Ngày 26/5, tại Hà Nội, Viện Chính sách Kinh tế môi trường phối hợp với UNDP Việt Nam và Viện Chiến lược, Chính sách nông nghiệp và môi trường (ISPAE) tổ chức Tọa đàm “Thực trạng và triển vọng áp dụng kinh tế tuần hoàn trong nông nghiệp".
Sự kiện nằm trong khuôn khổ Dự án “Thúc đẩy Kinh tế tuần hoàn cho doanh nghiệp” do Đại sứ quán Hà Lan tài trợ thông qua UNDP Việt Nam, nhằm trao đổi, đánh giá thực trạng triển khai kinh tế tuần hoàn trong nông nghiệp, đồng thời nhận diện những khó khăn, vướng mắc về cơ chế chính sách, công nghệ, tài chính và liên kết thị trường.
Cần có một hệ sinh thái chính sách đủ rõ, đủ ổn định và đủ khả thi
Phát biểu tại tọa đàm, PGS, TS. Nguyễn Thế Chinh - Phó Chủ tịch Hội Kinh tế môi trường Việt Nam, Viện trưởng Viện Chính sách Kinh tế môi trường cho rằng, việc tham vấn chính sách và lan tỏa tư duy kinh tế tuần hoàn đang nhận được sự hỗ trợ tích cực từ UNDP Việt Nam. Chuyển đổi từ mô hình kinh tế tuyến tính sang kinh tế tuần hoàn không chỉ giới hạn trong lĩnh vực kinh tế môi trường mà cần mở rộng sang nhiều ngành khác như khai thác khoáng sản, nông nghiệp hay sản xuất công nghiệp.
PGS, TS. Nguyễn Thế Chinh nhấn mạnh, các diễn đàn trao đổi chính sách có vai trò quan trọng trong việc tập hợp ý kiến chuyên gia, từ đó góp phần hoạch định chính sách phù hợp với thực tiễn phát triển của Việt Nam.
Ở góc nhìn bao quát hơn, bà Hoàng Thị Diệu Linh - đại diện UNDP Việt Nam cho biết, nhận thức của cộng đồng doanh nghiệp về kinh tế tuần hoàn đã thay đổi rõ rệt trong vài năm gần đây. Nếu như năm 2022, khái niệm này còn tương đối mới với nhiều doanh nghiệp, thì đến năm 2025, sau các chương trình đào tạo và hỗ trợ chính sách, nhiều doanh nghiệp đã chủ động xây dựng kế hoạch kinh doanh tuần hoàn, tìm kiếm tư vấn chuyên gia và kết nối với các tổ chức hỗ trợ.
Điều đó cho thấy kinh tế tuần hoàn đang dần chuyển từ phạm vi nhận thức sang nhu cầu hành động. Tuy nhiên, để doanh nghiệp, hợp tác xã và hộ sản xuất thực sự đầu tư vào mô hình tuần hoàn, cần có một hệ sinh thái chính sách đủ rõ, đủ ổn định và đủ khả thi.
Theo GS, TS. Hoàng Xuân Cơ - Trưởng ban khoa học, Hội Kinh tế môi trường Việt Nam, trong bối cảnh cạnh tranh nông sản ngày càng gay gắt, năng lực cạnh tranh không chỉ được quyết định bởi chất lượng, giá thành, mẫu mã hay tiếp thị, mà còn bởi yếu tố thân thiện với môi trường và tính minh bạch thông tin.
Từ góc nhìn đó, phụ phẩm nông nghiệp không nên bị coi đơn thuần là chất thải, mà cần được nhìn nhận là nguồn nguyên liệu thứ cấp có thể tạo ra giá trị mới. Trong chuỗi lúa gạo, rơm rạ là phụ phẩm có khối lượng rất lớn, giàu chất hữu cơ, cellulose và khoáng vi lượng, có thể phục vụ sản xuất phân hữu cơ, năng lượng sinh học, vật liệu xanh và các ngành công nghiệp sinh học. Không chỉ lúa gạo, các lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp và thủy sản đều phát sinh lượng lớn phụ phẩm, chất thải hữu cơ và vật liệu có thể tái chế.
