news
Kỳ 1: Giá đất: “Nút thắt” lớn nhất khi đưa Luật Đất đai 2024 vào cuộc sống

Kỳ 1: Giá đất: “Nút thắt” lớn nhất khi đưa Luật Đất đai 2024 vào cuộc sống

Chủ nhật, 17/5/2026, 06:08 (GMT+7)
logo Luật Đất đai 2024 được kỳ vọng tạo bước đột phá trong quản lý và khai thác nguồn lực đất đai. Tuy nhiên, từ thực tiễn triển khai tại nhiều địa phương, hàng loạt vướng mắc về giá đất, bồi thường, giải phóng mặt bằng và trách nhiệm thực thi đang dần bộc lộ. Việc Bộ Nông nghiệp và Môi trường đề xuất sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật cho thấy yêu cầu cấp thiết phải tháo gỡ những “điểm nghẽn” từ thực tiễn để chính sách thực sự đi vào cuộc sống.

Khi địa phương đứng giữa áp lực “giá thị trường” và ổn định phát triển

Luật Đất đai năm 2024, được kỳ vọng sẽ tạo ra bước đột phá lớn trong quản lý và sử dụng đất đai, đặc biệt ở nội dung tài chính đất đai và định giá đất. Việc bỏ “khung giá đất”, chuyển sang cơ chế xác định giá đất theo nguyên tắc thị trường được xem là bước thay đổi mang tính lịch sử nhằm tiệm cận giá trị thực của đất đai, hạn chế thất thu ngân sách, giảm chênh lệch giữa giá Nhà nước và giá thị trường. Tuy nhiên, khi triển khai, thực tiễn từ nhiều địa phương cho thấy: chính giá đất lại đang trở thành “điểm nghẽn lớn nhất” trong quá trình đưa Luật vào cuộc sống.

Từ Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Đồng Nai,… đến nhiều địa phương khác, hàng loạt khó khăn đã phát sinh: bảng giá đất tăng mạnh, nghĩa vụ tài chính tăng đột biến, chi phí bồi thường giải phóng mặt bằng đội lên cao, tâm lý e ngại của cán bộ khi xác định giá đất, khiếu nại kéo dài, dự án đình trệ… Đó cũng là lý do Bộ Nông nghiệp và Môi trường mới trình Chính phủ đề xuất sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai 2024, trong đó nhóm vấn đề về giá đất, bảng giá đất, hệ số điều chỉnh giá đất và bồi thường, hỗ trợ, tái định cư tiếp tục được xác định là nhóm nội dung trọng tâm cần sửa đổi.

Mục tiêu của Bộ Nông nghiệp và Môi trường: Sửa Luật để các địa phương dễ thực hiện hơn, nguồn lực đất đai được khai thông hiệu quả hơn

Trong Tờ trình số 4204/TTr-BNNMT, Bộ Nông nghiệp và Môi trường thẳng thắn nhìn nhận: thực tiễn thi hành Luật Đất đai 2024 đã phát sinh nhiều khó khăn, vướng mắc liên quan đến giá đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, giao đất, cho thuê đất và thủ tục thực hiện tại địa phương.

Điều đáng chú ý là, dù Luật mới chỉ có hiệu lực chưa lâu, Quốc hội và Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản để sửa đổi, bổ sung, hướng dẫn tháo gỡ vướng mắc trong tổ chức thi hành Luật. Đằng sau con số đó là áp lực rất lớn mà các địa phương đang phải đối mặt trong quá trình vận hành một cơ chế định giá đất mới - nơi yêu cầu “giá sát thị trường” không đơn thuần là một nguyên tắc pháp lý, mà đã trở thành bài toán quản trị đầy nhạy cảm.

luat-dat-dai_1778388407.jpg
Ấn phẩm giới thiệu Luật Đất đai 2024 và những điểm mới quan trọng của chính sách đất đai đang được triển khai trên thực tế. Sau gần hai năm thi hành, nhiều quy định đã phát huy hiệu quả, nhưng cũng bộc lộ những vướng mắc cần tiếp tục rà soát, sửa đổi để phù hợp hơn với yêu cầu quản trị và thực tiễn địa phương.

