Dự thảo TCVN tín chỉ các-bon rừng: “Hàng rào kỹ thuật” bảo vệ uy tín thị trường các-bon Việt Nam

Dự thảo TCVN tín chỉ các-bon rừng: “Hàng rào kỹ thuật” bảo vệ uy tín thị trường các-bon Việt Nam

Thứ ba, 14/7/2026, 09:00 (GMT+7)
logo Khi Nghị định số 180/2026/NĐ-CP mở hành lang pháp lý cho dịch vụ hấp thụ và lưu giữ các-bon của rừng đi vào thị trường, yêu cầu đặt ra tiếp theo là phải chuẩn hóa cách tạo lập, đo đếm, xác minh và phát hành tín chỉ. Từ phần trình bày của ông Vũ Tấn Phương, Giám đốc Trung tâm Chứng nhận Quản lý rừng bền vững (VFCC), Dự thảo Tiêu chuẩn quốc gia về tín chỉ các-bon rừng không chỉ là một bộ yêu cầu kỹ thuật, mà còn là “hàng rào” bảo vệ tính minh bạch, khả năng truy xuất và uy tín của tín chỉ các-bon rừng Việt Nam.
carbon-rung_1783605659.jpg
Việt Nam là một trong những quốc gia có tiềm năng lớn về nguồn cung ứng tín chỉ carbon. Ngành nông nghiệp từ chăn nuôi, trồng trọt, trồng rừng đều có triển vọng chuyển hướng sang canh tác, sản xuất giảm phát thải khí nhà kính, với các giải pháp sản xuất nông nghiệp tuần hoàn, nông nghiệp sinh thái, nông nghiệp hữu cơ...

Chuẩn hóa tín chỉ các-bon rừng: bước đi cần thiết sau Nghị định số 180/2026/NĐ-CP

Sau khi Nghị định số 180/2026/NĐ-CP của Chính phủ quy định về dịch vụ hấp thụ và lưu giữ các-bon của rừng được ban hành, câu chuyện tín chỉ các-bon rừng không còn dừng ở tiềm năng. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để một kết quả giảm phát thải hoặc tăng hấp thụ các-bon từ rừng được chuyển hóa thành tín chỉ có thể giao dịch, được thị trường chấp nhận, được cơ quan quản lý xác nhận và không làm suy giảm trách nhiệm thực hiện cam kết khí hậu quốc gia.

Trong chương trình Hội nghị phổ biến Nghị định số 180/2026/NĐ-CP, tổ chức ngày 02/7/2026 tại Bộ Nông nghiệp và Môi trường, bên cạnh phần trình bày nội dung Nghị định và kế hoạch triển khai, chương trình dành thời lượng riêng để Trung tâm Chứng nhận Quản lý rừng bền vững chia sẻ về nội dung dự thảo Tiêu chuẩn các-bon rừng quốc gia. Việc đặt dự thảo TCVN trong cùng chương trình triển khai Nghị định cho thấy, thị trường các-bon rừng muốn vận hành không chỉ cần khung pháp lý, mà còn cần chuẩn kỹ thuật, quy trình đo đạc - báo cáo - thẩm định và năng lực xác minh độc lập.

Về Dự thảo Tiêu chuẩn quốc gia (TCVN) “Tín chỉ các-bon rừng - Các yêu cầu”, ông Vũ Tấn Phương, Giám đốc Trung tâm Chứng nhận Quản lý rừng bền vững (VFCC) cho biết, xác định phạm vi của tiêu chuẩn là “quy định các yêu cầu đối với tín chỉ các-bon rừng tạo ra từ dự án các-bon trong lĩnh vực lâm nghiệp và sử dụng đất”. Điều này cho thấy, TCVN không chỉ là hướng dẫn kỹ thuật nội bộ, mà là một chuẩn mực nhằm định hình chất lượng, tính hợp lệ và khả năng kiểm chứng của tín chỉ các-bon rừng trước khi tham gia thị trường.

