Kỳ 1: Chi trả dịch vụ môi trường rừng - Động lực bảo vệ “lá phổi xanh” quốc gia

Kỳ 1: Chi trả dịch vụ môi trường rừng - Động lực bảo vệ “lá phổi xanh” quốc gia

Thứ sáu, 5/6/2026, 06:21 (GMT+7)
logo Sau hơn 15 năm triển khai, chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng đã trở thành một trong những công cụ kinh tế hiệu quả nhất của ngành lâm nghiệp Việt Nam. Không chỉ tạo nguồn lực gần 4.000 tỷ đồng mỗi năm cho công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng, chính sách còn góp phần nâng cao thu nhập cho hàng trăm nghìn hộ dân miền núi, đồng bào dân tộc thiểu số và cộng đồng sống gần rừng. Từ việc lượng hóa các giá trị sinh thái của rừng thành nguồn lực tài chính bền vững, chi trả dịch vụ môi trường rừng đang từng bước khẳng định vai trò là động lực quan trọng để bảo vệ những "lá phổi xanh" quốc gia, hướng tới mục tiêu phát triển lâm nghiệp đa giá trị và tăng trưởng xanh.
thuc-day-chi-tra-dich-vu-moi-truong-rung-nham-hap-thu-va-luu-giu-cac-bon-goc-nhin-tu-phap-luat-quoc-te--phap-luat-mot-so-quoc-gia-va-kien-nghi-cho-viet-nam_67fe0ca359b07_1780479073.jpg
Những cánh rừng xanh đang trở thành "bể hấp thụ carbon" tự nhiên, góp phần thực hiện cam kết phát thải ròng bằng “0” và tạo nguồn lực mới cho phát triển lâm nghiệp bền vững

Biến giá trị vô hình của rừng thành nguồn lực phát triển

Những ngày đầu năm 2026, khi ngành lâm nghiệp nhìn lại chặng đường phát triển của năm 2025, một trong những điểm sáng nổi bật tiếp tục được nhắc đến là chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR). Sau hơn 15 năm triển khai, từ một cơ chế còn khá mới mẻ ở Việt Nam, chính sách này đã trở thành nguồn lực tài chính quan trọng cho công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng, đồng thời góp phần cải thiện sinh kế cho hàng trăm nghìn hộ dân miền núi, đồng bào dân tộc thiểu số và cộng đồng sống gần rừng.

Trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng diễn biến phức tạp, yêu cầu phát triển xanh, tăng trưởng xanh và phát triển lâm nghiệp bền vững đang đặt ra ngày càng cấp thiết. Cùng với các chính sách về bảo vệ và phát triển rừng, chi trả dịch vụ môi trường rừng được xem là một bước đi mang tính đột phá, góp phần thay đổi tư duy quản lý tài nguyên rừng theo hướng hiện đại, bền vững và gắn kết lợi ích của các bên liên quan.

Nếu như trước đây, các giá trị mà rừng mang lại như điều tiết nguồn nước, bảo vệ đất, chống xói mòn, giảm bồi lắng lòng hồ, bảo tồn đa dạng sinh học hay tạo cảnh quan phục vụ du lịch chủ yếu được xem là những lợi ích tự nhiên khó định lượng, thì chính sách DVMTR đã từng bước lượng hóa các giá trị đó thành nguồn lực tài chính cụ thể.

Có thể nói, đây là sự thay đổi căn bản trong cách tiếp cận quản lý rừng. Từ chỗ Nhà nước gần như là chủ thể duy nhất đầu tư cho công tác bảo vệ rừng, nay những đơn vị sử dụng và hưởng lợi từ các dịch vụ môi trường rừng cũng tham gia đóng góp kinh phí để cùng chia sẻ trách nhiệm bảo vệ tài nguyên thiên nhiên.

Cơ chế này được xây dựng trên nguyên tắc: người hưởng lợi từ dịch vụ môi trường rừng có trách nhiệm chi trả cho người trực tiếp quản lý, bảo vệ và phát triển rừng. Đây cũng là một trong những mô hình chính sách được cộng đồng quốc tế đánh giá cao, góp phần hiện thực hóa mục tiêu phát triển lâm nghiệp bền vững và thúc đẩy kinh tế xanh.