“Giá thị trường” là đúng, nhưng thực hiện thế nào?

Một trong những thay đổi lớn nhất của Luật Đất đai 2024 là bỏ cơ chế “khung giá đất”, giao địa phương xây dựng bảng giá đất theo nguyên tắc thị trường. Về mặt lý thuyết, đây là bước đi đúng hướng.

Trong nhiều năm, khoảng cách quá lớn giữa giá đất Nhà nước và giá giao dịch thực tế đã tạo ra hàng loạt hệ lụy: thất thu ngân sách, phát sinh “hai giá”, khiếu kiện bồi thường kéo dài, méo mó thị trường bất động sản và tạo kẽ hở cho trục lợi chính sách. Tuy nhiên, khi bước vào thực tế, nhiều địa phương bắt đầu lúng túng. Bởi “giá thị trường” hiện nay vẫn là khái niệm rất khó xác định chính xác.

Thị trường đất đai chưa minh bạch; dữ liệu giao dịch chưa đầy đủ; tình trạng kê khai giá thấp để giảm thuế vẫn phổ biến; giao dịch ngầm còn lớn; giá đất chịu tác động mạnh từ đầu cơ, đấu giá, thông tin quy hoạch… Trong bối cảnh đó, việc yêu cầu địa phương xây dựng bảng giá đất “sát thị trường” trở thành áp lực chưa từng có.

Theo phản ánh của nhiều địa phương tại cuộc họp triển khai điều chỉnh bảng giá đất do Bộ Tài nguyên và Môi trường trước đây tổ chức, nhiều tỉnh, thành phố lo ngại nếu điều chỉnh bảng giá đất quá mạnh sẽ kéo theo hàng loạt hệ lụy về nghĩa vụ tài chính và giải phóng mặt bằng.

Tại TP. Hồ Chí Minh, quá trình xây dựng bảng giá đất mới từng tạo ra nhiều tranh luận do mức tăng lớn ở một số khu vực. Bộ quản lý khi đó đã lưu ý địa phương phải “đánh giá tác động đối với người dân và doanh nghiệp”, bảo đảm hài hòa lợi ích các bên. Hà Nội cũng đối mặt áp lực tương tự.

Tại hội nghị phản biện xã hội về bảng giá đất lần đầu áp dụng theo Luật Đất đai 2024, nhiều ý kiến cho rằng việc xây dựng bảng giá đất mới phải rất thận trọng để vừa tiệm cận thị trường, vừa tránh gây “sốc” cho xã hội.

Đồng Nai - địa phương có tốc độ đô thị hóa và công nghiệp hóa rất cao cũng là nơi phản ánh rõ áp lực này. Với hàng loạt dự án hạ tầng, khu công nghiệp, sân bay Long Thành và các dự án giao thông trọng điểm, chi phí giải phóng mặt bằng tại Đồng Nai đang tăng rất mạnh khi bảng giá đất được điều chỉnh theo hướng sát thị trường hơn. 

Nhiều địa phương lo rằng nếu bảng giá đất tăng nhanh sẽ khiến: chi phí đầu tư đội lên, dự án chậm triển khai, tăng khiếu nại, phát sinh áp lực lớn cho ngân sách bồi thường. Thực tế này đang đặt chính quyền địa phương vào tình thế rất khó: nếu giữ giá thấp sẽ bị cho là không sát thị trường, gây thất thu ngân sách; nhưng nếu tăng mạnh sẽ tác động trực tiếp đến người dân, doanh nghiệp và tiến độ đầu tư công. Đó là lý do nhiều nơi vẫn đang “dò đường” trong việc điều chỉnh bảng giá đất. Theo phản ánh từ các cơ quan quản lý, hiện vẫn có không ít địa phương chưa mạnh dạn điều chỉnh bảng giá đất vì lo ngại tác động dây chuyền tới toàn bộ nền kinh tế địa phương.

lau-nay-dat-nong-nghiep-khi-boi-thuong-van-gap-nhieu-tro-ngai_1778389571.png
Toàn cảnh quỹ đất nông nghiệp xen kẽ khu dân cư tại một địa phương ven đô. Thực tiễn thu hồi, bồi thường và chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp hiện vẫn là một trong những nhóm vấn đề phát sinh nhiều vướng mắc khi triển khai Luật Đất đai 2024 tại địa phương.

