Công nghệ - khởi nguồn năng suất cao cho nông nghiệp Đồng Tháp

Công nghệ - khởi nguồn năng suất cao cho nông nghiệp Đồng Tháp

Thứ bảy, 19/9/2026, 13:54 (GMT+7)
logo Đồng Tháp sở hữu lợi thế nổi bật về đất đai, nguồn nước, hệ thống sông Tiền, sông Hậu, vùng biển và mạng lưới giao thông kết nối với vùng Đông Nam Bộ, Thành phố Hồ Chí Minh và các cửa khẩu quốc tế. Đây là điều kiện thuận lợi để phát triển nền nông nghiệp hàng hóa hiện đại, quy mô lớn gắn với công nghiệp chế biến, logistics và xuất khẩu.

Chuyển từ phương thức sản xuất bằng “kinh nghiệm” sang sản xuất bằng dữ liệu

Tỉnh Đồng Tháp xác định nông nghiệp không chỉ là trụ đỡ của nền kinh tế, mà còn là nền tảng để phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, kinh tế số, đóng góp quan trọng vào tăng trưởng GRDP và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại.

Một trong những thay đổi căn bản của nông nghiệp Đồng Tháp là quá trình chuyển từ phương thức sản xuất dựa nhiều vào kinh nghiệm sang quản lý bằng dữ liệu và công nghệ. Đây không phải sự thay đổi mang tính hình thức. Khi thị trường xuất khẩu yêu cầu truy xuất nguồn gốc, khi thời tiết biến động khó dự báo, dịch bệnh diễn biến phức tạp và chi phí đầu vào tăng, người sản xuất cần biết chính xác cây trồng đang cần gì, vùng sản xuất đang đối mặt với nguy cơ nào và sản phẩm được tạo ra từ đâu.

Trong lĩnh vực trồng trọt, các hệ thống giám sát sâu bệnh, mã số vùng trồng, truy xuất nguồn gốc và dữ liệu sản xuất đang từng bước tạo ra nền tảng mới cho quản lý nông nghiệp.

dong-thap-3_1789539135.jpg
Đồng Tháp tiên phong về nông nghiệp sinh thái, nông thôn hiện đại. Ảnh: Thanh Bạch.

Theo số liệu của tỉnh, 100% dữ liệu từ tỉnh đến cấp xã đã được số hóa, công khai phục vụ người dân và doanh nghiệp; 24 hệ thống giám sát sâu rầy thông minh được duy trì tại các vùng trọng điểm sản xuất lúa. Đây là bước chuyển quan trọng bởi dữ liệu không chỉ phục vụ cơ quan quản lý mà ngày càng trở thành một đầu vào của sản xuất.

Khi có dữ liệu, việc phòng trừ sâu bệnh có thể chuyển từ phản ứng sang cảnh báo sớm; tưới tiêu có thể được điều chỉnh theo nhu cầu thực tế; sử dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật có thể chính xác hơn. Giá trị của công nghệ vì thế không nằm ở bản thân thiết bị mà nằm ở khả năng giảm những chi phí không cần thiết trong toàn bộ quá trình sản xuất.

Định hướng này phù hợp với Kế hoạch tái cơ cấu ngành Nông nghiệp năm 2026 của tỉnh Đồng Tháp, trong đó, chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo và xây dựng nền nông nghiệp trách nhiệm, minh bạch, hội nhập được xác định là một trong những hướng trọng tâm.

Công nghệ phải tạo ra năng suất và giá trị

Mục tiêu cuối cùng của khoa học công nghệ không phải là có thêm nhiều phần mềm hay thiết bị, mà là làm cho nông dân sản xuất hiệu quả hơn.

Trong ngành lúa gạo, điều này thể hiện rõ qua việc ứng dụng các quy trình canh tác tiên tiến. Những mô hình “3 giảm 3 tăng”, “1 phải 5 giảm”, tưới ngập khô xen kẽ, quản lý rơm rạ,... đang giúp giảm giống, phân bón và thuốc bảo vệ thực vật, đồng thời, nâng năng suất và lợi nhuận.

Các mô hình tại Đồng Tháp ghi nhận lượng giống giảm 46-53%, phân bón hóa học giảm 38-42%, thuốc bảo vệ thực vật giảm 22-37%; năng suất tăng 420-442 kg/ha và lợi nhuận tăng 4,5-7 triệu đồng/ha/vụ. Đồng thời, lượng phát thải giảm 3,1-4,9 tấn CO₂ tương đương/ha/vụ. Đây là minh chứng quan trọng cho thấy, năng suất trong nông nghiệp hiện đại không chỉ được tính bằng số lượng sản phẩm tạo ra, mà còn phải tính bằng hiệu quả sử dụng tài nguyên.

Kết quả từ Đề án một triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp ở Đồng bằng sông Cửu Long cũng cho thấy, hướng đi này đang hình thành ở quy mô lớn. Đến tháng 3/2026, diện tích thực hiện đạt 354.839 ha, tương đương 197% mục tiêu giai đoạn đầu.

dong-thap_1789538152.jpg
Đồng Tháp áp dụng quy trình mới triển khai Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp. Ảnh: VOV

Trong chăn nuôi, công nghệ cũng đang đi sâu vào từng công đoạn. Đồng Tháp hiện có 177 cơ sở chăn nuôi gia súc, gia cầm đầu tư các công nghệ cao như chuồng lạnh, hệ thống cho ăn và uống tự động, năng lượng mặt trời, thu gom trứng và phân tự động, camera giám sát, phần mềm quản lý thức ăn, thuốc thú y và vaccine.

