Kỳ 1: Nghị quyết số 57 mở đường cho phương thức quản trị mới của ngành Nông nghiệp và Môi trường

Kỳ 1: Nghị quyết số 57 mở đường cho phương thức quản trị mới của ngành Nông nghiệp và Môi trường

Thứ ba, 7/7/2026, 06:57 (GMT+7)
logo Từ hoàn thiện thể chế, cải cách thủ tục hành chính đến xây dựng nền tảng dữ liệu, việc triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW đang tạo ra chuyển động mới trong ngành Nông nghiệp và Môi trường. Không chỉ là nhiệm vụ về khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, Nghị quyết số 57 đang mở đường cho một phương thức quản trị hiện đại hơn: quản trị bằng dữ liệu, điều hành bằng nền tảng số, phục vụ người dân và doanh nghiệp bằng kết quả cụ thể.

anh-bai-ky-1_1783258548.png

Từ nhiệm vụ chính trị đến hành động điều hành có kiểm chứng

Trong bối cảnh yêu cầu phát triển mới đặt ra ngày càng cao, ngành Nông nghiệp và Môi trường không chỉ đứng trước nhiệm vụ bảo đảm an ninh lương thực, bảo vệ môi trường, quản lý tài nguyên, ứng phó biến đổi khí hậu, mà còn phải chuyển đổi mạnh mẽ phương thức quản lý. Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị vì vậy không chỉ là định hướng về khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, mà còn là yêu cầu đổi mới căn bản năng lực quản trị ngành.

Điểm đáng chú ý là việc triển khai Nghị quyết 57 trong Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã được tổ chức theo hướng có mục tiêu, có tiến độ và có cơ chế kiểm đếm cụ thể. Tại Hội nghị sơ kết 6 tháng đầu năm và triển khai nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2026 của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, TS. Nguyễn Văn Long - Vụ trưởng Vụ Khoa học và Công nghệ cho biết, Ban Thường vụ Đảng ủy Bộ, Lãnh đạo Bộ đã ban hành trên 191 văn bản, tổ chức trên 70 hội nghị, cuộc họp; đồng thời báo cáo đầy đủ bằng văn bản và trên Hệ thống báo cáo NQ57. Đến ngày 25/6/2026, Bộ được giao 295 nhiệm vụ, đã hoàn thành tốt 183 nhiệm vụ có thời hạn trước ngày 30/6/2026 và không có nhiệm vụ quá hạn.

4_1783257712.jpg
TS. Nguyễn Văn Long - Vụ trưởng Vụ Khoa học và Công nghệ báo cáo tại Hội nghị ngày 2/7/2026 tại Bộ Nông nghiệp và Môi trường

Những con số này cho thấy, cách tiếp cận mới trong điều hành: nhiệm vụ không dừng ở chỉ đạo chung, mà được cụ thể hóa thành đầu việc, thời hạn, trách nhiệm và kết quả. Trong một ngành có phạm vi quản lý rộng, liên quan trực tiếp đến sản xuất, đời sống, tài nguyên và môi trường, việc không để nhiệm vụ quá hạn là tín hiệu quan trọng về kỷ luật thực thi.

Từ đây có thể thấy, Nghị quyết số 57 đang tạo ra một “trục vận hành” mới. Đó là trục vận hành dựa trên khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, nhưng sâu xa hơn là thay đổi cách quản lý: từ xử lý thủ tục đơn lẻ sang quản trị theo hệ thống; từ phụ thuộc hồ sơ giấy sang khai thác dữ liệu; từ phản ứng hành chính sang điều hành chủ động, có khả năng đo lường và kiểm chứng.

Thể chế đi trước, cải cách thủ tục đi vào chiều sâu

Một trong những điểm nổi bật trong triển khai Nghị quyết số 57 là yêu cầu thể chế phải đi trước. Nếu chuyển đổi số không đi cùng hoàn thiện thể chế, dữ liệu không có giá trị pháp lý, quy trình không được tái thiết kế, thì công nghệ khó tạo ra thay đổi thực chất. Vì vậy, hoàn thiện thể chế, tiêu chuẩn, quy chuẩn, cải cách thủ tục hành chính được xem là nền móng của phương thức quản trị mới.

Cũng theo báo cáo của TS. Nguyễn Văn Long tại Hội nghị, Bộ đã trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành 27 văn bản, đang trình 14 văn bản; Bộ trưởng ban hành 25 thông tư. Trong 5 tháng đầu năm, Bộ hoàn thành 39/42 văn bản, đạt 93%. Bên cạnh kết quả đạt được, báo cáo cũng thẳng thắn chỉ ra một số nhiệm vụ còn chậm, trong đó có 02 văn bản chậm trình Chính phủ và 01 thông tư chậm ban hành.