Khi cán bộ địa phương phải “định giá trong vùng rủi ro”

Từ giữa năm 2025 đến nay, cùng với quá trình triển khai Luật Đất đai 2024 và xây dựng bảng giá đất mới tại nhiều địa phương, câu chuyện “định giá đất” đang trở thành một trong những áp lực lớn nhất đối với chính quyền cơ sở.

Bởi lần đầu tiên, các địa phương phải vận hành cơ chế giá đất theo hướng tiệm cận thị trường trong bối cảnh: dữ liệu đất đai chưa đồng bộ, thị trường giao dịch chưa minh bạch, giá đất biến động mạnh sau sáp nhập địa giới và đầu tư hạ tầng, trong khi trách nhiệm pháp lý đối với người tham gia xác định giá đất ngày càng nặng nề.

Không phải ngẫu nhiên mà trong Tờ trình sửa đổi Luật Đất đai, Bộ Nông nghiệp và Môi trường tiếp tục xác định nhóm nội dung về: giá đất, bảng giá đất, hệ số điều chỉnh giá đất, tiền sử dụng đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư là nhóm vấn đề trọng tâm cần tiếp tục sửa đổi, hoàn thiện. Thực tiễn từ các địa phương cho thấy áp lực này đang hiện hữu rất rõ.

Tại hội nghị góp ý sửa đổi Luật Đất đai diễn ra trong năm 2025, bà Nguyễn Thị Như Trang, Sở Nông nghiệp và Môi trường Hải Phòng cho biết phương pháp xây dựng bảng giá đất hiện nay vẫn “mang tính cơ học”, chủ yếu lấy trung bình dữ liệu các năm trước nên chưa phản ánh đúng biến động thực tế của thị trường. Sau quá trình sáp nhập địa giới hành chính, có khu vực giá đất biến động mạnh, nhưng cơ sở dữ liệu và phương pháp xác định giá chưa theo kịp thực tiễn. Áp lực này càng rõ hơn tại Hải Phòng - địa phương đang triển khai hàng loạt dự án hạ tầng và đô thị lớn.

Theo Báo Hải Phòng, sau khi áp dụng các quy định mới về định giá đất, mức giá làm căn cứ tính tiền sử dụng đất tại nhiều dự án đầu tư đã tăng từ 1,2 đến 3,5 lần so với bảng giá cũ giai đoạn 2020-2024. Một số khu vực như Bắc sông Cấm, Vũ Yên, Cát Hải ghi nhận mức điều chỉnh rất lớn, kéo theo áp lực về giải phóng mặt bằng và nghĩa vụ tài chính của doanh nghiệp.

Điều đáng chú ý là để vận hành cơ chế mới, Hải Phòng đã phải liên tục ban hành thêm các quyết định hướng dẫn chi tiết về:phân quyền, tiêu chí xác định vị trí đất, chỉ tiêu áp dụng phương pháp định giá đất theo Nghị định 71/2024/NĐ-CP. Điều này cho thấy ngay cả những địa phương có năng lực quản lý mạnh cũng đang phải “vừa làm vừa hoàn thiện cơ chế”.

Tại Phú Thọ, quá trình xây dựng bảng giá đất mới cũng phản ánh rõ áp lực tương tự. Cuối năm 2025, địa phương này đã ban hành bảng giá đất lần đầu áp dụng từ ngày 1/1/2026 cho toàn bộ 148 xã, phường sau sắp xếp đơn vị hành chính. Theo cập nhật mới nhất, tại một số khu vực đô thị ở Việt Trì, giá đất đấu giá đã chạm ngưỡng khoảng 65 triệu đồng/m² - mức tăng rất mạnh so với giai đoạn trước.