Dự thảo TCVN được cấu trúc theo các nhóm nội dung chính: phạm vi áp dụng; yêu cầu đối với tín chỉ các-bon rừng; yêu cầu đối với dự án các-bon; đo đạc, báo cáo phát thải khí nhà kính và hấp thụ các-bon; bảo đảm an toàn môi trường - xã hội; thẩm định và xác minh. Đây là các nội dung cốt lõi tạo nên chuỗi kiểm soát từ “nguồn gốc dự án” đến “chất lượng tín chỉ”, từ “dữ liệu tính toán” đến “quy trình xác minh”, từ “lợi ích thị trường” đến “an toàn môi trường - xã hội”.

Điểm cốt lõi của dự thảo là đặt tín chỉ các-bon rừng vào một chuỗi yêu cầu chặt chẽ. Một tín chỉ không thể hình thành chỉ từ tuyên bố rằng, rừng có khả năng hấp thụ CO₂. Tín chỉ phải được tạo ra từ dự án hợp lệ; dự án phải có ranh giới, dữ liệu, phương pháp tính toán, mức tham chiếu, đánh giá rủi ro; kết quả phải được đo đạc, báo cáo, thẩm định, xác minh; đồng thời phải bảo đảm an toàn môi trường - xã hội và được đăng ký, cấp theo quy định.

Nếu Nghị định số 180 trả lời câu hỏi “ai được tham gia, tham gia theo nguyên tắc nào, giao dịch ra sao”, thì Dự thảo TCVN trả lời câu hỏi “một tín chỉ các-bon rừng đáng tin cậy phải được tạo ra, đo đếm và kiểm chứng như thế nào”. Hai lớp quy định này bổ sung cho nhau: một bên là hành lang pháp lý, một bên là hàng rào kỹ thuật.

co2_1783606031.png

Tín chỉ không chỉ là “tấn CO₂”, mà là kết quả có thể kiểm chứng

Theo ông Vũ Tấn Phương - Giám đốc Trung tâm Chứng nhận Quản lý rừng bền vững (VFCC), một tín chỉ các-bon rừng muốn được công nhận phải đáp ứng đồng thời nhiều điều kiện nền tảng: được tạo ra từ dự án các-bon hợp lệ trong lĩnh vực lâm nghiệp và sử dụng đất; tuân thủ quy định về xây dựng, đăng ký dự án và tiêu chuẩn các-bon áp dụng; tuân thủ phương pháp luận IPCC về tính toán các-bon; được bên thứ ba độc lập, đủ điều kiện thẩm định và xác minh; đồng thời tín chỉ phải được đăng ký và cấp theo quy định. Những yêu cầu này tạo thành lớp “kiểm soát chất lượng” đầu tiên, bảo đảm tín chỉ các-bon rừng không hình thành từ tuyên bố đơn phương, mà phải đi qua quy trình pháp lý, kỹ thuật và xác minh độc lập.

Đây là những điều kiện có ý nghĩa như bộ lọc đầu tiên của thị trường. Nếu thiếu dự án hợp lệ, tín chỉ không có nguồn gốc. Nếu thiếu tiêu chuẩn áp dụng, tín chỉ không có cơ sở đánh giá. Nếu không tuân thủ phương pháp luận IPCC, kết quả tính toán khó bảo đảm tính tương thích khoa học. Nếu không có bên thứ ba độc lập thẩm định, xác minh, tín chỉ dễ rơi vào tình trạng “tự công bố, tự công nhận”. Nếu không được đăng ký và cấp theo quy định, nguy cơ trùng lặp, tranh chấp hoặc sử dụng không đúng mục đích sẽ gia tăng.

Dự thảo xác định 5 nhóm biện pháp/dự án các-bon rừng có thể tạo tín chỉ, gồm: REDD+; trồng rừng mới hoặc xúc tiến tái sinh tự nhiên (A/R); nuôi dưỡng rừng tự nhiên, làm giàu rừng (IFM-N); nâng cao năng suất, kéo dài chu kỳ kinh doanh rừng trồng (IFM-P); canh tác nông lâm kết hợp và cây phân tán (AFP).