Trong quá trình chuyển đổi, kết quả đạt được là cơ sở quan trọng, nhưng việc nhận diện đầy đủ những nhiệm vụ còn chậm, những điểm nghẽn cần tháo gỡ cũng có ý nghĩa không kém. Quản trị hiện đại đòi hỏi tiến độ phải được minh bạch, trách nhiệm phải được xác định rõ và các vướng mắc về thể chế phải được xử lý kịp thời, để quá trình triển khai không dừng ở hoàn thành đầu việc mà hướng tới hiệu quả thực chất.

Ở trục cải cách hành chính, kết quả thể hiện rõ hơn tác động trực tiếp tới người dân và doanh nghiệp. Toàn ngành hiện có 537 thủ tục hành chính, trong đó Bộ có 196 thủ tục. Tỷ lệ dịch vụ công trực tuyến toàn trình đạt 100%; dịch vụ công trực tuyến đủ điều kiện liên quan doanh nghiệp đạt 100%; thanh toán điện tử đạt 54,5%. Bộ đã phân cấp 58/61 thủ tục hành chính, cắt giảm 86/83 thủ tục, đơn giản hóa 88 thủ tục, qua đó giảm 8.987 ngày và 5.310 tỷ đồng chi phí tuân thủ.

Đây là những số liệu có sức nặng, bởi cải cách hành chính nếu chỉ đo bằng số lượng văn bản sẽ khó thuyết phục. Khi được lượng hóa bằng số ngày cắt giảm, chi phí tuân thủ giảm và tỷ lệ dịch vụ công trực tuyến, kết quả cải cách trở nên cụ thể hơn. Điều này cũng cho thấy một chuyển động quan trọng: cải cách hành chính không còn chỉ là “giảm giấy tờ”, mà đang chuyển sang tái cấu trúc quy trình, đưa dữ liệu vào thay thế thành phần hồ sơ, giảm thời gian chờ đợi và giảm chi phí xã hội.

Đối với ngành Nông nghiệp và Môi trường, ý nghĩa của cải cách thủ tục hành chính còn lớn hơn. Bởi thủ tục trong lĩnh vực này liên quan trực tiếp đến đất đai, môi trường, khoáng sản, tài nguyên nước, nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, an toàn thực phẩm, xuất nhập khẩu nông sản. Mỗi ngày giảm trong xử lý thủ tục có thể chuyển hóa thành cơ hội sản xuất, kinh doanh, đầu tư và lưu thông hàng hóa. Mỗi chi phí tuân thủ được cắt giảm cũng là một phần nguồn lực được trả lại cho doanh nghiệp và xã hội.

anh-nong-nghiep-thong-minh-t11-1-43666130703932329229395-68206850248917470675965_1783257996.png
Ứng dụng công nghệ số, tự động hóa và dữ liệu trong sản xuất nông nghiệp đang mở ra phương thức quản trị mới, giúp nâng cao năng suất, kiểm soát chất lượng và minh bạch chuỗi giá trị nông sản

Dữ liệu trở thành nền tảng của phương thức quản trị mới

Nếu thể chế là đường ray, cải cách hành chính là động lực tháo gỡ rào cản, thì dữ liệu chính là nền móng của phương thức quản trị mới. Ngành Nông nghiệp và Môi trường có đặc thù quản lý đa lĩnh vực, đa cấp, đa chủ thể. Vì vậy, yêu cầu đặt ra không chỉ là số hóa hồ sơ, mà phải hình thành được hệ thống dữ liệu dùng chung, có khả năng kết nối, chia sẻ, khai thác và phục vụ điều hành.

Cũng theo TS. Nguyễn Văn Long - Vụ trưởng Vụ Khoa học và Công nghệ, chuyển đổi số của Bộ Nông nghiệp và Môi trường bước đầu hình thành nền tảng quản trị ngành trên dữ liệu. Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính tập trung vận hành từ ngày 01/01/2026; đã tiếp nhận 220.200 hồ sơ, trong đó 211.567 hồ sơ trực tuyến, đạt 96,07%. Bộ cũng đã ban hành Khung Kiến trúc số, Khung kiến trúc dữ liệu, Khung quản trị, quản lý dữ liệu và Từ điển dữ liệu phiên bản 1.0.