Theo Luật Lâm nghiệp năm 2017, các loại dịch vụ môi trường rừng được chi trả hiện nay bao gồm dịch vụ bảo vệ đất, hạn chế xói mòn và bồi lắng lòng hồ, lòng sông, lòng suối; điều tiết và duy trì nguồn nước cho sản xuất và đời sống; hấp thụ và lưu giữ các-bon của rừng, giảm phát thải khí nhà kính; bảo vệ cảnh quan thiên nhiên và bảo tồn đa dạng sinh học phục vụ du lịch; nguồn thức ăn và con giống tự nhiên cho nuôi trồng thủy sản.

Nhờ đó, rừng không chỉ được nhìn nhận như một nguồn tài nguyên thiên nhiên cần bảo vệ mà còn là một hệ sinh thái tạo ra những giá trị kinh tế, xã hội và môi trường thiết thực cho sự phát triển của đất nước.

Nhìn lại hành trình hơn 15 năm qua, có thể thấy chính sách DVMTR đã góp phần thay đổi đáng kể nhận thức của các cấp chính quyền, doanh nghiệp và người dân về vai trò của rừng. Từ chỗ coi bảo vệ rừng là trách nhiệm của riêng lực lượng kiểm lâm hay các chủ rừng nhà nước, ngày nay ngày càng có nhiều tổ chức, cá nhân tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào công tác bảo vệ và phát triển rừng.

Không chỉ dừng lại ở việc tạo thêm nguồn lực tài chính, chính sách còn góp phần hình thành cơ chế liên kết trách nhiệm giữa bên sử dụng dịch vụ và bên cung ứng dịch vụ môi trường rừng; giữa doanh nghiệp, chính quyền địa phương và cộng đồng dân cư trong quản lý tài nguyên thiên nhiên.

f3b21b1bb6486d36415da9751bafa116bdedc32b4aeea8a6fc4cf31b7d6121ee4595438167c-_z6079749078033-0cbf72b9ed727807f736aad736021ae8_1780479135.jpg
Chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng đang góp phần nâng cao vai trò của cộng đồng trong quản lý, bảo vệ và phát triển rừng bền vững.

Hơn 15 năm tạo nguồn lực bền vững cho công tác bảo vệ rừng

Theo báo cáo tổng kết năm 2025 của Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm, cùng với những kết quả tích cực trong công tác bảo vệ và phát triển rừng, chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng tiếp tục khẳng định vai trò là một trong những công cụ tài chính hiệu quả nhất của ngành lâm nghiệp.

Năm 2025, tổng nguồn thu từ dịch vụ môi trường rừng trên phạm vi cả nước đạt khoảng 3.940 tỷ đồng, vượt 19% kế hoạch được giao. Đây là mức thu cao nhất kể từ khi chính sách được triển khai trên phạm vi toàn quốc, cho thấy hiệu quả ngày càng rõ nét của cơ chế xã hội hóa nguồn lực cho công tác bảo vệ rừng.

Nguồn thu này tiếp tục được phân bổ cho các chủ rừng, cộng đồng dân cư, hộ gia đình và các đơn vị quản lý rừng nhằm thực hiện các hoạt động bảo vệ, khoanh nuôi, phục hồi và phát triển rừng. Theo Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Việt Nam, trong năm 2025, hệ thống các quỹ bảo vệ và phát triển rừng đã thực hiện chi trả và tạm ứng gần 4.000 tỷ đồng cho các chủ rừng trên phạm vi cả nước.

Điều đáng chú ý là nguồn lực tài chính này không chỉ góp phần giảm gánh nặng cho ngân sách nhà nước mà còn tạo điều kiện để các địa phương chủ động hơn trong công tác bảo vệ rừng. Nhiều khu vực rừng đặc dụng, rừng phòng hộ và rừng sản xuất được duy trì bảo vệ ổn định nhờ nguồn kinh phí từ DVMTR.