Song song với đó, UBND tỉnh Phú Thọ cũng phải ban hành riêng các quy định về: phương pháp thặng dư, các yếu tố ảnh hưởng đến giá đất, mức chênh lệch tối đa khi xác định giá đất cụ thể.  Điều này phản ánh một thực tế, địa phương hiện không chỉ thực hiện nhiệm vụ quản lý đất đai, mà đang phải trực tiếp “gánh” trách nhiệm hoàn thiện kỹ thuật định giá trong khi hệ thống dữ liệu quốc gia chưa hoàn thiện đồng bộ.

Đáng chú ý, nhiều tổ chức nghề nghiệp và chuyên gia cũng liên tục cảnh báo về rủi ro trong công tác định giá đất hiện nay. Tháng 11/2025, Hiệp hội Bất động sản Việt Nam cho rằng việc áp dụng phương pháp thặng dư để xác định giá đất tại nhiều dự án đang phát sinh nhiều vướng mắc, đặc biệt ở khâu xác định tổng chi phí đầu tư xây dựng và doanh thu phát triển dự án. Theo Hiệp hội, nếu thiếu cơ sở dữ liệu chuẩn và hướng dẫn thống nhất, kết quả định giá rất dễ chênh lệch lớn giữa các địa phương và giữa các đơn vị tư vấn.

Trong khi đó, Hội Thẩm định giá Việt Nam cũng đã có văn bản kiến nghị sửa đổi chính sách giá đất khi sửa Luật Đất đai, nhấn mạnh yêu cầu phải hoàn thiện cơ sở dữ liệu giá đất và cơ chế phối hợp giữa cơ quan quản lý, đơn vị tư vấn và hội đồng thẩm định giá đất. Điều đáng lo hơn là những rủi ro pháp lý đang khiến nhiều cán bộ địa phương ngày càng thận trọng, thậm chí e ngại khi tham gia xác định giá đất.

Theo phản ánh tại nhiều diễn đàn chuyên môn trong năm 2025, việc xác định giá đất cụ thể hiện nay thường kéo dài do các cơ quan thực hiện lo ngại trách nhiệm pháp lý nếu xảy ra chênh lệch lớn sau thanh tra, kiểm tra hoặc điều tra sau này. Báo cáo chuyên đề về định giá đất đăng tháng 10/2025 cũng thừa nhận “tâm lý e ngại, sợ trách nhiệm” đang ảnh hưởng trực tiếp đến tiến độ xác định giá đất tại nhiều địa phương.

Đó là lý do nhiều chuyên gia gọi đây là giai đoạn cán bộ địa phương đang phải “định giá trong vùng rủi ro”. Bởi mỗi quyết định giá đất hiện nay không chỉ liên quan đến: ngân sách, bồi thường, nghĩa vụ tài chính, tiến độ dự án mà còn gắn trực tiếp với trách nhiệm pháp lý cá nhân của người ký, người thẩm định và cả tổ chức tư vấn. Trong khi đó, thị trường đất đai Việt Nam vẫn chưa có một hệ thống dữ liệu giao dịch đủ minh bạch để làm chuẩn tham chiếu ổn định. Đó cũng là nghịch lý lớn nhất hiện nay: Luật yêu cầu giá đất phải sát thị trường, nhưng chính thị trường lại chưa đủ minh bạch để trở thành “thước đo” an toàn cho công tác định giá.

z7473508466702-16a791918bc07c02a96f4d07eb7df37820260128105125_1778389253.jpg
Khu đất ven đô tại một địa phương đang trong quá trình đô thị hóa nhanh. Việc xác định giá đất, bồi thường, giải phóng mặt bằng và chuyển mục đích sử dụng đất hiện là một trong những nội dung phát sinh nhiều vướng mắc khi triển khai Luật Đất đai 2024 tại cơ sở.

Sửa Luật để tháo “điểm nghẽn” thực thi

Nhìn từ thực tiễn triển khai Luật Đất đai năm 2024, vấn đề đặt ra hiện nay không phải là phủ nhận những đổi mới của Luật, mà là phải kịp thời nhận diện những điểm nghẽn phát sinh trong quá trình tổ chức thi hành để hiệu chỉnh chính sách cho sát thực tiễn hơn, phù hợp với chính quyền địa phương 2 cấp.

