Chính sách về tài chính là công cụ quan trọng để nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với hoạt động khai thác và sử dụng tài nguyên khoáng sản. Tuy nhiên, trong quá trình triển khai thực tiễn, các quy định pháp luật về tài chính đối với hoạt động khoáng sản đã bộc lộ một số hạn chế, đặc biệt là trong việc xác định trách nhiệm người nộp thuế, sản lượng tài nguyên tính thuế, giá tính thuế tài nguyên và thuế suất thuế tài nguyên cũng như phương pháp tính tiền cấp quyền khai thác khoáng sản,… Do đó, đối với hoạt động khoáng sản hiện hành theo bốn giải pháp đổi mới cơ chế chính sách tài chính trong lĩnh vực khai khoáng được nêu trong Nghị quyết 02-NQ /TW của Bộ Chính trị ban hành ngày 25/4/2011 về định hướng chiến lược khoáng sản và công nghiệp khai khoáng đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, qua đó, đề xuất hoàn thiện cơ chế, chính sách về tài chính khoáng sản trong thời gian tới.

Thực trạng quản lý thuế tài nguyên tại Việt Nam
Từ năm 2010 đến nay, khung chính sách và pháp luật về tài nguyên khoáng sản của Việt Nam đã từng bước hoàn thiện khi Luật Khoáng sản được ban hành, tạo hành lang pháp lý để thực hiện minh bạch trong ngành công nghiệp nhiều triển vọng này, qua đó nâng cao năng lực quản trị. Mặc dù vậy, vẫn còn khoảng cách lớn giữa những chủ trương, quy định và thực tiễn thi hành. Ví dụ như liên quan đến cấp phép quyền khai thác khoáng sản cho doanh nghiệp, luật quy định thực hiện đấu giá quyền khai thác khoáng sản nhưng lại không quy định rõ tiêu chí lựa chọn doanh nghiệp đấu giá, khiến việc lựa chọn nhiều khi không đạt được mục tiêu là doanh nghiệp có đủ năng lực thực hiện. Ngoài ra, quy định hiện nay cũng không yêu cầu công khai quá trình cấp phép, từ thông tin doanh nghiệp đăng ký cấp phép cho đến doanh nghiệp được lựa chọn cấp phép nên mức độ minh bạch trong quá trình cấp phép rất hạn chế và thiếu tính cạnh tranh. Năm 2013, Việt Nam chỉ đứng thứ 41/58 quốc gia, xếp hạng yếu trong các đánh giá về mức độ minh bạch trong ngành công nghiệp khai khoáng. Năm 2017, Việt Nam chính thức áp dụng phương thức người nộp thuế tự khai, tự nộp thuế và tự chịu trách nhiệm về tính chính xác của số liệu kê khai. Theo cơ chế này, người nộp thuế căn cứ vào kết quả sản xuất kinh doanh trong kỳ khai thuế cùng những quy định pháp luật liên quan để xác định nghĩa vụ kê khai, nộp thuế vào ngân sách Nhà nước và chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính trung thực, chính xác của việc kê khai. Với việc áp dụng cơ chế tự khai, tự nộp, cơ quan thuế không can thiệp trực tiếp vào việc thực hiện nghĩa vụ thuế của người nộp thuế mà chỉ tập trung nguồn lực cho công tác tuyên truyền, hỗ trợ, hướng dẫn để người nộp thuế có đủ năng lực thực hiện nghĩa vụ đối với ngân sách Nhà nước, đồng thời tiến hành hậu kiểm và tăng cường giám sát, kiểm tra để chấn chỉnh, xử lý kịp thời các hành vi vi phạm.
Quản lý thuế tài nguyên đối với hoạt động khai thác khoáng sản cũng được đặt ra trong tổng thể hoạt động quản lý các khoản thu đối với khai thác khoáng sản. Ở địa phương, quy chế phối hợp trong công tác quản lý thu ngân sách Nhà nước đối với hoạt động khai thác khoáng sản được quy định khá rõ với sự tham gia của các cơ quan bao gồm: Sở Tài chính, Cơ quan Thuế, Sở TN&MT, Sở Công Thương, Sở Xây dựng, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Ban quản lý Khu kinh tế, Thanh tra, Công an, Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng, Ủy ban nhân dân các quận, huyện, Ủy ban nhân dân các xã, phường, thị trấn và các cơ quan, đơn vị liên quan đến hoạt động quản lý khai thác, mua bán, vận chuyển và sử dụng tài nguyên khoáng sản.
Nộp thuế được thực hiện theo cơ chế tự khai, tự nộp và được tính toán dựa trên sản lượng do doanh nghiệp tự khai báo. Theo đó, người nộp thuế có khả năng kê khai không đầy đủ sản lượng thực tế khai thác, kê khai không đúng chủng loại, hàm lượng tài nguyên khai thác; cơ quan thuế không đủ nguồn lực và khả năng xác định đúng sản lượng thực tế khai thác, đúng chủng loại, hàm lượng tài nguyên khai thác.