Theo Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm, hiện nay nguồn thu từ DVMTR đang góp phần duy trì bảo vệ khoảng 7,45 triệu ha rừng, tương đương hơn 53% diện tích rừng hiện có của Việt Nam. Đây là con số có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh áp lực từ phát triển kinh tế - xã hội, biến đổi khí hậu và các nguy cơ xâm hại tài nguyên rừng vẫn đang hiện hữu.

Theo Quyết định công bố hiện trạng rừng toàn quốc năm 2025 của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, tính đến ngày 31/12/2025, diện tích rừng cả nước đạt hơn 14,97 triệu ha, tỷ lệ che phủ rừng đạt 42,03%. Kết quả này tiếp tục khẳng định những nỗ lực của ngành lâm nghiệp, các địa phương và cộng đồng dân cư trong công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng.

Đằng sau những con số ấy là sự tham gia của hàng trăm nghìn hộ dân, cộng đồng, tổ chức và chủ rừng trên khắp cả nước. Theo Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Việt Nam, hàng năm có hàng trăm nghìn chủ rừng là hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư và các tổ chức được thụ hưởng nguồn kinh phí từ DVMTR.

Không chỉ mang ý nghĩa kinh tế, nguồn kinh phí này còn giúp tăng cường trách nhiệm cộng đồng đối với công tác bảo vệ rừng. Khi quyền lợi gắn liền với trách nhiệm, người dân chủ động hơn trong việc tuần tra, giám sát, phát hiện vi phạm và tham gia các hoạt động bảo vệ tài nguyên rừng.

Thực tiễn cho thấy, tại nhiều địa phương như Sơn La, Lâm Đồng, Nghệ An, chính sách DVMTR đã góp phần quan trọng trong việc giảm áp lực lên rừng tự nhiên, nâng cao hiệu quả quản lý rừng và cải thiện đời sống người dân.

Ở Sơn La - một trong những địa phương đi đầu cả nước trong triển khai chính sách DVMTR - nguồn tiền dịch vụ môi trường rừng đã trở thành nguồn thu ổn định đối với nhiều cộng đồng dân cư vùng cao. Nhiều bản làng sử dụng nguồn kinh phí này để đầu tư các công trình phục vụ cộng đồng như nhà văn hóa, đường giao thông nội bản, hệ thống nước sinh hoạt hoặc hỗ trợ các hoạt động bảo vệ rừng.

Tại Lâm Đồng, nơi có diện tích rừng lớn và nhiều hệ sinh thái rừng đặc dụng quan trọng, DVMTR đã góp phần hỗ trợ lực lượng bảo vệ rừng cơ sở, đồng thời nâng cao nhận thức của người dân về vai trò của rừng đối với phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường.

Trong khi đó ở Nghệ An, chính sách này không chỉ hỗ trợ các chủ rừng, hộ nhận khoán bảo vệ rừng mà còn góp phần tạo sinh kế ổn định cho nhiều hộ dân miền núi, đồng bào dân tộc thiểu số, giúp họ gắn bó hơn với rừng và tham gia tích cực hơn vào công tác bảo vệ tài nguyên thiên nhiên.

a189f7d9e71ddb44b41320c99e91d0e99eac3983390882c2a8918be36b5ea51dfc6bae4d0e-_z6079749474681-a6d9ba52424386344480795b914727f2_1780479218.jpg
Chương trình giảm phát thải khí nhà kính vùng Bắc Trung Bộ đang từng bước đưa giá trị hấp thụ và lưu giữ các-bon của rừng trở thành nguồn lực hỗ trợ cộng đồng tham gia bảo vệ rừng

Người dân là trung tâm, cộng đồng là lực lượng giữ rừng

Một trong những thành công lớn nhất của chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng chính là đưa người dân trở thành chủ thể trong công tác bảo vệ rừng.

Trên thực tế, không ai hiểu rừng và gắn bó với rừng hơn những cộng đồng sinh sống gần rừng. Chính họ là những người đầu tiên phát hiện các nguy cơ xâm hại rừng, cháy rừng hay khai thác lâm sản trái phép. Khi được trao cơ hội tham gia và được hưởng lợi từ rừng, người dân trở thành lực lượng bảo vệ rừng hiệu quả nhất.

