Hội thảo khoa học về cơ chế vận hành Trung tâm Nghiên cứu Quốc gia về Công nghệ Đại dương tại Khánh Hòa không chỉ bàn về một mô hình tổ chức, mà gợi mở một vấn đề cốt lõi của kinh tế biển Việt Nam: vì sao nghiên cứu vẫn khó ra thị trường. Khi công nghệ trở thành động lực tăng trưởng mới, yêu cầu đặt ra không còn là “có làm hay không”, mà là “làm bằng cơ chế nào”.
Ngày 21/4, UBND tỉnh Khánh Hòa tổ chức Hội thảo khoa học về cơ chế vận hành Trung tâm Nghiên cứu Quốc gia về Công nghệ Đại dương, với sự tham gia của nhiều chuyên gia đầu ngành trong lĩnh vực khoa học, công nghệ, kinh tế và hải dương học.
Phát biểu định hướng, ông Hồ Xuân Trường - Ủy viên Dự khuyết BCH Trung ương Đảng, Phó Bí thư Thường trực tỉnh Khánh Hòa nhấn mạnh việc thành lập Trung tâm không chỉ là một nhiệm vụ triển khai Nghị quyết 09-NQ/TW, mà còn là yêu cầu từ chính thực tiễn phát triển. “Chúng ta không thể chỉ dừng lại ở khai thác tiềm năng tự nhiên, mà phải từng bước làm chủ khoa học, công nghệ biển và đại dương, biến lợi thế tự nhiên thành lợi thế phát triển dựa trên tri thức, công nghệ và đổi mới sáng tạo,…”, ông Hồ Xuân Trường nhấn mạnh.
Thông điệp này cho thấy sự chuyển dịch từ mô hình tăng trưởng dựa vào tài nguyên sang mô hình dựa vào tri thức và công nghệ - xu hướng mà nhiều quốc gia biển đã theo đuổi trong nhiều thập kỷ qua.
Các tham luận tại hội thảo đã đi sâu vào những vấn đề cốt lõi của Trung tâm, từ mô hình tổ chức, cơ chế tài chính đến phương thức vận hành.
Ở góc độ tổ chức, PGS, TS. Trịnh Tú Anh – Viện trưởng Viện Đô thị Thông minh và Quản lý, Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh đề xuất, Trung tâm cần được thiết kế theo mô hình quản trị hiệu năng cao, tinh gọn và linh hoạt, trong đó vai trò điều phối và kết nối đa bên là yếu tố then chốt. Theo bà, nếu vẫn vận hành theo cấu trúc hành chính truyền thống, Trung tâm sẽ khó tạo ra giá trị thực chất cho hệ sinh thái công nghệ.
Dù định hướng đã rõ, nhưng thực tế cho thấy hệ sinh thái khoa học công nghệ biển vẫn tồn tại nhiều hạn chế. Các nghiên cứu được triển khai không ít, song khả năng ứng dụng và thương mại hóa còn rất khiêm tốn.
Theo các chuyên gia, vấn đề cốt lõi nằm ở cơ chế. TS. Phạm Bích Ngọc – Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới chỉ ra rằng sự liên kết giữa khu vực nghiên cứu và doanh nghiệp còn yếu, dẫn đến tình trạng “nghiên cứu không ra thị trường, doanh nghiệp thiếu công nghệ”. Đây không chỉ là câu chuyện của riêng lĩnh vực biển, mà là “điểm nghẽn thể chế” của toàn bộ hệ thống đổi mới sáng tạo.
Ở góc độ chính sách, Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 đã có bước tiến đáng kể khi mở rộng cơ chế chấp nhận rủi ro trong nghiên cứu và khuyến khích thương mại hóa. Tuy nhiên, theo phân tích của PGS, TS. Phan Thị Bích Nguyệt – Chủ tịch Hội đồng tư vấn chiến lược và chính sách, Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh, các quy định hiện nay vẫn thiên về nguyên tắc, chưa đủ cụ thể để triển khai các mô hình có tính đột phá như công nghệ đại dương .