Cách phân nhóm này rất đáng chú ý. Nó cho thấy tín chỉ các-bon rừng không chỉ đến từ việc trồng thêm cây. Một tín chỉ có thể được hình thành từ việc hạn chế mất rừng và suy thoái rừng; phục hồi rừng nghèo; làm giàu rừng tự nhiên; nâng cao năng suất rừng trồng; kéo dài chu kỳ kinh doanh rừng trồng; hoặc đưa cây thân gỗ vào không gian sản xuất nông nghiệp, lâm nông kết hợp. Như vậy, thị trường các-bon rừng nếu vận hành đúng chuẩn sẽ tạo động lực không chỉ cho mở rộng diện tích rừng, mà còn cho nâng cao chất lượng và khả năng phục hồi của rừng.

Ở cấp độ dự án, ông Vũ Tấn Phương nhấn mạnh, các yêu cầu chung có tính bắt buộc: dự án phải tuân thủ quy định về đăng ký xây dựng, đăng ký dự án và tiêu chuẩn áp dụng; có quyền sử dụng hợp pháp đối với đất và rừng; tuân thủ pháp luật về quản lý đất, bảo vệ và phát triển rừng, bảo vệ môi trường; ranh giới vùng dự án phải rõ ràng trên bản đồ; có tính bổ sung; không trùng lặp; thông tin phục vụ tính toán các-bon phải đầy đủ, chính xác, nhất quán và minh bạch. Đây là những tiêu chí có ý nghĩa quyết định đối với tính hợp lệ của dự án, đồng thời ngăn ngừa nguy cơ “tạo tín chỉ trên giấy” hoặc ghi nhận trùng lặp cùng một kết quả giảm phát thải.

Trong các điều kiện này, “tính bổ sung” và “không trùng lặp” là hai khái niệm có ý nghĩa then chốt. Tính bổ sung giúp trả lời câu hỏi: kết quả giảm phát thải hoặc tăng hấp thụ các-bon có phát sinh nhờ can thiệp của dự án hay vẫn sẽ xảy ra nếu không có dự án? Không trùng lặp giúp bảo đảm cùng một kết quả không bị tính hai lần, không bị ghi nhận cho nhiều chủ thể hoặc nhiều mục đích khác nhau. Đây chính là nền tảng để tín chỉ các-bon rừng có thể được thị trường tin cậy.

Dự thảo cũng đặt ra yêu cầu cụ thể đối với đất và rừng theo từng nhóm dự án. REDD+ áp dụng với rừng tự nhiên trong đất liền và rừng vùng ven biển. Với A/R, nhóm trồng rừng mới hoặc xúc tiến tái sinh tự nhiên, dự thảo đề cập đất rừng phòng hộ, đặc dụng không có rừng trong thời gian tối thiểu 3 năm và đất chưa có rừng, có cây tái sinh. Với IFM-N, đối tượng là rừng tự nhiên nghèo, nghèo kiệt và rừng tre nứa có tỷ lệ che phủ trên 60%. Với IFM-P, đối tượng gồm rừng trồng sản xuất, phòng hộ, đặc dụng hiện có; đất trồng rừng sản xuất, phòng hộ sau khai thác; đồng thời có phương án quản lý rừng bền vững hoặc chứng chỉ quản lý rừng bền vững. Với AFP, đối tượng gồm đất lâm nghiệp được canh tác nông lâm kết hợp, đất trồng cây lâu năm, hằng năm và cây nông nghiệp khác, đất phi nông nghiệp phù hợp cho trồng cây thân gỗ.

Những yêu cầu cụ thể này có tác dụng ngăn thị trường đi vào hướng tự phát, nơi bất kỳ diện tích cây xanh nào cũng có thể được gắn nhãn tín chỉ các-bon. Ngược lại, dự thảo buộc mỗi dự án phải được đặt đúng loại hình, đúng điều kiện đất rừng, đúng giai đoạn tín chỉ, đúng thời gian duy trì và đúng tiêu chuẩn kỹ thuật.

