Biển có vị trí đặc biệt quan trọng đối với phát triển đất nước, là không gian sinh tồn, không gian phát triển, không gian kết nối, đồng thời là không gian chiến lược về quốc phòng, an ninh và đối ngoại…, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Đặng Ngọc Điệp khẳng định.
Chiều 5/6, tại phường Cửa Lò (Nghệ An), Bộ Nông nghiệp và Môi trường phối hợp với Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương và UBND tỉnh Nghệ An tổ chức Hội thảo quốc gia “Hoàn thiện thể chế, chính sách thúc đẩy phát triển kinh tế biển bền vững”.
Đây là hoạt động trọng tâm hưởng ứng Tuần lễ Biển và Hải đảo Việt Nam, Ngày Đại dương thế giới (8/6) và Tháng hành động vì môi trường năm 2026. Hội thảo được kỳ vọng sẽ góp thêm những luận cứ khoa học và thực tiễn cho quá trình sửa đổi Luật Tài nguyên, Môi trường biển và Hải đảo. Đồng thời góp phần tháo gỡ những rào cản đang kìm hãm sự phát triển của kinh tế biển.
Thể chế phải mở đường cho phát triển
Phát biểu tại hội thảo, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Đặng Ngọc Điệp cho rằng việc sửa đổi Luật Tài nguyên, Môi trường biển và Hải đảo không đơn thuần là chỉnh sửa một đạo luật chuyên ngành mà là cơ hội để đổi mới tư duy quản trị biển theo hướng tổng hợp, hiện đại và hiệu quả hơn.
“Tinh thần xuyên suốt là thể chế phải tạo thuận lợi cho phát triển nhưng không buông lỏng quản lý; phải khơi thông nguồn lực nhưng bảo đảm môi trường, hệ sinh thái và lợi ích lâu dài của quốc gia; phải phân cấp, phân quyền mạnh hơn nhưng đi đôi với trách nhiệm, kiểm tra, giám sát và kiểm soát rủi ro… phát triển kinh tế biển xanh, bền vững phải bắt đầu từ thể chế tốt và phải được kiểm chứng bằng hành động cụ thể”, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường nhấn mạnh.
Tại hội thảo, TS. Vũ Mạnh Hùng, Vụ trưởng Vụ Kinh tế ngành (Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương) đã đề xuất 9 nhóm giải pháp nhằm thúc đẩy kinh tế biển Việt Nam phát triển nhanh và bền vững trong giai đoạn mới.
Trong đó, đáng chú ý là yêu cầu chuyển từ tư duy quản lý theo ngành sang quản trị tổng hợp không gian biển dựa trên hệ sinh thái; hoàn thiện hệ thống pháp luật đồng bộ, minh bạch; phát triển thị trường quyền sử dụng khu vực biển; huy động hiệu quả các nguồn lực xã hội và đẩy mạnh tài chính xanh.
Bên cạnh đó là những định hướng mang tính đột phá về khoa học công nghệ, chuyển đổi số, xây dựng cơ sở dữ liệu biển quốc gia, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và hình thành các ngành kinh tế biển mới như năng lượng tái tạo ngoài khơi, kinh tế sinh học biển hay hydrogen xanh.
Đặc biệt, việc phát triển đồng bộ hạ tầng cảng biển, logistics, đô thị ven biển, khu công nghiệp sinh thái và các trung tâm kinh tế biển hiện đại được xem là động lực quan trọng để nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế biển Việt Nam trong thời gian tới.
Để tháo gỡ những điểm nghẽn về thể chế, ông Nguyễn Quốc Toản, Cục trưởng Cục Biển và Hải đảo Việt Nam (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) cho biết: Dự thảo Luật Tài nguyên, Môi trường biển và Hải đảo (sửa đổi) được kỳ vọng sẽ tạo ra khuôn khổ pháp lý mới cho quản trị biển hiện đại, đồng thời khơi thông nguồn lực đầu tư phục vụ phát triển kinh tế biển bền vững.
Một trong những điểm mới đáng chú ý là mở rộng phạm vi điều chỉnh từ quản lý tài nguyên và môi trường biển sang quản trị tổng hợp tài nguyên, không gian biển và môi trường biển. Cách tiếp cận này phản ánh đúng thực tế biển không chỉ là nơi chứa đựng tài nguyên mà còn là không gian phát triển đa ngành, gắn với kinh tế, quốc phòng, an ninh và lợi ích chiến lược quốc gia.
Dự thảo luật cũng đề xuất tăng cường phân cấp cho địa phương trong giao khu vực biển, cấp phép nhận chìm, khai thác tài nguyên và quản lý hoạt động kinh tế biển. Theo ông Toản, điều này sẽ góp phần hạn chế cơ chế “xin - cho”, nâng cao tính minh bạch và tạo môi trường đầu tư ổn định hơn.
Ngoài ra, nhiều chính sách ưu đãi dành cho các ngành kinh tế biển mới như điện gió ngoài khơi, nuôi biển công nghệ cao, logistics biển hay các mô hình kinh tế xanh, kinh tế carbon thấp cũng được đưa vào nghiên cứu. Các thủ tục hành chính liên quan đến đầu tư trên biển sẽ được cải cách theo hướng liên thông, giảm thời gian và chi phí cho doanh nghiệp.
Tháo gỡ những “nút thắt” từ thực tiễn địa phương
Từ góc nhìn địa phương, ông Nguyễn Văn Công, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ninh, cho biết dù sở hữu bờ biển dài với trên 6.100 km² ngư trường cùng hệ thống hơn 2.770 hòn đảo tự nhiên, song Quảng Ninh vẫn đang gặp không ít khó khăn trong việc chuyển hóa tiềm năng biển thành động lực tăng trưởng thực sự.
