Nghị quyết số 20-NQ/TW mở ra bước chuyển quan trọng trong tư duy phát triển biển: Từ khai thác lợi thế sẵn có sang xây dựng năng lực làm giàu bền vững từ biển. Trao đổi với phóng viên, TS. Phùng Đức Tiến, nguyên Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho rằng, nuôi biển phải trở thành một động lực tăng trưởng mới, gắn với khoa học công nghệ, chuỗi giá trị, bảo vệ hệ sinh thái và sinh kế lâu dài của ngư dân.
Phóng viên Tạp chí Nông nghiệp và Môi trường đã có cuộc trò chuyện với TS. Phùng Đức Tiến, nguyên Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường về cơ hội phát triển của ngành thủy sản khi Nghị quyết số 20-NQ/TW mở ra tầm nhìn xây dựng Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh. Trong phần 1 của cuộc trò chuyện, TS. Phùng Đức Tiến phân tích tiềm năng, dư địa và những điều kiện cần thiết để đưa nuôi biển trở thành một động lực tăng trưởng mới, gắn với khoa học công nghệ, chuỗi giá trị, bảo vệ môi trường và sinh kế lâu dài của ngư dân.
Phóng viên: Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 28/7/2026 về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh mở ra cơ hội mới như thế nào đối với ngành thủy sản, thưa ông?
TS. Phùng Đức Tiến: Trước đây, Trung ương đã ban hành Nghị quyết số 36-NQ/TW về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam. Đây là một nghị quyết có nội dung toàn diện, tạo nền tảng quan trọng cho quá trình phát triển kinh tế biển.
Trên cơ sở tổng kết thực tiễn triển khai Nghị quyết số 36-NQ/TW, Nghị quyết số 20-NQ/TW tiếp tục hoàn thiện hệ thống quan điểm, mục tiêu và giải pháp, hướng tới xây dựng Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh. Nghị quyết xác định mục tiêu cụ thể đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 và hệ thống 9 nhóm nhiệm vụ, giải pháp mang tính chiến lược.
Đối với ngành thủy sản, đây là cơ hội để chúng ta tổ chức lại không gian phát triển trên biển. Thủy sản không chỉ là một ngành sản xuất đơn thuần mà còn liên quan trực tiếp đến sinh kế của ngư dân, bảo vệ nguồn lợi, môi trường, chủ quyền và an ninh quốc gia trên biển.
Trong nhiều năm qua, thủy sản chiếm khoảng 27-28% giá trị của ngành nông nghiệp và duy trì tốc độ tăng trưởng tương đối cao. Năm 2025, sản lượng thủy sản đạt khoảng 9,95 triệu tấn, tăng 4,4%. Trong 8 tháng năm 2026, sản lượng đạt gần 6,95 triệu tấn, tăng 3,8%; kim ngạch xuất khẩu đạt khoảng 7,94 tỷ USD, tăng 10,9%.
Với đà tăng trưởng hiện nay, sản lượng thủy sản cả năm 2026 có khả năng vượt 10 triệu tấn; xuất khẩu có thể đạt khoảng 11,5 tỷ USD. Những con số này cho thấy tiềm năng của ngành còn rất lớn. Tuy nhiên, tăng trưởng trong giai đoạn mới phải đi đôi với chất lượng, giá trị gia tăng và tính bền vững.
Phóng viên: Theo ông, ngành Thủy sản cần được tổ chức lại trên những trụ cột nào?
TS. Phùng Đức Tiến: Tôi cho rằng, thủy sản phải được nhìn nhận trên ba trụ cột gồm nuôi trồng, khai thác và bảo tồn. Ba trụ cột này không tách rời nhau mà phải được đặt trong một hệ sinh thái phát triển thống nhất.
Đối với khai thác, Việt Nam hiện có khoảng hơn 80.000 tàu cá, trong đó gần 28.000 tàu có chiều dài từ 15m trở lên. Sản lượng khai thác thủy sản hằng năm khoảng 3,8 triệu tấn. Nếu trừ khoảng 200.000 tấn khai thác trong nội địa, sản lượng khai thác biển vào khoảng 3,6 triệu tấn.