Nghiên cứu về chi trả dịch vụ môi trường rừng nhằm hấp thụ và lưu giữ các-bon cho thấy, việc gắn quyền lợi của cộng đồng với trách nhiệm bảo vệ rừng đã tạo động lực mạnh mẽ để người dân tham gia vào các hoạt động bảo vệ và phát triển rừng. Đây cũng là một trong những lý do giúp nhiều quốc gia trên thế giới lựa chọn cơ chế chi trả dịch vụ môi trường rừng như một giải pháp bảo tồn hệ sinh thái và phát triển bền vững.

Tại Việt Nam, điều này được thể hiện rõ thông qua sự tham gia ngày càng sâu rộng của cộng đồng trong công tác quản lý rừng. Nhiều tổ đội bảo vệ rừng cộng đồng được thành lập và duy trì hiệu quả. Các hoạt động tuần tra, giám sát rừng được thực hiện thường xuyên hơn. Ý thức của người dân về vai trò của rừng đối với môi trường và sinh kế ngày càng được nâng cao.

Ông Trần Quang Bảo, Cục trưởng Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm, Chủ tịch Hội đồng quản lý Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Việt Nam từng khẳng định, chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng đã trở thành công cụ tài chính bền vững và hiệu quả, góp phần huy động nguồn lực xã hội cho công tác bảo vệ và phát triển rừng, đồng thời tạo thêm sinh kế, nâng cao thu nhập cho người dân sống gần rừng.

Trong bối cảnh Việt Nam đang thực hiện các cam kết quốc tế về giảm phát thải khí nhà kính và hướng tới mục tiêu phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050, vai trò của rừng ngày càng được khẳng định. Không chỉ là “lá phổi xanh” của quốc gia, rừng còn là nền tảng quan trọng cho tăng trưởng xanh, bảo tồn đa dạng sinh học, thích ứng với biến đổi khí hậu và phát triển kinh tế lâm nghiệp đa giá trị.

Chi trả dịch vụ môi trường rừng chính là một trong những chính sách góp phần hiện thực hóa mục tiêu đó. Bằng việc chuyển hóa một phần giá trị sinh thái của rừng thành nguồn lực tài chính cụ thể, chính sách đã tạo ra động lực mới cho bảo vệ rừng, đồng thời mở ra cơ hội phát triển sinh kế bền vững cho người dân vùng rừng.

Từ những cánh rừng đầu nguồn ở Tây Bắc, Tây Nguyên đến các khu rừng phòng hộ ven biển hay rừng đặc dụng trên cả nước, màu xanh của rừng hôm nay không chỉ được gìn giữ bằng trách nhiệm mà còn được nuôi dưỡng bằng những cơ chế chính sách phù hợp. Sau hơn 15 năm triển khai, chi trả dịch vụ môi trường rừng đã chứng minh tính đúng đắn và hiệu quả trong thực tiễn, trở thành một trong những dấu ấn nổi bật của ngành lâm nghiệp Việt Nam.

Trong hành trình hướng tới phát triển xanh và bền vững, chính sách này sẽ tiếp tục là động lực quan trọng để bảo vệ những “lá phổi xanh” của quốc gia, đồng thời tạo nền tảng cho những bước phát triển mới của kinh tế lâm nghiệp trong giai đoạn tới.

Hành trình hơn 15 năm của chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng đã cho thấy khi những giá trị sinh thái của rừng được ghi nhận và chia sẻ công bằng, công tác bảo vệ rừng sẽ có thêm nguồn lực bền vững và người dân sẽ có thêm động lực để gắn bó với rừng. Nhưng đó mới chỉ là bước khởi đầu. Trong bối cảnh phát triển xanh và cam kết phát thải ròng bằng “0”, những cánh rừng Việt Nam đang đứng trước cơ hội kiến tạo những giá trị mới từ khả năng hấp thụ và lưu giữ các-bon. Mời quý độc giả đón đọc Kỳ 2: "Từ dịch vụ môi trường rừng đến thị trường carbon: Mở rộng nguồn lực cho phát triển lâm nghiệp bền vững".

Hồng Minh