Ứng dụng khoa học kỹ thuật trong nuôi ngao tại Thanh Hóa đang mở ra hướng phát triển kinh tế biển xanh, hiện đại, góp phần nâng cao chất lượng sản phẩm, kiểm soát môi trường và gia tăng giá trị chuỗi sản xuất, từng bước đáp ứng yêu cầu của các thị trường xuất khẩu.
Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 28/7/2026 của Ban Chấp hành Trung ương về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh xác định kinh tế biển là một động lực tăng trưởng quan trọng, đồng thời đặt ra yêu cầu chuyển mạnh từ tư duy khai thác biển sang quản trị biển hiện đại, phát triển các ngành kinh tế biển xanh, thông minh, tuần hoàn và nâng cao giá trị gia tăng.
Trong định hướng đó, nuôi trồng thủy sản nói chung và nuôi ngao nói riêng là một trong những lĩnh vực có nhiều dư địa để phát triển. Nghị quyết đặt mục tiêu đến năm 2030 giá trị sản xuất nuôi biển tăng bình quân 8%/năm, tỷ trọng nuôi biển trong tổng giá trị sản xuất thủy sản đạt 15%; đồng thời yêu cầu cơ cấu lại ngành thủy sản theo hướng hiện đại, bền vững, tổ chức sản xuất theo chuỗi giá trị, tăng cường nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ trong nuôi trồng, khai thác và bảo quản thủy sản.
Tại Thanh Hóa, những mô hình sản xuất ngao theo hướng kiểm soát từ vùng nuôi đến xử lý sau thu hoạch đang cho thấy cách tiếp cận phù hợp với yêu cầu này. Không chỉ tập trung vào sản lượng, doanh nghiệp ngày càng chú trọng chất lượng, an toàn thực phẩm, sử dụng hiệu quả nguồn nước và giảm tác động đến môi trường, qua đó nâng giá trị của sản phẩm biển.
Thanh Hóa có lợi thế lớn để phát triển kinh tế biển với hệ thống cửa sông, vùng triều và các bãi bồi ven biển. Trong nhiều năm, nuôi ngao đã trở thành sinh kế quan trọng của người dân ven biển, tạo ra sản lượng hàng hóa đáng kể và từng bước hình thành những vùng sản xuất tập trung.
Tại xã Tân Tiến, tỉnh Thanh Hóa, Công ty TNHH San Anh đang xây dựng mô hình nuôi, xử lý và cung ứng ngao theo hướng tập trung. Điểm đáng chú ý trong mô hình này là doanh nghiệp không chỉ quan tâm đến khâu nuôi mà tổ chức quy trình liên hoàn, từ vùng sản xuất, nuôi lưu, xử lý, phân loại đến tiêu thụ sản phẩm.
Vùng sản xuất của Công ty TNHH San Anh có diện tích nuôi các đối tượng thủy sản như cá vược (14ha), cá chim (2,5ha), cá mú (2ha); ngoài ra doanh nghiệp quản lý khoảng 224ha vùng nuôi ngoài biển. Riêng với ngao, công ty dành khoảng 2ha để sản xuất ngao giống và 3ha để nuôi lưu, xử lý ngao trước khi đưa ra thị trường.
Theo anh Lê Duy Lương, cán bộ quản lý Công ty TNHH San Anh, việc kiểm soát chất lượng được thực hiện xuyên suốt quá trình sản xuất. Ngao sau khi thu gom được đưa về khu vực nuôi lưu để làm sạch, loại bỏ cát, bùn và sàng lọc những sản phẩm không bảo đảm chất lượng.
Tại khu xử lý, doanh nghiệp sử dụng nền ao cát kết hợp các phương pháp kỹ thuật nhằm loại bỏ vỏ ngao, ngao chết, ngao vỡ. Công nghệ xử lý bằng vi sinh được áp dụng để giảm độ nhớt, khử mùi hôi, hỗ trợ tăng độ tảo, hạn chế tác động đến môi trường và cho phép tái sử dụng nguồn nước.
Bên cạnh đó, phương pháp ngâm bè, ngâm khay trong bể được sử dụng để ngao nhả cát. Đây là công đoạn có ý nghĩa quan trọng bởi chất lượng sản phẩm không chỉ được đánh giá ở kích cỡ hay sản lượng mà còn phụ thuộc vào độ sạch, khả năng bảo quản và mức độ đáp ứng yêu cầu của thị trường.