Đáng chú ý, 88% cơ sở sản xuất chăn nuôi xử lý chất thải bằng biogas hoặc các giải pháp công nghệ xử lý, sử dụng hiệu quả và sạch. Như vậy, công nghệ không chỉ phục vụ tăng năng suất mà còn giải quyết bài toán môi trường, tiết kiệm chi phí và hướng tới sản xuất tuần hoàn.

Trong thủy sản, 822 cơ sở nuôi trồng thủy sản và tàu cá đã được cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện an toàn thực phẩm; 376,39 ha nuôi thủy sản áp dụng các tiêu chuẩn GlobalGAP, ASC, BAP. Công nghệ, tiêu chuẩn và dữ liệu đang ngày càng gắn chặt với nhau để kiểm soát chất lượng sản phẩm từ sản xuất đến thị trường.

Chuyển đổi số cũng đang đi sâu vào kinh tế hợp tác. Đồng Tháp đã đào tạo, hướng dẫn cho 314 hợp tác xã nông nghiệp và hơn 120 Hội quán; hơn 79.000/95.000 thành viên, người lao động hợp tác xã và Hội quán, tương đương khoảng 85%, có kiến thức cơ bản về công nghệ số và kỹ năng sử dụng thiết bị thông minh phục vụ sản xuất kinh doanh.

Việc hỗ trợ 100% sản phẩm OCOP lên sàn thương mại điện tử cũng mở rộng không gian thị trường cho nông sản. Khi sản xuất, dữ liệu, truy xuất và thương mại điện tử được kết nối, người nông dân có cơ hội rút ngắn khoảng cách với người tiêu dùng và doanh nghiệp.

dong-thap-2_1789538444.jpg
Đồng Tháp đang tập trung quyết liệt để cùng cả nước gỡ "thẻ vàng" thủy sản. Ảnh: T. Đạt

Đối với thủy sản khai thác, 100% tàu cá đã lắp đặt thiết bị giám sát hành trình hoạt động; 100% tàu cá xuất nhập bến và hồ sơ cấp biên nhận được thực hiện trên hệ thống truy xuất nguồn gốc thủy sản khai thác điện tử eCDT. Những con số này cho thấy chuyển đổi số đang từng bước chuyển từ “số hóa hồ sơ” sang quản trị hoạt động sản xuất và kiểm soát chuỗi cung ứng.

Tỉnh cũng đang chuẩn bị nền tảng dữ liệu số nông nghiệp với các phân hệ về trồng trọt và bảo vệ thực vật, chăn nuôi và thú y, thủy sản, thủy lợi, lâm nghiệp, phát triển nông thôn, quản lý chất lượng và phát triển thị trường. Hướng đi này phù hợp với Kế hoạch chuyển đổi số tỉnh Đồng Tháp giai đoạn 2026-2030 và các kế hoạch phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo của tỉnh. Tuy nhiên, thách thức của chuyển đổi số nông nghiệp không nằm ở việc có bao nhiêu ứng dụng mà ở khả năng liên thông và sử dụng dữ liệu. Nếu dữ liệu vùng trồng không kết nối với dữ liệu sản xuất, truy xuất nguồn gốc không kết nối với thương mại và dữ liệu thời tiết không được tích hợp vào quyết định sản xuất, giá trị của chuyển đổi số sẽ bị phân mảnh.

Vì vậy, giai đoạn tới cần chuyển trọng tâm từ “số hóa” sang quản trị nông nghiệp bằng dữ liệu. Khi đó, khoa học công nghệ mới thực sự trở thành động lực của tăng trưởng.

Sáu tháng đầu năm 2026, GRDP của Đồng Tháp tăng 7,11% so với cùng kỳ; khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 4,2%. Tỉnh đặt mục tiêu khu vực này cả năm tăng khoảng 5,04%, cao hơn mức kế hoạch 4-4,5%. Đây là tín hiệu cho thấy, quá trình cơ cấu lại nông nghiệp đang tạo những chuyển biến tích cực. Tuy nhiên, để duy trì tốc độ tăng trưởng trong dài hạn, dư địa không còn nhiều nếu chỉ dựa vào mở rộng sản xuất. Đất đai hữu hạn, lao động nông nghiệp giảm, khí hậu biến đổi và thị trường ngày càng khó tính. Vì vậy, Đồng Tháp đang đứng trước một yêu cầu lớn hơn: Không chỉ số hóa nền nông nghiệp hiện có, mà phải dùng công nghệ để tái cấu trúc phương thức sản xuất.

Khi mỗi vùng trồng có dữ liệu, mỗi sản phẩm có mã truy xuất, mỗi quy trình sản xuất được kiểm soát và mỗi quyết định canh tác ngày càng dựa trên thông tin chính xác, nông nghiệp sẽ bước sang một trạng thái khác, ít phụ thuộc hơn vào đầu vào, giảm rủi ro hơn, minh bạch hơn và có khả năng tạo giá trị cao hơn. Đó chính là nền tảng để Đồng Tháp xây dựng một nền nông nghiệp năng suất cao nhưng không đánh đổi bằng tài nguyên; hiện đại nhưng không tách rời người nông dân; số hóa nhưng hướng đến giá trị thực của sản phẩm.

Phương Chi