Hà Nội kiểm soát ô nhiễm, tạo không gian phát triển xanh

Hà Nội kiểm soát ô nhiễm, tạo không gian phát triển xanh

Thứ sáu, 25/9/2026, 06:47 (GMT+7)
logo Kiểm soát ô nhiễm không khí và phục hồi các dòng sông không còn là bài toán xử lý môi trường đơn thuần, mà đang trở thành một phần trong chiến lược tái cấu trúc không gian và mô hình phát triển của Hà Nội. Từ quản trị bằng dữ liệu, kiểm soát nguồn thải đến phục hồi hệ sinh thái sông, Thành phố hướng tới mục tiêu xây dựng đô thị xanh, phát thải thấp và phát triển bền vững.

Bảo vệ môi trường đang được Thành phố Hà Nội đặt ở vị trí trung tâm trong mô hình phát triển mới. Quán triệt các chủ trương, nghị quyết của Trung ương về phát triển Thủ đô và định hướng xây dựng Hà Nội trở thành đại đô thị sáng tạo, xanh, thông minh, kết nối toàn cầu, Thành ủy, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân Thành phố xác định rõ quan điểm không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng.

Điều này cũng đặt ra yêu cầu thay đổi cách tiếp cận. Môi trường không chỉ được xem là lĩnh vực cần quản lý, xử lý khi phát sinh vấn đề, mà phải trở thành một cấu phần của quy hoạch, đầu tư và quản trị đô thị. Dữ liệu số, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo cùng kỷ luật, kỷ cương và trách nhiệm người đứng đầu được xác định là nền tảng để chuyển chủ trương thành kết quả thực tế.

hn-03072026_5235bc5bc5_1790046697.png
Hà Nội đồng bộ hạ tầng để phục hồi các dòng sông. Ảnh: Nguyễn Thủy

Từ kiểm soát nguồn thải đến quản trị bằng dữ liệu

Ô nhiễm không khí tại Hà Nội là kết quả của nhiều nguồn phát thải và điều kiện thời tiết tác động đồng thời. Theo số liệu kiểm kê nguồn thải do Bộ Nông nghiệp và Môi trường thực hiện giai đoạn 2023 - 2025, giao thông chiếm 59%, bụi đường và xây dựng 28%, đốt mở và dân sinh 11%, công nghiệp 2%. Cơ cấu này cho thấy, nếu chỉ xử lý một nguồn phát thải sẽ khó tạo ra chuyển biến bền vững.

Bởi vậy, Hà Nội đang chuyển từ cách ứng phó khi ô nhiễm xảy ra sang quản trị theo chuỗi, từ nhận diện nguồn phát thải, quan trắc, dự báo đến can thiệp, đánh giá và công khai kết quả. Đây là bước chuyển quan trọng, bởi muốn xử lý hiệu quả phải biết ô nhiễm đến từ đâu, diễn biến như thế nào và biện pháp nào tạo ra hiệu quả thực chất.

Nền tảng của cách tiếp cận này là dữ liệu. Thành phố dự kiến hoàn thành kiểm kê khí thải cấp Thành phố trong tháng 9/2026, đồng thời, cập nhật thường xuyên để phục vụ quản trị nguồn phát thải. Mạng quan trắc được điều chỉnh với 15 trạm không khí xung quanh, 5 trạm nước mặt và 6 trạm nước dưới đất. Tại Hà Nội, 35/71 thiết bị cảm biến chi phí thấp đã được lắp đặt, kết nối dữ liệu về Trung tâm dữ liệu môi trường quốc gia; dữ liệu quan trắc được tích hợp cùng thông tin về giao thông, xây dựng, công nghiệp và khí tượng vào Trung tâm điều hành thông minh (IOC).

Từ dữ liệu, chính sách kiểm soát phát thải thấp được triển khai theo lộ trình. Từ ngày 1/7/2026, Hà Nội thí điểm vùng phát thải thấp tại phường Hoàn Kiếm, dự kiến năm 2028 mở rộng toàn bộ Vành đai 1. Mục tiêu không chỉ là hạn chế phương tiện phát thải cao mà còn tạo điều kiện thúc đẩy giao thông công cộng xanh, xe buýt điện, xe đạp điện, phương tiện trung chuyển sạch và không gian dành cho phương tiện xanh.

Cùng với giao thông, các nguồn phát thải từ xây dựng, công nghiệp, làng nghề và hoạt động đốt ngoài trời được kiểm soát chặt hơn. Thành phố hướng tới kiểm soát 100% công trường quy mô lớn và tuyến vận chuyển vật liệu; các cơ sở thuộc diện phải quan trắc khí thải tự động được kiểm soát, truyền dữ liệu về cơ quan quản lý.

Những kết quả như hơn 99% bếp than tổ ong được xóa bỏ, hoạt động đốt rơm rạ, phụ phẩm nông nghiệp và đốt rác tự phát giảm 80%, lò gạch thủ công chấm dứt hoạt động cho thấy các biện pháp kiểm soát nguồn thải đã tạo ra chuyển biến nhất định. Tuy nhiên, yêu cầu đặt ra hiện nay không chỉ là duy trì kết quả mà phải đưa toàn bộ hoạt động kiểm soát phát thải vào một hệ thống quản trị thống nhất, có dữ liệu và trách nhiệm rõ ràng.