MRV - “xương sống” của tín chỉ các-bon rừng

Một điểm quan trọng mà ông Vũ Tấn Phương đã đưa ra tại Hội nghị phổ biến Nghị định số 180/2026/NĐ-CP của Chính phủ quy định về dịch vụ hấp thụ và lưu giữ các-bon của rừng ngày 29/6 vừa qua là hệ yêu cầu về đo đạc, báo cáo phát thải và hấp thụ các-bon. Dự thảo quy định yêu cầu cho từng loại dự án, gồm xác định bể các-bon, nguồn phát thải, loại khí nhà kính; xây dựng dữ liệu hoạt động; xây dựng, lựa chọn hệ số phát thải; xác định mức tham chiếu; tính toán phát thải, hấp thụ trong giai đoạn báo cáo; xác định lượng giảm phát thải, tăng hấp thụ các-bon; đánh giá độ không chắc chắn; đánh giá nguy cơ rò rỉ, dịch chuyển, đảo nghịch phát thải; xác định lượng dự phòng và lượng tín chỉ cho giao dịch. Với chuỗi yêu cầu này, mỗi tín chỉ các-bon rừng không còn là một con số ước đoán, mà là kết quả của quá trình đo đếm, kiểm chứng và khấu trừ rủi ro theo chuẩn mực rõ ràng.

Chuỗi yêu cầu này cho thấy, tín chỉ các-bon rừng không thể được tạo ra bằng một phép tính đơn giản. Mỗi tín chỉ là kết quả của quá trình xác định “đầu vào” và “đầu ra” của dự án: rừng ở trạng thái nào, diện tích bao nhiêu, trữ lượng các-bon ra sao, phát thải nền là bao nhiêu, dự án can thiệp thế nào, kết quả thay đổi so với mức tham chiếu ra sao, có rủi ro rò rỉ hay đảo nghịch không, cần khấu trừ bao nhiêu trước khi xác định lượng tín chỉ có thể giao dịch.

Ở cấp độ bể các-bon và khí nhà kính, dự thảo phân loại các thành phần cần tính toán theo từng nhóm dự án. Sinh khối trên mặt đất của cây gỗ sống và sinh khối dưới mặt đất của cây gỗ sống được đặt ở nhóm bắt buộc đối với các loại dự án. Các bể khác như sinh khối cây bụi, thảm tươi; sinh khối cây chết, thảm mục; các-bon hữu cơ trong đất được phân loại theo từng loại dự án. Về khí nhà kính, carbon dioxide (CO₂) là khí được tính bắt buộc; các nguồn methane (CH₄) từ sử dụng nhiên liệu hóa thạch, methane từ đốt sinh khối và nitrous oxide (N₂O) từ sử dụng nhiên liệu hóa thạch cũng được phân loại theo từng nhóm dự án.

Nội dung này rất quan trọng vì rừng không chỉ hấp thụ CO₂ qua sinh khối cây gỗ. Các hoạt động can thiệp trong dự án có thể phát sinh khí nhà kính từ nhiên liệu, phân bón, đốt sinh khối hoặc thay đổi sử dụng đất. Nếu chỉ tính phần hấp thụ mà bỏ qua phát thải liên quan, tín chỉ có thể bị “đẹp hóa” trên hồ sơ. Do đó, việc đưa cả bể các-bon và các loại khí nhà kính vào khung tính toán là cách bảo đảm kết quả cuối cùng phản ánh đầy đủ hơn tác động thực của dự án.

Dự thảo cũng đặt yêu cầu về xây dựng số liệu hoạt động và hệ số phát thải. Dữ liệu hoạt động bao gồm phân tầng bảo đảm sự đồng nhất về rừng, đất, phương thức; số liệu không gian; hiện trạng rừng, sử dụng đất; ma trận thay đổi sử dụng đất; diện tích khai thác. Với các nguồn phát thải, dữ liệu có thể bao gồm khối lượng nhiên liệu hóa thạch sử dụng, khối lượng phân bón sử dụng, khối lượng sinh khối bị đốt, lượng gỗ khai thác. Hệ số phát thải có thể dựa trên mô hình toán, hệ số phát thải quốc gia, hệ số phát thải của IPCC và các công bố khoa học.