Tờ trình của Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã nêu khá rõ: Luật Đất đai năm 2024 có nhiều nội dung mới, mang tính đột phá, từ quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; thu hồi, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất; tài chính đất đai, giá đất; đăng ký đất đai, cấp giấy chứng nhận đến xây dựng hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu đất đai và đẩy mạnh phân cấp, phân quyền. Đây là những thay đổi lớn, thể hiện rõ yêu cầu đổi mới quản lý và sử dụng đất đai trong giai đoạn mới.

Tuy nhiên, chính vì Luật mới chạm tới nhiều khâu then chốt của quản trị đất đai nên khi đi vào thực tế, các vướng mắc cũng bộc lộ rất nhanh. Theo Tờ trình, trong thời gian đầu tổ chức thi hành, thực tiễn đã phát sinh một số khó khăn, vướng mắc, buộc Quốc hội và Chính phủ phải tiếp tục ban hành các văn bản sửa đổi, bổ sung, quy định chi tiết để tháo gỡ. Đáng chú ý, có 8 nhóm nội dung thuộc thẩm quyền giải quyết của Chính phủ, 7 nhóm nội dung được xác định là “điểm nghẽn” do quy định pháp luật về đất đai, và 5 nhóm nội dung thuộc thẩm quyền giải quyết của Quốc hội. Các nhóm này đều liên quan trực tiếp đến những vấn đề rất nóng trong thực tiễn như giá đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, cấp giấy chứng nhận, tách thửa, hợp thửa, hệ thống thông tin đất đai và giải quyết tranh chấp.

Riêng với nhóm giá đất, đây là điểm nghẽn có tính lan tỏa lớn nhất. Bởi giá đất không đứng riêng trong một thủ tục hành chính, mà chi phối hàng loạt quyết định quản lý khác: tính tiền sử dụng đất, tiền thuê đất; xác định chi phí bồi thường; phê duyệt phương án tái định cư; lựa chọn nhà đầu tư; đấu giá quyền sử dụng đất; đấu thầu dự án có sử dụng đất; xác định nghĩa vụ tài chính của doanh nghiệp và người dân. Khi cơ chế giá đất chưa thật ổn định, dữ liệu thị trường chưa đủ tin cậy, phương pháp định giá còn có nhiều cách hiểu khác nhau, thì cán bộ địa phương rất dễ rơi vào thế khó: làm nhanh thì lo sai, làm chậm thì ách tắc dự án; xác định thấp thì lo thất thu ngân sách, xác định cao thì lo tăng chi phí đầu tư, tăng khiếu nại, làm chậm giải phóng mặt bằng.

Vì vậy, sửa Luật lần này trước hết phải được nhìn nhận là một yêu cầu thực thi. Nói cách khác, Luật cần tiếp tục được hoàn thiện để những quy định đúng về mặt định hướng có thể vận hành được ở cấp địa phương, nơi trực tiếp tiếp nhận hồ sơ, xử lý tranh chấp, tổ chức bồi thường, cấp giấy chứng nhận, xác định giá đất cụ thể và chịu sức ép trực tiếp từ người dân, doanh nghiệp.

Điểm đáng chú ý là Tờ trình của Bộ Nông nghiệp và Môi trường không đặt vấn đề sửa Luật theo hướng “làm lại từ đầu”, mà xác định rõ phạm vi là sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai năm 2024. Cách tiếp cận này cho thấy mục tiêu trọng tâm là luật hóa những cơ chế đã được thực tiễn kiểm nghiệm, kế thừa các quy định tháo gỡ tại Nghị quyết số 254/2025/QH15, Nghị quyết số 66.3/2025/NQ-CP và các nghị định liên quan; đồng thời bổ sung những nội dung mới để đáp ứng yêu cầu phát triển trong bối cảnh mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, chuyển đổi số và tăng trưởng kinh tế cao.