Đặc biệt, ô nhiễm không khí không dừng ở ranh giới hành chính. Việc Hà Nội phối hợp với 5 địa phương lân cận, hình thành vùng phối hợp 6 tỉnh, thành phố để chia sẻ dữ liệu quan trắc, dự báo và nguồn phát thải lớn là hướng tiếp cận phù hợp với bản chất liên vùng của vấn đề.

Phục hồi dòng sông, mở không gian phát triển mới

Nếu không khí phản ánh trực tiếp sức ép của quá trình đô thị hóa thì những dòng sông ô nhiễm cho thấy rõ hơn những hạn chế của hạ tầng và phương thức quản lý trong quá trình phát triển đô thị.

Nhiều dòng sông nội đô, ven đô đang phải tiếp nhận nước thải sinh hoạt, sản xuất, làng nghề và các nguồn ô nhiễm liên vùng. Trong khi đó, hệ thống thu gom, xử lý nước thải chưa đồng bộ, quản lý theo địa giới chưa theo kịp yêu cầu quản lý theo lưu vực. Vì thế, cải thiện chất lượng nước không thể chỉ dừng ở việc xử lý một đoạn sông hay một điểm ô nhiễm.

Quan điểm mới của Hà Nội là phục hồi sông phải gắn với phục hồi hệ sinh thái và tái thiết không gian đô thị. Mục tiêu không chỉ làm cho nước sạch hơn mà phải khôi phục dòng chảy, cảnh quan, không gian công cộng, khả năng tiêu thoát nước và các giá trị văn hóa gắn với dòng sông.

Hiện, Thành phố đang phục hồi 4 sông nội đô gồm: Tô Lịch, Kim Ngưu, Lừ và Sét; đã khởi công Dự án cải tạo và xử lý ô nhiễm môi trường sông Cầu Bây ngày 17/7/2026. Các dự án cải tạo, xử lý ô nhiễm sông Nhuệ, sông Đáy tiếp tục được thẩm định, phê duyệt, phấn đấu khởi công vào giữa tháng 10/2026.

to-lich_1790064204.jpg
Cùng với việc nạo vét, công tác chỉnh trang hai bờ sông cũng được TP. Hà Nội tiến hành triệt để. Ảnh minh họa

Điểm mấu chốt là phải xử lý tận gốc nguồn gây ô nhiễm. Hệ thống thu gom, xử lý nước thải cần được đầu tư đồng bộ; các nhà máy xử lý nước thải phải được đẩy nhanh theo quy hoạch. Cùng với đó, quản lý sông phải chuyển từ tư duy theo địa giới sang quản lý theo lưu vực, liên vùng, liên ngành, gắn với trách nhiệm cụ thể của từng cấp, ngành và địa phương.

Phục hồi dòng sông cũng không thể tách rời việc bảo đảm dòng chảy, bổ cập nước, cải tạo lòng dẫn, nạo vét và xử lý bùn, kết nối hồ điều hòa, nâng cao năng lực tiêu thoát nước và phòng chống ngập úng. Các nguồn thải công nghiệp, làng nghề và nguồn thải rủi ro cao phải được giám sát bằng quan trắc tự động, dữ liệu thời gian thực và trách nhiệm pháp lý rõ ràng.

Đáng chú ý, Hà Nội đang nhìn nhận việc phục hồi sông không chỉ dưới góc độ môi trường. Khi ô nhiễm được kiểm soát, không gian hai bên sông có thể được tái thiết thành công viên tuyến tính, đường dạo, không gian văn hóa, mặt nước cảnh quan, hạ tầng xanh và các không gian dịch vụ đô thị. Đây chính là điểm giao giữa bảo vệ môi trường và phát triển kinh tế - xã hội.

Nói cách khác, đầu tư cho môi trường nếu được thực hiện đúng hướng không chỉ tạo ra chi phí xử lý ô nhiễm mà còn có thể tạo thêm giá trị đô thị. Dòng sông được phục hồi sẽ trở thành một phần của cấu trúc đô thị xanh; hạ tầng môi trường trở thành nền tảng cho chất lượng sống; dữ liệu môi trường trở thành công cụ quản trị.

Để hiện thực hóa mục tiêu đó, nguồn lực công cần được kết hợp với nguồn lực xã hội thông qua cơ chế PPP, nhất là trong phát triển hạ tầng môi trường, xử lý nước thải, kinh tế tuần hoàn và phục hồi các dòng sông. Cùng với Nhà nước giữ vai trò kiến tạo, doanh nghiệp và người dân cần được đặt vào vị trí chủ thể của quá trình chuyển đổi xanh.

Kiểm soát ô nhiễm không khí và phục hồi các dòng sông vì thế không chỉ là nhiệm vụ môi trường. Đây là một phần của quá trình tái cấu trúc mô hình phát triển Thủ đô, hướng tới đô thị xanh, phát thải thấp, kinh tế tuần hoàn và quản trị thông minh.

Điều quan trọng nhất là biến quyết tâm chính trị thành những thay đổi có thể đo đếm được trong chất lượng môi trường và đời sống người dân. Khi đó, mục tiêu “bầu trời trong hơn, dòng sông sạch hơn” sẽ không dừng ở một khẩu hiệu môi trường, mà trở thành thước đo cho hiệu quả của một mô hình phát triển mới.

Phương Chi