Điều này cho thấy, chuẩn kỹ thuật đang hướng tới sự kết hợp giữa dữ liệu không gian, dữ liệu hiện trạng rừng, dữ liệu hoạt động sản xuất - quản lý và hệ số phát thải có cơ sở khoa học. Trong thực tiễn, đây sẽ là điểm khó nhưng bắt buộc. Muốn có tín chỉ đáng tin cậy, các chủ dự án không thể chỉ dựa vào báo cáo mô tả, mà phải có bản đồ, dữ liệu, phương pháp phân tầng, hệ số phát thải, hồ sơ hoạt động và khả năng truy xuất.

Một nội dung quan trọng khác là xác định mức tham chiếu. Với REDD+, mức tham chiếu là lượng phát thải/hấp thụ trung bình năm trong giai đoạn tham chiếu; giai đoạn tham chiếu là giai đoạn quá khứ, tối thiểu 5 năm nhưng không quá 10 năm kể từ ngày bắt đầu dự án. Với A/R, mức tham chiếu mặc định bằng 0; trường hợp có thảm thực vật có khả năng sinh trưởng, phải ước tính dựa trên lượng phát thải do loại bỏ thảm thực vật. Với IFM-N, mức tham chiếu là lượng hấp thụ trung bình năm khi không thực hiện dự án các-bon. Với IFM-P và AFP, mức tham chiếu là lượng phát thải ròng trung bình năm khi không thực hiện dự án.

Mức tham chiếu chính là “đường nền” để xác định dự án tạo ra kết quả mới hay không. Nếu đường nền không đúng, toàn bộ lượng tín chỉ phát hành có thể bị sai lệch. Vì vậy, dự thảo đặt mức tham chiếu theo từng loại dự án là cách giảm nguy cơ dùng một công thức chung cho những mô hình rừng, đất và can thiệp rất khác nhau.

qc20260702144235_1783609825.jpg
Hội nghị phổ biến Nghị định số 180/2026/NĐ-CP quy định về dịch vụ hấp thụ và lưu giữ các-bon của rừng do Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) tổ chức sáng 2/7.

Khấu trừ rủi ro: cơ chế để tín chỉ không bị “thổi phồng”

Đáng chú ý, ông Vũ Tấn Phương đã đưa ra cơ chế đánh giá độ không chắc chắn, rủi ro và lượng dự phòng trước khi xác định lượng tín chỉ được giao dịch. Dự thảo yêu cầu đánh giá độ không chắc chắn ở khoảng tin cậy 90%, ưu tiên sử dụng phương pháp Monte Carlo. Tỷ lệ chiết khấu theo độ không chắc chắn được chia thành các mức: dưới 30% chiết khấu 5%; từ 30-60% chiết khấu 10%; từ 60-90% chiết khấu 15%; trên 90% chiết khấu 20%. Đối với nguy cơ rò rỉ, đảo nghịch phát thải, tỷ lệ chiết khấu tương ứng là 3% với rủi ro thấp, 5% với rủi ro trung bình và 10% với rủi ro cao. Công thức được đưa ra là: Lượng tín chỉ C = KQGPT - Khấu trừ U - Khấu trừ R. Đây là cơ chế quan trọng để tránh tình trạng tín chỉ bị “thổi phồng” so với kết quả giảm phát thải thực tế.

Bản chất của rừng là hệ sinh thái sống, chịu tác động của cháy rừng, sâu bệnh, khai thác, biến động sử dụng đất, thiên tai và hành vi con người. Một kết quả hấp thụ các-bon tại thời điểm báo cáo có thể bị đảo nghịch trong tương lai nếu rừng bị suy thoái hoặc bị mất. Một can thiệp bảo vệ rừng ở khu vực này cũng có thể làm phát sinh áp lực khai thác ở khu vực khác, tạo ra rò rỉ phát thải. Nếu không lượng hóa và khấu trừ rủi ro, tín chỉ được đưa ra thị trường có thể cao hơn giá trị thực.