Trong khi đó, các ý kiến về cơ chế hợp tác công – tư (PPP) nhấn mạnh sự cần thiết phải chuyển từ cách tiếp cận “Nhà nước đầu tư – doanh nghiệp vận hành” sang “Nhà nước đặt bài toán – doanh nghiệp đồng sáng tạo”. Đây được xem là điều kiện quan trọng để rút ngắn khoảng cách giữa nghiên cứu và thị trường.
Hội thảo đã tập trung thảo luận chuyên sâu vào các nhóm vấn đề trọng tâm, trong đó có định hướng công nghệ và vai trò của Trung tâm trong hệ sinh thái kinh tế biển.
Các ý kiến thống nhất rằng Trung tâm cần tập trung vào các lĩnh vực có tính nền tảng như robot và phương tiện tự hành dưới nước, hệ thống dữ liệu và quan trắc đại dương, nuôi biển công nghệ cao và năng lượng tái tạo ngoài khơi. Đây không chỉ là các lĩnh vực công nghệ mũi nhọn, mà còn trực tiếp giải quyết các bài toán thực tiễn của kinh tế biển.
Ở góc độ chiến lược, PGS, TS. Vũ Thanh Ca – Giảng viên cao cấp khoa Môi trường, Trường Đại học Tài nguyên Môi trường Hà Nội cho rằng, để Trung tâm công nghệ đại dương vận hành hiệu quả, cần thiết lập một cơ chế quản lý dự án theo chuẩn quốc tế, từ khâu giao nhiệm vụ, cấp phép, triển khai đến đánh giá kết quả, đồng thời bảo đảm yêu cầu chia sẻ dữ liệu và tuân thủ các tiêu chuẩn khoa học toàn cầu. Theo ông, chính sự minh bạch và chuẩn hóa này sẽ quyết định khả năng hội nhập và giá trị thực tiễn của các nghiên cứu công nghệ biển.
Tiếp nối quan điểm này, PGS, TS. Nguyễn Chu Hồi - Ủy viên Hội đồng Trung ương Liên hiệp các Hội Khoa học Kỹ thuật Việt Nam, Ủy viên Ban Khoa học công nghệ Môi trường Quốc hội nhấn mạnh, công nghệ đại dương không chỉ phục vụ tăng trưởng kinh tế, mà còn là nền tảng bảo đảm an ninh môi trường biển và chủ quyền quốc gia. Theo ông, Trung tâm cần được nhìn nhận như một “hạ tầng tri thức” của kinh tế biển, có khả năng tích hợp nghiên cứu, quản lý và ứng dụng trong dài hạn.
Phát biểu kết luận hội thảo, ông Nguyễn Thanh Hà – Phó Chủ tịch UBND tỉnh Khánh Hòa khẳng định việc thành lập Trung tâm là cần thiết, nhưng thách thức lớn nhất nằm ở mô hình vận hành. “Nếu vẫn thực hiện theo cơ chế hành chính, phụ thuộc ngân sách và thiếu động lực thị trường, Trung tâm sẽ khó phát huy hiệu quả”, ông Nguyễn Thanh Hà nhấn mạnh
Các ý kiến tại hội thảo cũng cho thấy một điểm chung: để Trung tâm thành công, cần có cơ chế đặc thù đủ mạnh, đặc biệt trong các lĩnh vực tài chính, nhân sự và hợp tác công – tư. Trong giai đoạn đầu, Nhà nước cần đóng vai trò “bệ đỡ” thông qua đặt hàng nhiệm vụ khoa học công nghệ, đồng thời tạo điều kiện để Trung tâm từng bước tự chủ.
Theo lãnh đạo tỉnh Khánh Hòa, Hội thảo không chỉ dừng lại ở việc trao đổi học thuật, mà đã góp phần định hình rõ hơn con đường phát triển cho Trung tâm Nghiên cứu Quốc gia về Công nghệ Đại dương.
Nếu được triển khai đúng hướng, đây không chỉ là một dự án khoa học, mà là một mô hình thể chế mới, nơi khoa học, công nghệ và thị trường được kết nối trong một hệ sinh thái thống nhất. Với Khánh Hòa, Trung tâm có thể trở thành “phòng thí nghiệm” cho những mô hình phát triển kinh tế biển mới; còn với Việt Nam, đây có thể là một bước đi quan trọng trên hành trình trở thành quốc gia mạnh về biển.