“Ngao sau xử lý sạch cát, kích cỡ đồng đều hơn; những con không bảo đảm chất lượng được loại bỏ, nhờ đó nâng hiệu quả và chất lượng sản phẩm”, anh Lương cho biết.
Cách làm này cho thấy sự thay đổi trong phương thức sản xuất, từ chỗ chú trọng khai thác sản lượng sang kiểm soát chất lượng và hiệu quả của cả quy trình. Nguồn nước được kiểm soát, chất thải được xử lý, nước sau quá trình xử lý có thể tái sử dụng, qua đó góp phần giảm lượng nước phải thay mới và hạn chế nguy cơ gây ô nhiễm trong khu vực nuôi tập trung.
Định hướng này phù hợp với tinh thần Nghị quyết số 20-NQ/TW: Khai thác, sử dụng hiệu quả và bền vững tài nguyên biển phải gắn với bảo vệ môi trường, bảo tồn hệ sinh thái; phát triển kinh tế không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng đơn thuần. Nghị quyết cũng nhấn mạnh yêu cầu thúc đẩy các mô hình sản xuất, tiêu dùng xanh, phát thải thấp, tăng cường phân loại, tái chế và tái sử dụng chất thải.
Với nuôi ngao, yêu cầu này càng có ý nghĩa khi hoạt động sản xuất phụ thuộc trực tiếp vào chất lượng nguồn nước và hệ sinh thái ven biển. Một vùng nuôi phát triển ổn định không chỉ cần con giống tốt, kỹ thuật nuôi phù hợp mà còn phải duy trì được môi trường nước an toàn, hạn chế ô nhiễm và chủ động ứng phó với những biến động của môi trường biển.
Nghị quyết số 20-NQ/TW xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực quan trọng để xây dựng quốc gia biển mạnh, đồng thời định hướng phát triển các ngành kinh tế biển theo hướng hiện đại, xanh và thông minh.
Trong nuôi ngao, việc doanh nghiệp ứng dụng công nghệ vi sinh để xử lý ngao, kiểm soát chất lượng nước và tổ chức quy trình khép kín cho thấy khoa học kỹ thuật đang từng bước đi vào sản xuất. Công nghệ không chỉ giúp nâng cao chất lượng sản phẩm mà còn góp phần sử dụng hiệu quả tài nguyên và giảm tác động đến môi trường.
Không dừng lại ở khâu sản xuất, doanh nghiệp tại Tân Tiến đang hướng tới việc đưa con ngao tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị thủy sản. Từ vùng nuôi ven biển, ngoa được đưa qua các công đoạn xử lý, phân loại trước khi tiêu thụ tại thị trường trong nước và xuất khẩu.
Hiện sản phẩm của Công ty TNHH San Anh được xuất khẩu sang các thị trường như châu Âu, Mỹ, Nhật Bản và Hàn Quốc. Theo doanh nghiệp, sản lượng xuất bán có thể đạt khoảng 70-100 tấn/ngày. Con số này cho thấy quy mô thị trường đối với sản phẩm ngao đang mở rộng, đồng thời đặt ra yêu cầu ngày càng cao về tính ổn định của nguồn nguyên liệu, chất lượng và khả năng truy xuất, kiểm soát trong toàn bộ chuỗi sản xuất.
Đây cũng là điểm mà kinh tế biển cần hướng tới theo tinh thần Nghị quyết số 20-NQ/TW: Không chỉ khai thác lợi thế tự nhiên mà phải tạo ra các chuỗi sản xuất có giá trị gia tăng cao, tăng năng lực cạnh tranh và tham gia sâu hơn vào thị trường trong nước, quốc tế.
Nghị quyết xác định cần cơ cấu lại ngành thủy sản theo hướng hiện đại, bền vững, tổ chức sản xuất theo chuỗi giá trị, gắn với các vùng sinh thái và tích hợp đa giá trị; đồng thời đầu tư, nâng cấp hệ thống bảo quản, chế biến và chuỗi công nghiệp phụ trợ. Đây là nền tảng để chuyển hoạt động thủy sản từ sản xuất đơn thuần sang mô hình kinh tế có liên kết chặt chẽ giữa vùng nguyên liệu, doanh nghiệp, chế biến và thị trường.
Ông Phạm Ngọc Luyến, Phó Chủ tịch UBND xã Tân Tiến cho biết: "Nuôi ngao là một trong những ngành sản xuất có vai trò quan trọng đối với kinh tế vùng ven biển. Thời gian tới, địa phương định hướng người dân phát triển vùng nuôi theo hướng an toàn, bền vững, tăng cường áp dụng tiến bộ kỹ thuật, đồng thời chú trọng bảo vệ môi trường và nguồn nước".