Việc đưa khấu trừ rủi ro vào công thức tính tín chỉ cho thấy dự thảo không đi theo hướng tối đa hóa số lượng tín chỉ bằng mọi giá. Ngược lại, cách tiếp cận là thận trọng: kết quả giảm phát thải hoặc tăng hấp thụ phải được điều chỉnh theo mức độ chắc chắn và rủi ro trước khi trở thành tín chỉ có thể giao dịch. Đây chính là “hàng rào kỹ thuật” để ngăn tín chỉ bị thổi phồng, góp phần giữ uy tín cho thị trường các-bon rừng Việt Nam.

An toàn môi trường - xã hội: tín chỉ phải gắn với con người và cộng đồng

Một tín chỉ các-bon rừng có thể chính xác về mặt tính toán nhưng vẫn chưa đủ nếu quá trình tạo tín chỉ gây bất lợi cho cộng đồng, người lao động, đa dạng sinh học hoặc quyền tiếp cận tài nguyên của người dân địa phương. Vì vậy, Dự thảo TCVN dành một cấu phần riêng cho bảo đảm an toàn môi trường - xã hội.

Dự thảo xác định bốn nhóm yêu cầu chính. Thứ nhất là thúc đẩy phát triển lâm nghiệp, kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường, trong đó yêu cầu phù hợp với mục tiêu chiến lược, chính sách; tuân thủ pháp luật; bảo đảm quyền và điều kiện của người lao động; đóng góp cho mục tiêu khí hậu và bảo vệ đa dạng sinh học. Thứ hai là bảo đảm sự tham gia đầy đủ của các bên, bao gồm tham vấn đầy đủ trước và trong quá trình thực hiện, chia sẻ lợi ích công bằng, minh bạch, công khai. Thứ ba là xây dựng và thực hiện biện pháp giảm thiểu rủi ro, gồm nhận diện tác động tiêu cực đến môi trường, cộng đồng, nguy cơ rò rỉ, đảo nghịch phát thải; xây dựng và thực hiện kế hoạch giảm thiểu tác động môi trường, rò rỉ, đảo nghịch phát thải. Thứ tư là giải quyết tranh chấp, khiếu nại, với yêu cầu tuân thủ pháp luật, có cơ chế tiếp nhận, phản hồi phù hợp và lưu trữ hồ sơ tranh chấp, khiếu nại.

Những yêu cầu này giúp mở rộng cách hiểu về chất lượng tín chỉ. Chất lượng không chỉ nằm ở con số tCO₂e được tính toán, mà còn nằm ở cách dự án được triển khai: có tham vấn cộng đồng hay không, có chia sẻ lợi ích minh bạch hay không, có bảo đảm quyền của người lao động hay không, có phát sinh tác động tiêu cực đến môi trường và sinh kế hay không, có cơ chế xử lý khiếu nại hay không.

Đây là điểm đặc biệt quan trọng với các dự án các-bon rừng, bởi rừng thường gắn với cộng đồng địa phương, sinh kế nông thôn, đồng bào miền núi, chủ rừng, hộ nhận khoán, vùng đệm khu bảo tồn, rừng phòng hộ, rừng đặc dụng. Nếu thị trường các-bon chỉ tập trung vào giao dịch mà bỏ qua yếu tố xã hội, nguy cơ xung đột lợi ích sẽ xuất hiện. Ngược lại, nếu tiêu chuẩn kỹ thuật đi kèm yêu cầu tham vấn và chia sẻ lợi ích, thị trường các-bon rừng có thể trở thành cơ chế bổ sung nguồn lực cho bảo vệ rừng và phát triển sinh kế bền vững.