Theo ông, địa phương hiện đối mặt với 4 nhóm vướng mắc lớn về cấu trúc phát triển và thể chế quản lý. Để tháo gỡ, Quảng Ninh đang triển khai đồng bộ nhiều giải pháp, trong đó có quản lý không gian biển theo ba hành lang kinh tế chức năng; phát triển hạ tầng logistics và hậu cần biển; đẩy mạnh số hóa quản trị biển; thúc đẩy các ngành kinh tế biển mới; đồng thời bảo tồn đa dạng sinh học và hệ sinh thái bãi triều tự nhiên.
Tại phiên tọa đàm sau hội thảo, nhiều chuyên gia tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu đổi mới tư duy quản lý biển.
PGS, TS. Nguyễn Chu Hồi, Phó Chủ tịch Hội Thủy sản Việt Nam cho rằng thách thức lớn nhất hiện nay là giải quyết hài hòa các xung đột trong sử dụng không gian biển. Theo ông, biển là không gian 3 chiều với nhiều hoạt động kinh tế cùng tồn tại. Vì vậy cần chuyển mạnh từ quản lý đơn ngành sang quản lý tổng hợp, liên ngành.
Ông cũng đề xuất áp dụng cách tiếp cận dựa trên hệ sinh thái trong quản lý biển. Thay vì chỉ quản lý từng loài sinh vật riêng lẻ, cần quản lý toàn bộ môi trường sống và các yếu tố tác động đến hệ sinh thái biển.
Liên quan đến quy hoạch không gian biển, PGS, TS. Nguyễn Chu Hồi nhấn mạnh việc quy hoạch hiện nay chủ yếu được thực hiện ở cấp quốc gia nên chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu quản lý của địa phương. Vì vậy, Luật Tài nguyên, Môi trường biển và Hải đảo sửa đổi cần làm rõ hơn các công cụ quản lý dành cho cấp tỉnh, trong đó có thể nghiên cứu mô hình phân vùng chức năng không gian biển phù hợp với điều kiện thực tế từng địa phương.
Những ý kiến được đưa ra tại hội thảo cho thấy một điểm chung: Để kinh tế biển thực sự trở thành động lực tăng trưởng mới, Việt Nam cần một hệ thống thể chế đủ linh hoạt để khơi thông nguồn lực, nhưng cũng đủ chặt chẽ để bảo đảm khai thác hiệu quả, gìn giữ môi trường và bảo vệ lợi ích quốc gia lâu dài. Khi những “điểm nghẽn” về chính sách được tháo gỡ, tiềm năng to lớn của biển sẽ có thêm cơ hội được chuyển hóa thành nguồn lực phát triển bền vững cho đất nước.
Bàn về vấn đề dự thảo sửa đổi Luật Tài nguyên, Môi trường biển và Hải đảo, ông Tạ Đình Thi, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội cho rằng sẽ sớm được trình Quốc hội cho ý kiến và xem xét thông qua. Trong khi thời gian không còn nhiều, khối lượng công việc đặt ra là rất lớn, đòi hỏi quá trình hoàn thiện dự thảo phải được thực hiện khẩn trương nhưng vẫn bảo đảm chất lượng.
Ông cho biết, việc sửa đổi luật đang có nhiều điều kiện thuận lợi khi được hỗ trợ bởi hệ thống cơ sở chính trị, pháp lý, khoa học và thực tiễn ngày càng hoàn thiện. Đặc biệt, quá trình này diễn ra đúng thời điểm Trung ương đang tổng kết Nghị quyết số 36 về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Đây được xem là nền tảng chính trị quan trọng để tiếp tục hoàn thiện các quy định pháp luật về quản lý và khai thác tài nguyên biển.
Một trong những vấn đề được đặt ra là xây dựng cơ chế điều phối liên ngành hiệu quả hơn trong quản lý và phát triển kinh tế biển, khắc phục tình trạng chồng chéo giữa các lĩnh vực như hàng hải, du lịch, dầu khí và các ngành kinh tế biển khác. Theo đó, việc phân cấp, phân quyền cho địa phương cần đi đôi với năng lực thực thi, đồng thời bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật.
“Bên cạnh đó, tăng cường kiểm soát ô nhiễm môi trường biển và nội luật hóa đầy đủ các cam kết, thỏa thuận quốc tế mà Việt Nam tham gia. Do tính chất đặc thù của biển gắn với các vấn đề xuyên biên giới, quốc phòng, an ninh, đối ngoại và hợp tác quốc tế, việc xây dựng chính sách cần có cách tiếp cận toàn diện hơn”, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc Hội nhấn mạnh.
Phát biểu kết luận hội thảo, Thứ trưởng Đặng Ngọc Điệp cho biết dự thảo Luật Tài nguyên, Môi trường biển và Hải đảo (sửa đổi) dự kiến sẽ được trình Quốc hội vào tháng 10/2026. Trong bối cảnh thời gian hoàn thiện không còn nhiều, trong khi dự thảo có phạm vi điều chỉnh rộng, liên quan đến nhiều lĩnh vực như bảo tồn biển, bảo vệ môi trường, dữ liệu và phát triển kinh tế biển, Bộ Nông nghiệp và Môi trường mong muốn tiếp tục nhận được ý kiến đóng góp từ các địa phương, chuyên gia, doanh nghiệp và tổ chức quốc tế. Những góp ý này sẽ góp phần hoàn thiện dự thảo theo hướng đồng bộ, khả thi và phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế biển bền vững của Việt Nam.