Đặc biệt, Tờ trình nhấn mạnh rằng gần 2 năm tổ chức thi hành Luật Đất đai năm 2024, Quốc hội và Chính phủ đã ban hành hơn 26 văn bản quy phạm pháp luật có nội dung sửa đổi hoặc quy định chi tiết Luật Đất đai để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong tổ chức thi hành và vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp. Con số này cho thấy tính chất phức tạp của quá trình đưa Luật vào cuộc sống: không chỉ có vướng mắc ở một vài thủ tục, mà là sự va đập của cả một hệ thống chính sách đất đai mới với thực tiễn quản lý rất đa dạng ở 34 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

Từ góc độ địa phương, điều này càng có ý nghĩa. Khi thẩm quyền được phân cấp mạnh hơn, địa phương không chỉ là nơi “thực hiện” chính sách, mà còn trở thành chủ thể chịu trách nhiệm trực tiếp trong nhiều quyết định quan trọng về đất đai. Tờ trình nêu rõ, so với các lĩnh vực khác, mức độ phân định thẩm quyền theo mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, mức độ phân quyền, phân cấp trong lĩnh vực đất đai đang là “triệt để” nhất; Chính phủ giao UBND cấp tỉnh quyết định thẩm quyền, phân cấp, ủy quyền và tự quy định một số thủ tục hành chính.

Đây là bước đi cần thiết để giảm tầng nấc trung gian, rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ, tăng tính chủ động của địa phương. Nhưng phân quyền càng mạnh thì yêu cầu về pháp lý càng phải rõ. Nếu thẩm quyền không được luật hóa ổn định, nếu quy trình thiếu thống nhất, nếu trách nhiệm giữa tỉnh, xã, cơ quan chuyên môn và người có thẩm quyền chưa được phân định rành mạch, thì chính sách phân cấp có thể chuyển thành áp lực thực thi. Khi đó, cán bộ cơ sở vừa phải xử lý khối lượng hồ sơ lớn hơn, vừa phải đối diện rủi ro pháp lý cao hơn, nhất là trong các quyết định về giá đất, bồi thường, chuyển mục đích sử dụng đất và cấp giấy chứng nhận.

Bởi vậy, sửa Luật Đất đai lần này cần giải quyết đồng thời hai yêu cầu: một mặt tiếp tục khơi thông nguồn lực đất đai cho phát triển; mặt khác phải tạo “đường ray pháp lý” đủ rõ để địa phương yên tâm thực hiện. Nếu chỉ nói phân cấp mà không làm rõ trách nhiệm, chỉ yêu cầu giá đất sát thị trường mà không xây dựng cơ sở dữ liệu đủ tin cậy, chỉ đẩy nhanh thủ tục mà không bảo đảm tính an toàn pháp lý cho người thực thi, thì những điểm nghẽn hiện nay có thể tiếp tục lặp lại dưới hình thức khác.

Một điểm rất quan trọng trong Tờ trình là yêu cầu sửa đổi Luật gắn với bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới, trong đó công tác xây dựng và thi hành pháp luật phải “mở đường, khơi thông mọi nguồn lực”, đưa thể chế, pháp luật trở thành lợi thế cạnh tranh và động lực phát triển. Với đất đai, yêu cầu này càng cấp thiết, bởi đất đai không chỉ là tư liệu sản xuất đặc biệt, mà còn là nguồn lực nền tảng cho hạ tầng, đô thị, công nghiệp, nông nghiệp, nhà ở, năng lượng, du lịch, dịch vụ và không gian phát triển của từng địa phương.

Từ thực tiễn giá đất có thể thấy, nếu chính sách không đủ rõ, dự án có thể chậm ngay từ khâu xác định nghĩa vụ tài chính. Nếu bảng giá đất không phù hợp, người dân có thể không đồng thuận trong bồi thường, tái định cư. Nếu phương pháp định giá thiếu cơ sở dữ liệu, cán bộ dễ e ngại, hội đồng thẩm định khó quyết, nhà đầu tư khó tính toán chi phí, còn ngân sách nhà nước có nguy cơ thất thu hoặc phát sinh tranh chấp. Một điểm nghẽn ở khâu giá đất vì thế có thể kéo theo nhiều điểm nghẽn khác trong toàn bộ chuỗi quản lý đất đai.