Nói cách khác, Dự thảo TCVN đang đặt ra một thông điệp rõ ràng: tín chỉ các-bon rừng không phải là “giấy chứng nhận CO₂” tách rời con người. Đó là kết quả của một quá trình quản trị rừng có trách nhiệm, trong đó rừng được bảo vệ, dữ liệu được kiểm chứng, quyền lợi được chia sẻ và rủi ro được nhận diện.

c6a653d8-8ab0-4be5-b1f3-ff5a657931b3_1783610333.jpg
Hoạt động trồng rừng từ nhiều đơn vị, tổ chức xã hội với sự chung tay của cộng đồng vẫn đang được tiếp tục nỗ lực duy trì. Ảnh: CTV

Thẩm định, xác minh và phát hành: kết nối chuẩn quốc gia với chuẩn mực quốc tế

Về thẩm định, xác minh và phát hành tín chỉ, phần trình bày của ông Vũ Tấn Phương đặt Dự thảo TCVN trong mối liên hệ với các chuẩn mực quốc tế như ISO 14064-1 về thiết kế và phát triển kiểm kê khí nhà kính cho tổ chức; ISO 14064-2 về kiểm kê, giám sát và báo cáo giảm phát thải, tăng hấp thụ; ISO 14067 về xác định dấu chân các-bon; ISO 14065 về yêu cầu đối với tổ chức thẩm định, xác minh; và ISO 14066 về năng lực của đội ngũ thẩm định, xác minh. Đồng thời, việc phát hành tín chỉ phải tuân thủ Nghị định 180/2026/NĐ-CP, với các hồ sơ như đề nghị, báo cáo kết quả và báo cáo xác minh. Cách tiếp cận này tạo sự kết nối giữa tiêu chuẩn quốc gia, chuẩn mực quốc tế và khung pháp lý trong nước.

Điều này có ý nghĩa lớn đối với uy tín thị trường. Tín chỉ các-bon rừng Việt Nam nếu muốn được chấp nhận rộng rãi không thể chỉ dựa trên hệ thống tự đánh giá. Tín chỉ cần được thẩm định, xác minh bởi tổ chức có năng lực, có quy trình, có hồ sơ và có trách nhiệm. Việc đặt yêu cầu đối với tổ chức thẩm định, xác minh và năng lực đội ngũ thẩm định, xác minh chính là bước kiểm soát quan trọng để tránh xung đột lợi ích, bảo đảm tính độc lập và khách quan.

Dự thảo cũng đặt trình tự xây dựng, thực hiện dự án các-bon rừng trong mối liên hệ trực tiếp với Nghị định 180/2026/NĐ-CP. Trình tự này bao gồm xây dựng văn kiện dự án; đăng ký với Bộ Nông nghiệp và Môi trường hoặc cấp tỉnh; thẩm định, phê duyệt; công bố trên hệ thống đăng ký quốc gia; thực hiện dự án; xác minh kết quả; gửi hồ sơ cấp tín chỉ; cấp tín chỉ và chứng nhận phát hành. Các mốc thời gian dự kiến trong sơ đồ cho thấy đây là quy trình nhiều bước, có sự tham gia của tổ chức đăng ký, cơ quan thẩm định/phê duyệt, tổ chức thẩm định/xác minh và cơ quan cấp tín chỉ.

Điểm đáng chú ý là quy trình này không chỉ để “làm thủ tục”, mà nhằm bảo đảm từng tín chỉ có hành trình pháp lý và kỹ thuật rõ ràng. Một tín chỉ muốn đi vào thị trường phải trả lời được các câu hỏi: dự án nào tạo ra, ai thực hiện, ranh giới ở đâu, phương pháp gì, dữ liệu nào, kết quả giảm phát thải bao nhiêu, đã khấu trừ rủi ro chưa, ai thẩm định, ai xác minh, ai cấp, được đăng ký ở đâu và được phép cung ứng trong phạm vi nào.

Từ dự thảo tiêu chuẩn đến uy tín thị trường

Việc xây dựng TCVN về tín chỉ các-bon rừng có ý nghĩa trực tiếp đối với quá trình triển khai Nghị định 180/2026/NĐ-CP. Trong khung triển khai Nghị định, Tiêu chuẩn quốc gia về các-bon rừng là một trong những nội dung cần được công bố để hỗ trợ việc xây dựng, đăng ký, đo đạc, báo cáo, thẩm định và cấp tín chỉ. Đồng thời, những khoảng trống cần hoàn thiện sớm cũng bao gồm công bố Tiêu chuẩn các-bon rừng quốc gia, hướng dẫn xây dựng, đăng ký, đo đạc, báo cáo, thẩm định, cấp tín chỉ và phân bổ mục tiêu giảm phát thải cho địa phương, chủ rừng.