Trong khi đó, kết quả điều tra cho thấy trữ lượng nguồn lợi hải sản biển của Việt Nam khoảng 3,95 triệu tấn. Như vậy, áp lực khai thác hiện nay rất lớn. Chúng ta không thể tiếp tục tăng sản lượng khai thác bằng cách tăng số tàu hoặc tăng cường lực khai thác.
Hướng đi phù hợp là từng bước giảm cường lực khai thác, cơ cấu lại đội tàu và chuyển đổi những nghề tác động lớn đến nguồn lợi. Việc này phải được thực hiện theo lộ trình, gắn với chính sách hỗ trợ sinh kế để ngư dân có thể chuyển sang nghề phù hợp hoặc tham gia các chuỗi sản xuất mới.
Cùng với đó, đội tàu phải được hiện đại hóa. Tổn thất sau thu hoạch trong khai thác thủy sản hiện còn lớn, có trường hợp dao động từ 15% đến 40%, tùy loại tàu và phương thức bảo quản. Nhiều tàu có khoang nhỏ, thiết bị làm lạnh yếu, thời gian đi biển kéo dài từ 14 đến 21 ngày nên chất lượng sản phẩm giảm đáng kể.
Nếu không nâng cấp công nghệ bảo quản thì dù sản lượng khai thác cao, giá trị thu được vẫn thấp. Vì vậy, phải chuyển từ tư duy chú trọng số lượng sang nâng cao chất lượng của từng chuyến biển.
Phóng viên: Khi dư địa tăng khai thác không còn nhiều, nuôi biển có thể đảm nhiệm vai trò như thế nào, thưa ông?
TS. Phùng Đức Tiến: Việt Nam có hơn 3.260 km đường bờ biển và vùng biển rộng trên 1 triệu km². Đây là điều kiện tự nhiên rất thuận lợi để phát triển nuôi biển.
Thực hiện Quyết định số 1664/QĐ-TTg về Đề án phát triển nuôi trồng thủy sản trên biển, giai đoạn 2021-2025, lĩnh vực nuôi biển đạt mức tăng trưởng bình quân khoảng 8,4%. Đến năm 2025, sản lượng nuôi biển đạt khoảng 859.000 tấn.
Mục tiêu đến năm 2030 là đạt sản lượng khoảng 1,4-1,5 triệu tấn, kim ngạch xuất khẩu từ 1,8 đến 2 tỷ USD. Đến năm 2025, giá trị xuất khẩu các sản phẩm nuôi biển đã đạt trên 1,2 tỷ USD và tiến gần mức 1,3 tỷ USD. Trong đó, tôm hùm đóng góp khoảng 850 triệu USD; nhóm cá biển đạt trên 100 triệu USD; cua, ghẹ và nhuyễn thể hai mảnh vỏ đóng góp trên 250 triệu USD.
Tốc độ tăng trưởng 8% mỗi năm là mục tiêu có khả năng đạt được. Tuy nhiên, yêu cầu nâng tỷ trọng nuôi biển lên trên 15% tổng giá trị ngành thủy sản là một bài toán khó hơn. Hiện tỷ trọng này mới ở mức khoảng 12,7%.
Để đạt mục tiêu 15%, chúng ta không thể chỉ mở rộng diện tích hoặc tăng số lượng lồng bè. Nuôi biển phải chuyển sang quy mô công nghiệp, ứng dụng công nghệ cao, tổ chức theo chuỗi và từng bước tiến ra xa bờ.
Phóng viên: Vậy theo ông, đâu là những điều kiện tiên quyết để nuôi biển chuyển từ sản xuất nhỏ sang một ngành công nghiệp hiện đại?
TS. Phùng Đức Tiến: Theo tôi, trước hết là hạ tầng. Trong nhiều năm, nguồn lực đầu tư cho cảng cá, bến cá, khu neo đậu và khu tránh trú bão còn hạn chế. Đối với nuôi biển, hạ tầng phục vụ sản xuất gần như chưa được quan tâm tương xứng.