Địa phương cũng khuyến khích người dân, doanh nghiệp tăng cường liên kết trong sản xuất và tiêu thụ, từng bước xây dựng vùng nuôi đạt các tiêu chuẩn chất lượng, hướng tới tiêu chuẩn ASC; hỗ trợ kết nối thị trường, xúc tiến thương mại, bảo hộ thương hiệu và nâng cao giá trị sản phẩm.
Định hướng này phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế biển theo chuỗi giá trị mà Nghị quyết số 20-NQ/TW đặt ra. Khi người dân, doanh nghiệp và địa phương cùng tham gia vào chuỗi liên kết, việc kiểm soát chất lượng có thể được thực hiện từ vùng nuôi, giảm rủi ro về đầu ra và tạo điều kiện để sản phẩm đáp ứng những tiêu chuẩn ngày càng cao của thị trường.
Quan trọng hơn, phát triển nuôi ngao theo hướng bền vững còn tạo ra giá trị xã hội đối với cộng đồng ven biển. Nghị quyết số 20-NQ/TW nhấn mạnh vai trò của người dân và doanh nghiệp trong phát triển kinh tế biển, đồng thời đặt mục tiêu nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của cư dân vùng biển, đảo và hỗ trợ người dân phát triển sinh kế bền vững.
Đối với Thanh Hóa, phát triển vùng nuôi ngao theo hướng tập trung, ứng dụng khoa học kỹ thuật và gắn với thị trường có thể tạo thêm việc làm, nâng cao thu nhập cho người dân ven biển, đồng thời hình thành vùng nguyên liệu ổn định phục vụ chế biến và xuất khẩu. Đây là hướng phát triển vừa khai thác lợi thế tự nhiên của địa phương, vừa nâng cao giá trị của tài nguyên biển thông qua công nghệ và tổ chức sản xuất.
Tuy nhiên, để nghề nuôi ngao phát triển lâu dài, yếu tố môi trường cần được đặt ở vị trí trung tâm. Chất lượng vùng nuôi, nguồn nước, con giống, mật độ nuôi, quy trình xử lý sau thu hoạch và khả năng kiểm soát dịch bệnh đều cần được quản lý đồng bộ. Việc phát triển sản xuất phải đi cùng bảo vệ hệ sinh thái ven biển, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng và các nguy cơ ô nhiễm.
Nghị quyết số 20-NQ/TW dành một nhóm nhiệm vụ riêng cho bảo vệ môi trường, bảo tồn hệ sinh thái biển và nâng cao khả năng chống chịu của các địa phương ven biển, trong đó nhấn mạnh bảo vệ đa dạng sinh học, phục hồi nguồn lợi và kiểm soát chặt chẽ nguy cơ ô nhiễm từ các hoạt động trên đất liền, ven biển và trên biển.
Vì vậy, mô hình nuôi và xử lý ngao tại Tân Tiến không chỉ được nhìn ở góc độ một cơ sở sản xuất thủy sản mà còn cho thấy hướng tiếp cận mới trong phát triển kinh tế biển: Lấy khoa học kỹ thuật làm công cụ nâng cao năng suất và chất lượng; lấy thị trường làm động lực tổ chức sản xuất; lấy bảo vệ môi trường làm điều kiện để phát triển lâu dài.
Từ những vùng nuôi ven biển, nếu tiếp tục hình thành được các chuỗi liên kết từ con giống, vùng nguyên liệu, nuôi thương phẩm, xử lý, chế biến đến xuất khẩu, ngao sẽ không chỉ là một sản phẩm thủy sản mà có thể trở thành một mắt xích trong chuỗi giá trị kinh tế biển của Thanh Hóa.
Đó cũng là cách cụ thể hóa tinh thần Nghị quyết số 20-NQ/TW: Chuyển từ khai thác đơn thuần sang phát triển kinh tế biển hiện đại, xanh và bền vững; phát huy lợi thế biển nhưng đồng thời bảo vệ nguồn tài nguyên, hệ sinh thái và sinh kế của cộng đồng ven biển. Khi sản xuất được tổ chức khoa học, công nghệ được ứng dụng phù hợp và thị trường được kết nối chặt chẽ, giá trị của con ngao cũng được nâng lên, đóng góp thiết thực vào mục tiêu phát triển kinh tế biển theo hướng bền vững.