Do đó, nội dung sửa Luật liên quan đến giá đất, bảng giá đất, hệ số điều chỉnh giá đất, tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, thu hồi, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư không chỉ là chỉnh sửa kỹ thuật. Đây là việc thiết kế lại cơ chế vận hành để chính sách đất đai vừa sát thị trường hơn, vừa ổn định hơn, vừa giảm rủi ro cho người thực thi, vừa bảo vệ tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của người dân, doanh nghiệp và Nhà nước.

Ở tầng sâu hơn, sửa Luật cũng là dịp chuyển tư duy quản lý đất đai từ “xử lý hồ sơ” sang “quản trị nguồn lực”. Muốn vậy, hệ thống pháp luật phải đi cùng dữ liệu đất đai đầy đủ, cập nhật, liên thông; quy trình định giá phải minh bạch; trách nhiệm giải trình phải rõ; cơ chế kiểm tra, giám sát phải đủ chặt nhưng không làm tê liệt sự chủ động của địa phương. Địa phương cần được trao quyền, nhưng cũng cần được trao công cụ, dữ liệu và hành lang pháp lý đủ an toàn để thực hiện quyền đó.

Nhìn từ yêu cầu này, việc Bộ Nông nghiệp và Môi trường đề xuất bổ sung Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai vào Chương trình lập pháp năm 2026 theo trình tự rút gọn là động thái cho thấy tính cấp bách của thực tiễn. Tờ trình nêu rõ, các nội dung đề xuất sửa đổi thuộc nhóm cấp bách để giải quyết vấn đề phát sinh trong thực tiễn và cần sửa đổi ngay để phù hợp với các văn bản pháp luật mới được ban hành, nhất là yêu cầu vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp.

Có thể nói, nếu Luật Đất đai năm 2024 là bước chuyển lớn về tư duy chính sách, thì lần sửa đổi này là bước hiệu chỉnh cần thiết để chính sách đi sâu hơn vào thực tiễn. Thước đo thành công không chỉ nằm ở số điều được sửa, mà ở việc sau sửa đổi, địa phương có dễ làm hơn không, người dân có bớt khiếu nại hơn không, doanh nghiệp có tiếp cận đất đai minh bạch hơn không, dự án có được tháo gỡ nhanh hơn không, và nguồn lực đất đai có thực sự được đưa vào phát triển hay tiếp tục nằm trong vòng ách tắc.

Từ “điểm nghẽn” giá đất, có thể nhìn thấy yêu cầu rộng hơn của lần sửa Luật: pháp luật đất đai phải đủ rõ để cán bộ dám làm, đủ minh bạch để người dân đồng thuận, đủ ổn định để doanh nghiệp tính toán dài hạn, và đủ linh hoạt để địa phương khai thác hiệu quả nguồn lực phát triển. Đây chính là tinh thần cốt lõi của việc sửa Luật lần này: không chỉ tháo vướng cho một vài thủ tục, mà tạo nền tảng cho một phương thức quản trị đất đai hiện đại hơn, trách nhiệm hơn và sát thực tiễn hơn.

Những vướng mắc quanh giá đất mới chỉ là một lát cắt trong quá trình đưa Luật Đất đai 2024 vào thực tiễn. Khi phân cấp ngày càng mạnh, áp lực đang dồn nhiều hơn về địa phương - nơi trực tiếp xử lý hồ sơ, giải phóng mặt bằng, định giá đất và giải quyết khiếu nại của người dân. Tạp chí Nông nghiệp và Môi trường mời bạn đọc tiếp tục đón đọc Kỳ 2 của tuyến bài: “Phân cấp mạnh nhưng địa phương”. Nội dung kỳ này sẽ tiếp tục làm rõ những áp lực thực thi tại cơ sở, những khoảng trống về dữ liệu, nhân lực và yêu cầu hoàn thiện pháp luật trong bối cảnh mô hình chính quyền địa phương 2 cấp.

Mời bạn đọc đón đọc!.

 

Hồng Minh - Thu Trang