Nhiều doanh nghiệp muốn đầu tư nuôi biển nhưng gặp khó khăn khi tiếp cận quỹ đất trên bờ để xây dựng khu hậu cần, cung ứng vật tư, sơ chế và bảo quản sản phẩm. Nếu không có hạ tầng trên bờ thì rất khó hình thành chuỗi nuôi biển hoàn chỉnh.
Điều kiện thứ hai là công nghệ. Tôi đã có dịp đến Na Uy hai lần để nghiên cứu mô hình nuôi biển. Hệ thống lồng nuôi của họ có khả năng tự động hạ xuống khi bão lớn và nâng lên sau khi điều kiện thời tiết ổn định. Trong khi đó, bão Yagi từng gây thiệt hại khoảng 15.000 ha nuôi trồng thủy sản ở nước ta. Điều đó cho thấy, công nghệ lồng nuôi và khả năng thích ứng với thiên tai có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.
Công nghệ nuôi biển còn bao gồm hệ thống cho ăn tự động, camera giám sát, theo dõi môi trường, kiểm soát dịch bệnh, vaccine và quản trị dữ liệu. Việt Nam đã có một số mô hình đầu tư tương đối hiện đại, như dự án nuôi cá biển tại Khánh Hòa có tổng vốn khoảng 200 triệu USD. Tuy nhiên, số lượng mô hình như vậy vẫn còn ít.
Điều kiện thứ ba là con giống. Năng lực nghiên cứu, chọn tạo và sản xuất giống thủy sản biển của chúng ta còn hạn chế. Một phần giống tôm hùm và một số đối tượng nuôi khác vẫn phụ thuộc nguồn nhập khẩu hoặc nguồn giống chưa được kiểm soát đầy đủ.
Nếu không chủ động được con giống, chúng ta sẽ khó kiểm soát chất lượng, dịch bệnh, giá thành và kế hoạch sản xuất. Do đó, đầu tư cho nghiên cứu và sản xuất giống phải được coi là một khâu đột phá.
Phóng viên: Ông nhiều lần nhấn mạnh nuôi biển phải gắn với chuỗi giá trị. Vì sao đây là yêu cầu có tính quyết định, thưa ông?
TS. Phùng Đức Tiến: Nuôi biển hiện đại không dừng lại ở việc đưa con giống xuống lồng và chờ thu hoạch. Phải hình thành chuỗi khép kín từ nghiên cứu giống, sản xuất, cung ứng thức ăn, phòng bệnh, thu hoạch, sơ chế, bảo quản, chế biến đến tiêu thụ và xuất khẩu.
Ở Na Uy, tôi đã thăm một hệ thống gồm 49 trang trại nuôi biển. Sản phẩm cá hồi của họ có thể cung cấp hàng chục triệu suất ăn mỗi ngày. Giá trị xuất khẩu cá hồi của Na Uy thậm chí vượt cả giá trị xuất khẩu dầu khí trong một số giai đoạn.
Điều đáng chú ý là các trang trại không hoạt động riêng lẻ. Cá được đưa trực tiếp vào hệ thống thu hoạch và chế biến. Sản phẩm đạt tiêu chuẩn được phân loại ngay, còn sản phẩm không đạt yêu cầu bị loại khỏi dây chuyền. Các trang trại còn gắn với hoạt động du lịch và giới thiệu công nghệ.
Tại Phúc Kiến, Trung Quốc, Nhà nước đầu tư hạ tầng vùng nuôi, sau đó tổ chức thu phí theo lộ trình. Họ đồng thời đầu tư nghiên cứu giống, tổ chức sản xuất, thu hoạch, phân loại, sơ chế, bảo quản, chế biến và xuất khẩu.
Việt Nam đã hình thành một số chuỗi đối với cá biển, nhuyễn thể và tôm hùm, nhưng tính liên kết chưa cao. Nếu các khâu vẫn hoạt động rời rạc thì người nuôi sẽ tiếp tục đối mặt với rủi ro về thị trường, dịch bệnh và giá bán.
Phóng viên: Theo ông, nuôi biển trong thời gian tới cần được tổ chức theo không gian như thế nào thưa ông?
TS. Phùng Đức Tiến: Phải từng bước đưa hoạt động nuôi ra xa bờ. Nếu tiếp tục tập trung mật độ quá cao tại các khu vực gần bờ, ô nhiễm môi trường và dịch bệnh sẽ trở thành rủi ro thường trực.