Cơ chế phối hợp giữa cơ quan thuế và cơ quan quản lý tài nguyên môi trường chưa đủ chặt chẽ. Việc phối hợp xác định sản lượng tài nguyên tính thuế được quy định tại Khoản 5 Điều 5 Thông tư 152/2015/TT-BTC, song chưa nêu rõ cách thức phối hợp kiểm tra thực địa tại khai trường, đồng thời chưa nêu rõ trình tự thủ tục để cơ quan tài nguyên môi trường thực hiện các biện pháp nghiệp vụ nhằm xác định sản lượng khai thác thực tế của doanh nghiệp khai khoáng. Mặt khác, hiện chưa có cơ chế phối hợp giữa các cơ quan quản lý Nhà nước để xác định trách nhiệm chủ trì, phối hợp cũng như trách nhiệm của người đứng đầu đối với quản lý thuế tài nguyên nói riêng và quản lý hoạt động khai thác tài nguyên nói chung.
Hoạt động khai thác và xuất khẩu tài nguyên lậu diễn ra khá phổ biến ở nhiều địa phương, thậm chí không loại trừ khả năng tham nhũng ở một số địa phương vì thực tế cho thấy nhiều vụ việc chỉ bị phát hiện và xử lý khi báo chí vào cuộc; không ít phản ánh của người dân trong nhiều trường hợp còn không được xử lý.
Một số quốc gia không thu thuế tài nguyên thì thu tiền cấp quyền khai thác khoáng sản dựa vào giá trị tự nhiên của tài nguyên khoáng sản với cách tính tương tự như thuế tài nguyên của Việt Nam. Một số quốc gia vừa thu thuế tài nguyên vừa thu tiền cấp quyền khai thác khoáng sản. Bên cạnh đó, tùy theo từng quốc gia mà có thể đánh thuế bảo vệ môi trường đối với một số sản phẩm từ hoạt động khai thác khoáng sản.
Hoàn thiện chính sách thuế
Do nguồn tài nguyên thiên nhiên được phân bố không đồng đều nên thu ngân sách từ thuế tài nguyên của các quốc gia rất khác nhau. Mặt khác, thu thuế tài nguyên cao hay thấp còn phụ thuộc nhiều vào tổng thể hệ thống chính sách thu ngân sách đối với hoạt động khai thác tài nguyên, ví dụ có quốc gia khuyến khích qua chính sách thuế thu nhập là chủ yếu nên mức thuế tài nguyên có thể thấp hơn dẫn đến số thu từ thuế tài nguyên nói riêng và thu ngân sách từ tài nguyên cũng thấp hơn. Điều này cho thấy, việc hoàn thiện chính sách thuế đối với hoạt động khai thác khoáng sản và xác định các khoản thuế, mức thuế của Việt Nam cần xem xét tổng thể các khoản thu liên quan đến hoạt động khai thác khoáng sản hiện có.
Để hoàn thiện chính sách tài chính khoáng sản, theo các chuyên gia Tổng hội địa chất Việt Nam, trước hết các cấp bộ, ngành địa phương cần đặc biệt chú ý đến mục tiêu phát triển kinh tế bền vững. Chính sách tài chính khoáng sản phải góp phần thúc đẩy khai thác, sử dụng hợp lý, tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, giảm thiểu phát thải cũng như các tác động tiêu cực cho môi trường.
Chính sách tài chính khoáng sản cần được coi là công cụ tài chính quan trọng nhằm quản lý hiệu quả khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên khoáng sản của quốc gia, thể hiện vai trò của Nhà nước đối với tài nguyên quốc gia và thực hiện chức năng quản lý Nhà nước đối với hoạt động khoáng sản. Trong quá trình xây dựng, sửa đổi chính sách, cần căn cứ vào các điều kiện cụ thể về điều kiện tự nhiên, sự phong phú và trữ lượng khoáng sản, mục tiêu phát triển KT-XH trong những giai đoạn lịch sử nhất định để xác định các khoản thuế phù hợp đối với hoạt động khai thác khoáng sản. Đồng thời, cần bổ sung các quy định cụ thể về cơ chế phối hợp giữa cơ quan thuế và cơ quan tài nguyên môi trường trong xác định sản lượng tài nguyên tính thuế. Cơ chế này cần làm rõ các vấn đề về cách thức phối hợp kiểm tra thực địa tại khai trường; trình tự thủ tục để cơ quan tài nguyên môi trường thực hiện các biện pháp nghiệp vụ giúp xác định sản lượng khai thác thực tế của doanh nghiệp khai khoáng. Cuối cùng cần tăng cường vai trò của chính quyền địa phương trong quản lý nguồn thu đối với khai thác tài nguyên thông qua xác lập trách nhiệm của người đứng đầu địa phương trong quản lý tài nguyên. Địa phương nào để xảy ra khai thác lậu, trốn thuế thì phải làm rõ trách nhiệm và phải xử lý kỷ luật người đứng đầu, tùy theo từng trường hợp mà xử lý trách nhiệm liên đới hoặc trách nhiệm chính.
THANH TÚ
Nguồn: Tạp chí Tài nguyên và Môi trường số 4 năm 2024