Đặt trong tổng thể đó, Dự thảo TCVN chính là lớp bảo vệ chất lượng ở phía “đầu nguồn” của thị trường. Nếu tiêu chuẩn yếu, tín chỉ phát hành ra thị trường sẽ thiếu độ tin cậy. Nếu tiêu chuẩn quá lỏng, nguy cơ phát sinh tín chỉ không bảo đảm tính bổ sung, không rõ quyền lợi, không đủ dữ liệu, không kiểm soát rủi ro. Nếu tiêu chuẩn không gắn với an toàn xã hội, thị trường có thể tạo ra xung đột thay vì đồng lợi ích. Ngược lại, nếu tiêu chuẩn được thiết kế chặt chẽ, tín chỉ các-bon rừng Việt Nam sẽ có cơ sở để tham gia thị trường với mức độ tin cậy cao hơn.

Nhìn rộng hơn, Dự thảo TCVN tín chỉ các-bon rừng không chỉ phục vụ một nhóm dự án hay một vài giao dịch cụ thể. Đây là bước chuẩn hóa cần thiết cho cả hệ sinh thái thị trường: cơ quan quản lý có căn cứ để thẩm định, xác nhận; chủ rừng có khuôn khổ để xây dựng dự án; doanh nghiệp có cơ sở để đánh giá chất lượng tín chỉ; địa phương có công cụ để tổ chức thực hiện; cộng đồng có thêm cơ chế bảo vệ quyền lợi; còn thị trường có thêm nền tảng để hạn chế rủi ro, tranh chấp và mất uy tín.

Được biết, Dự thảo TCVN tín chỉ các-bon rừng không chỉ nhằm chuẩn hóa cách tính toán lượng CO₂ giảm phát thải hoặc hấp thụ thêm. Sâu xa hơn, tiêu chuẩn này thiết lập một chuỗi yêu cầu từ tính hợp lệ của dự án, quyền sử dụng đất và rừng, tính bổ sung, không trùng lặp, MRV, thẩm định độc lập, khấu trừ rủi ro, đến bảo đảm an toàn môi trường - xã hội và phát hành tín chỉ theo Nghị định 180/2026/NĐ-CP. Đây chính là “hàng rào kỹ thuật” cần thiết để bảo vệ uy tín của tín chỉ các-bon rừng Việt Nam khi tham gia thị trường trong nước và quốc tế.

Vì vậy, có thể nhìn nhận Dự thảo TCVN như một “hàng rào kỹ thuật” nhưng không phải để cản trở thị trường. Ngược lại, hàng rào ấy giúp thị trường đi đúng hướng. Nó sàng lọc những tín chỉ không đủ chuẩn, buộc dự án phải minh bạch hơn, thúc đẩy dữ liệu tốt hơn, yêu cầu thẩm định độc lập hơn và đặt lợi ích môi trường - xã hội vào trung tâm. Khi thị trường các-bon rừng còn ở giai đoạn hình thành, sự thận trọng này là cần thiết.

Tín chỉ các-bon rừng chỉ thật sự có giá trị khi mỗi đơn vị giao dịch đại diện cho một kết quả giảm phát thải hoặc tăng hấp thụ có thật, được đo đếm bằng phương pháp đáng tin cậy, được xác minh độc lập, được đăng ký minh bạch, không trùng lặp và không đánh đổi bằng rủi ro xã hội. Đó cũng là thông điệp quan trọng nhất từ Dự thảo TCVN: muốn bán được tín chỉ, trước hết phải bảo vệ được uy tín của tín chỉ; muốn thị trường phát triển, trước hết phải bảo vệ được rừng, dữ liệu và niềm tin.

 

Hồng Minh