Nhiều quốc gia đã sử dụng tàu nuôi biển có khả năng di chuyển theo mùa vụ và điều kiện tự nhiên. Hệ thống nuôi, cho ăn, giám sát, thu hoạch và sơ chế được tổ chức ngay trên tàu theo một chu trình khép kín.
Việt Nam cũng phải tiếp cận những mô hình như vậy, trước hết đối với những loài có giá trị cao và phù hợp với điều kiện tự nhiên. Phát triển nuôi xa bờ không chỉ mở rộng không gian sản xuất mà còn tạo sự hiện diện kinh tế thường xuyên trên biển, góp phần phục vụ quốc phòng, an ninh và bảo vệ chủ quyền.
Phóng viên: Phát triển nuôi biển quy mô lớn có tạo thêm áp lực đối với môi trường và hệ sinh thái biển không, thưa ông?
TS. Phùng Đức Tiến: Bất kỳ hoạt động kinh tế nào nếu phát triển thiếu kiểm soát đều có thể gây sức ép lên môi trường. Vì vậy, nuôi biển phải được đặt trong mối quan hệ chặt chẽ với bảo tồn và quản trị môi trường biển.
Nguồn lực đầu tư cho các khu bảo tồn biển trong thời gian qua còn hạn chế. Một số địa phương như Cù Lao Chàm đã triển khai khá tốt mô hình đồng quản lý, huy động cộng đồng cùng tham gia bảo vệ hệ sinh thái. Những mô hình như vậy cần được nghiên cứu, nhân rộng và có nguồn lực duy trì ổn định.
Rác thải nhựa, chất thải sinh hoạt, chất thải rắn và chất thải xây dựng đang tạo áp lực lớn đối với môi trường biển. Ngay trên tàu cá, điều kiện thu gom và xử lý chất thải cũng phải thay đổi. Nếu muốn tham gia sâu hơn vào thị trường thế giới, nghề cá Việt Nam phải tuân thủ các tiêu chuẩn về môi trường, lao động và điều kiện sinh hoạt trên tàu.
Phát triển thủy sản không thể đánh đổi môi trường. Nuôi biển chỉ có thể trở thành động lực tăng trưởng dài hạn khi hệ sinh thái được bảo vệ, nguồn lợi được phục hồi và các hoạt động kinh tế trên biển được tổ chức hài hòa.
Phóng viên: Như vậy, điều quan trọng nhất để biến tiềm năng nuôi biển thành giá trị thực tế là gì, thưa ông?
TS. Phùng Đức Tiến: Đó là chuyển từ tư duy khai thác tiềm năng sang xây dựng năng lực quốc gia về biển. Chúng ta phải có hạ tầng, công nghệ, con giống, nguồn nhân lực, tín dụng, doanh nghiệp dẫn dắt và hệ thống quản trị phù hợp.
Nuôi biển phải tạo ra sản phẩm có giá trị cao, truy xuất được nguồn gốc, đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế và hình thành chuỗi chế biến, xuất khẩu. Đồng thời, sự phát triển ấy phải gắn với bảo tồn, môi trường, sinh kế của ngư dân và bảo vệ chủ quyền.
Nếu tổ chức tốt, nuôi biển không chỉ đóng góp thêm sản lượng. Đây sẽ là một không gian kinh tế mới, góp phần thực hiện khát vọng đưa Việt Nam trở thành quốc gia mạnh, giàu và phát triển bền vững từ biển.
Phóng viên: Trân trọng cảm ơn ông!
Đón đọc kỳ 2: Nguyên Thứ trưởng Phùng Đức Tiến phân tích những điểm nghẽn về hạ tầng, khoa học công nghệ, tín dụng và nguồn nhân lực; đồng thời làm rõ yêu cầu siết chặt kỷ cương thực thi để gỡ cảnh báo “thẻ vàng” IUU và xây dựng nghề cá Việt Nam phát triển bền vững, minh bạch, có trách nhiệm trên Tạp chí Nông nghiệp và Môi trường.