngành, đa bên, góp phần thúc đẩy hợp tác nghiên cứu, tư vấn chính sách và phát triển các mô hình các-bon xanh dương phù hợp với điều kiện Việt Nam.

Tại hội thảo, các chuyên gia nhận định, Việt Nam sở hữu nhiều lợi thế để phát triển các-bon xanh dương nhờ hệ thống rừng ngập mặn, thảm cỏ biển và vùng đất ngập triều phong phú… Đây là những hệ sinh thái có khả năng hấp thụ và lưu giữ lượng lớn khí các-bon, đồng thời đóng vai trò quan trọng trong bảo vệ bờ biển, duy trì đa dạng sinh học, hỗ trợ sinh kế cộng đồng và nâng cao khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu.

3_1781848295.jpg
Nội dung nhận được nhiều sự quan tâm tại hội thảo là cơ chế tài chính cho các dự án các-bon xanh dương...

Theo các báo cáo chuyên đề, việc Chính phủ ban hành các quy định liên quan đến thị trường các-bon, trao đổi tín chỉ các-bon và dịch vụ hấp thụ, lưu giữ các-bon của rừng… đang tạo nền tảng pháp lý quan trọng cho việc hình thành các dự án các-bon rừng và các-bon xanh dương trong tương lai. Tuy nhiên, để biến tiềm năng thành giá trị kinh tế thực sự, Việt Nam cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống đo đạc, báo cáo và thẩm định, làm rõ quyền các-bon, cơ chế chia sẻ lợi ích và bảo đảm tính minh bạch của tín chỉ các-bon.

Một trong những nội dung nhận được nhiều sự quan tâm tại hội thảo là cơ chế tài chính cho các dự án các-bon xanh dương. Các đại biểu cho rằng không nên xem các-bon xanh dương đơn thuần là một loại hàng hóa môi trường, mà cần đặt trong hệ sinh thái tài chính rộng hơn, kết hợp giữa vốn ngân sách, nguồn ODA, tài chính khí hậu, tài chính tư nhân, cơ chế chi trả dịch vụ hệ sinh thái và thị trường các-bon…

Cách tiếp cận này không chỉ góp phần giảm thiểu rủi ro đầu tư, mà còn tạo ra nguồn vốn dài hạn cho công tác bảo tồn, phục hồi hệ sinh thái và phát triển sinh kế bền vững cho cộng đồng ven biển.

TP. Hồ Chí Minh hướng tới vai trò tiên phong

Trong ngày làm việc thứ hai, các phiên thảo luận tập trung vào tiềm năng phát triển các-bon xanh dương tại Đồng bằng sông Cửu Long và TP. Hồ Chí Minh. Đặc biệt, hệ sinh thái rừng ngập mặn Cần Giờ được đánh giá là một trong những khu vực có tiềm năng lớn để phát triển các dự án tín chỉ các-bon chất lượng cao.

1_1781848295.jpg
Ông Hồ Thanh Trúc - Phó Giám đốc Sở NN&MT TP. Hồ Chí Minh chia sẻ

Chia sẻ tại Hội thảo, ông Hồ Thanh Trúc - Phó Giám đốc Sở NN&MT TP. Hồ Chí Minh cho biết, việc mở rộng không gian phát triển đã giúp Thành phố sở hữu vùng sinh thái biển - ven biển - hải đảo có quy mô và giá trị hàng đầu cả nước, kết nối từ hệ thống sông ngòi nội đô đến Khu Dự trữ sinh quyển thế giới rừng ngập mặn Cần Giờ và Vườn quốc gia Côn Đảo… Đây được xem là cơ hội chiến lược để Thành phố phát triển kinh tế xanh, kinh tế biển xanh và từng bước hình thành thị trường các-bon xanh dương.

Theo Lãnh đạo Sở NN&MT TP. Hồ Chí Minh, giá trị cốt lõi của các-bon xanh dương không chỉ nằm ở khả năng hấp thụ khí nhà kính mà còn ở việc kiến tạo mô hình phát triển mới, trong đó bảo tồn thiên nhiên trở thành động lực tăng trưởng kinh tế và vốn tự nhiên được chuyển hóa thành nguồn lực cho phát triển bền vững.

Một nội dung xuyên suốt được nhấn mạnh tại hội thảo là vai trò của khoa học công nghệ trong việc xây dựng thị trường các-bon minh bạch và đáng tin cậy. Các công nghệ như viễn thám, GIS, trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big Data), ảnh vệ tinh và thiết bị bay không người lái… được xem là công cụ quan trọng để theo dõi, kiểm kê và xác minh lượng các-bon hấp thụ theo các tiêu chuẩn quốc tế.

TP. Hồ Chí Minh cũng khẳng định sẽ tiếp tục đầu tư hoàn thiện cơ sở dữ liệu số về rừng và đất ngập nước, đồng thời mở rộng hợp tác với các trường Đại học, viện nghiên cứu, doanh nghiệp công nghệ và các tổ chức quốc tế… nhằm xây dựng đội ngũ chuyên gia và làm chủ các phương pháp đánh giá trữ lượng các-bon theo chuẩn quốc tế.

4_1781848295.jpg
Hội thảo được kỳ vọng sẽ trở thành một nguồn lực mới, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của Việt Nam

Kết thúc hội thảo, các đại biểu thống nhất rằng phát triển thị trường các-bon xanh dương tại Việt Nam là quá trình dài hạn, đòi hỏi sự phối hợp đồng bộ giữa chính sách, khoa học, tài chính, doanh nghiệp và cộng đồng… Những thảo luận tại sự kiện không chỉ giúp nhận diện cơ hội và thách thức, mà còn mở ra các hướng hợp tác cụ thể trong xây dựng lộ trình hành động, phát triển dự án thí điểm và huy động nguồn lực cho lĩnh vực này.

Với lợi thế về tài nguyên thiên nhiên, sự phát triển của khoa học công nghệ, cùng quyết tâm của các địa phương và cộng đồng doanh nghiệp, các-bon xanh dương đang từng bước được định vị như cầu nối giữa bảo tồn thiên nhiên, ứng phó biến đổi khí hậu và phát triển kinh tế xanh… Đây được kỳ vọng sẽ trở thành một nguồn lực mới, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của Việt Nam trên hành trình phát triển bền vững và thực hiện mục tiêu phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050.

Nguyễn Kiên