Những khung kiến trúc này có ý nghĩa như “bản thiết kế nền” cho chuyển đổi số toàn ngành. Nếu thiếu kiến trúc số, mỗi đơn vị có thể phát triển hệ thống riêng, dẫn tới phân tán, chồng chéo, khó kết nối. Nếu thiếu kiến trúc dữ liệu, dữ liệu có thể tồn tại nhưng không thống nhất về cấu trúc, tiêu chuẩn, cách định danh và khai thác. Nếu thiếu khung quản trị dữ liệu, việc chia sẻ, cập nhật, bảo đảm an toàn, an ninh thông tin sẽ thiếu cơ sở vận hành.

Bộ Nông nghiệp và Môi trường được giao 06 nền tảng số quốc gia; trong đó 02 nền tảng đã có kế hoạch, 01 nền tảng thủ tục hành chính hoàn thành, 05 nền tảng còn lại đang triển khai. Bộ cũng được giao 25 cơ sở dữ liệu và 04 hệ thống thông tin; kết quả đã khai thác 04 hệ thống, hoàn thiện 21 cơ sở dữ liệu, kết nối, đồng bộ 12/12 cơ sở dữ liệu với Trung tâm Dữ liệu quốc gia; đồng thời công bố trường thông tin của 05 cơ sở dữ liệu để thay thế thành phần hồ sơ thủ tục hành chính.

Ở đây, điểm mới không chỉ nằm ở số lượng cơ sở dữ liệu đã hoàn thiện, mà ở cách dữ liệu được đưa vào quy trình quản lý. Khi trường thông tin trong cơ sở dữ liệu có thể thay thế thành phần hồ sơ thủ tục hành chính, người dân và doanh nghiệp sẽ không phải nhiều lần cung cấp lại những thông tin Nhà nước đã có. Đây chính là tinh thần cốt lõi của quản trị số: dữ liệu phải được dùng để giảm gánh nặng thủ tục, tăng tính minh bạch và nâng cao chất lượng phục vụ.

Nhìn rộng hơn, phương thức quản trị mới của ngành Nông nghiệp và Môi trường đang được hình thành trên ba chuyển dịch lớn. Thứ nhất, chuyển từ quản lý dựa trên hồ sơ sang quản trị dựa trên dữ liệu. Thứ hai, chuyển từ thủ tục phân tán sang nền tảng dùng chung, liên thông. Thứ ba, chuyển từ kết quả định tính sang kết quả có thể đo lường bằng số liệu, tiến độ, tỷ lệ hoàn thành và chi phí tuân thủ được cắt giảm.

Đây cũng là cơ sở để ngành bước vào giai đoạn điều hành thông minh hơn. Khi dữ liệu đất đai, môi trường, tài nguyên nước, khí tượng thủy văn, nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, truy xuất nguồn gốc được chuẩn hóa và kết nối, Bộ Nông nghiệp và Môi trường có điều kiện tốt hơn để phân tích, dự báo, cảnh báo rủi ro, hỗ trợ ra quyết định và phục vụ người dân, doanh nghiệp theo hướng chủ động hơn. Những kết quả bước đầu trong triển khai Nghị quyết số 57 cho thấy, một phương thức quản trị mới đang dần định hình trong ngành Nông nghiệp và Môi trường. Tuy nhiên, phương thức quản trị đó chỉ thực sự có sức sống khi được kiểm chứng bằng các ứng dụng cụ thể trong thực tiễn.

Một trong những minh chứng rõ nhất là Hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản, cùng với các nhiệm vụ công nghệ chiến lược đang được Bộ triển khai. Từ dữ liệu sản phẩm, dữ liệu doanh nghiệp, dữ liệu địa phương đến yêu cầu của thị trường xuất khẩu, truy xuất nguồn gốc không chỉ là công cụ minh bạch hóa nông sản, mà còn là bước đi cụ thể để chuyển đổi phương thức quản lý chất lượng, an toàn thực phẩm và thương mại nông sản trong giai đoạn mới.

Nếu Kỳ 1 cho thấy, Nghị quyết 57-NQ/TW đang mở đường cho phương thức quản trị mới của ngành Nông nghiệp và Môi trường từ thể chế, cải cách thủ tục hành chính đến nền tảng dữ liệu, thì Kỳ 2, Tạp chí Nông nghiệp và Môi trường trân trọng mời bạn đọc đón đọc nội dung: “Truy xuất nguồn gốc nông sản: ‘Hộ chiếu số’ cho quản trị ngành bằng dữ liệu” - bài viết đi sâu vào những minh chứng cụ thể của Nghị quyết 57-NQ/TW trong thực tiễn, từ hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản, cơ sở dữ liệu chuyên ngành đến các nhiệm vụ công nghệ chiến lược đang góp phần minh bạch hóa thị trường và nâng cao sức cạnh tranh của ngành Nông nghiệp và Môi trường.

Hồng Minh