GS, TS. Hoàng Xuân Cơ đề xuất cần tăng cường truyền thông tới cộng đồng, đầu tư cho nghiên cứu cơ bản, có cơ chế ưu tiên đối với ngành sản xuất sử dụng phụ phẩm nông nghiệp, đồng thời hỗ trợ các sản phẩm nông nghiệp có phụ phẩm được tái chế, tái sử dụng hiệu quả. Bên cạnh đó, việc nâng cao hiểu biết của người tiêu dùng và thúc đẩy thị trường cho sản phẩm có yếu tố tuần hoàn cũng là điều kiện quan trọng để mô hình này phát triển bền vững.
Chuẩn hóa bằng tiêu chí kỹ thuật, tiêu chí môi trường
TS. Lại Văn Mạnh - Trưởng ban Kinh tế tài nguyên và môi trường, Viện Chiến lược, Chính sách nông nghiệp và môi trường (Bộ NN&MT) cho rằng, để kinh tế tuần hoàn trong nông nghiệp đi vào thực tiễn, trước hết cần nhận diện đúng mô hình, phân loại rõ lĩnh vực áp dụng và xây dựng bộ tiêu chí phù hợp.
Một số mô hình phổ biến đã có nền tảng tại Việt Nam như vườn - ao - chuồng, vườn - ao - chuồng - rừng, lúa - tôm, lúa - cá, nông lâm kết hợp, sử dụng chất thải chăn nuôi để sản xuất biogas, ủ phân hữu cơ, nuôi trùn quế hoặc dùng phụ phẩm cây trồng làm thức ăn gia súc, đệm lót sinh học. Những mô hình này không mới, nhưng cần được chuẩn hóa bằng tiêu chí kỹ thuật, tiêu chí môi trường, cơ chế đo lường và khả năng nhân rộng.
Đối với trồng trọt, các tiêu chí có thể tập trung vào tỷ lệ phụ phẩm được thu gom, xử lý, tái chế, tái sử dụng; tỷ lệ giảm sử dụng phân bón hóa học, thuốc bảo vệ thực vật; mức giảm phát thải khí nhà kính nếu có. Đối với chăn nuôi, yêu cầu quan trọng là xử lý chất thải rắn, nước thải, khí metan, tái sử dụng phụ phẩm làm phân bón, năng lượng tái tạo hoặc sản phẩm hữu ích khác; đồng thời bảo đảm khả năng truy xuất nguồn gốc của phụ phẩm, chất thải và sản phẩm tạo ra.
“Đối với thủy sản, mô hình tuần hoàn có thể gắn với hệ thống nuôi tuần hoàn nước, biofloc, nuôi đa tầng, xử lý sinh học hoặc mô hình tích hợp nuôi - chế biến - năng lượng. Trong khi đó, các mô hình liên kết tuần hoàn cần chú trọng sự phù hợp với đặc điểm vùng, địa phương, khả năng thu gom phụ phẩm, tiêu chuẩn xử lý chất thải, nước thải và cơ chế hợp tác giữa nông dân, hợp tác xã, doanh nghiệp, viện nghiên cứu và cơ quan quản lý”, TS. Lại Văn Mạnh chia sẻ.
Phần lớn các ý kiến tại tọa đàm đều khẳng định, kinh tế tuần hoàn không còn là khái niệm xa vời, mà đang trở thành một yêu cầu cụ thể trong quá trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng nông nghiệp. Với nguồn phụ phẩm lớn, hệ thống sản xuất đa dạng, nhu cầu giảm phát thải ngày càng cấp thiết và áp lực tiêu chuẩn từ thị trường xuất khẩu, Việt Nam có nhiều lợi thế để phát triển nông nghiệp tuần hoàn.
Dù vậy, lợi thế chỉ có thể chuyển thành động lực phát triển nếu được hỗ trợ bằng chính sách rõ ràng, tiêu chí cụ thể, cơ sở dữ liệu đầy đủ, tín dụng xanh khả thi, công nghệ phù hợp và liên kết chuỗi hiệu quả. Kinh tế tuần hoàn trong nông nghiệp không chỉ là giải pháp môi trường, mà còn là con đường nâng cao năng lực cạnh tranh nông sản, gia tăng giá trị phụ phẩm, giảm chi phí sản xuất và xây dựng nền nông nghiệp xanh, bền vững hơn.