news
Kỳ 2: Giữ biển xanh để du lịch phát triển bền vững

Kỳ 2: Giữ biển xanh để du lịch phát triển bền vững

Thứ tư, 9/9/2026, 07:25 (GMT+7)
logo Ở kỳ 1, tuyến bài đã phân tích khả năng đưa nghề cá, nuôi biển, văn hóa làng chài và ẩm thực địa phương vào chuỗi giá trị du lịch. Tuy nhiên, biển không phải nguồn tài nguyên có thể khai thác không giới hạn. Tiếp nối tuyến bài, kỳ 2 làm rõ yêu cầu bảo vệ hệ sinh thái, tổ chức lại không gian phát triển và thiết lập cơ chế để doanh nghiệp, người dân cùng có trách nhiệm với điểm đến. Đó là nền tảng để du lịch biển tạo ra giá trị lâu dài mà không đánh đổi môi trường và sinh kế cộng đồng.
anh-1_1788765401.png
Một góc bãi biển Vân Đồn (Quảng Ninh) - điểm đến giàu tiềm năng phát triển du lịch biển, nghỉ dưỡng và du lịch sinh thái.

Một bãi biển sạch có thể mời gọi du khách. Một rạn san hô khỏe mạnh có thể hình thành sản phẩm lặn biển. Một làng chài còn giữ được nghề truyền thống có thể kể câu chuyện về lịch sử, văn hóa và đời sống của cộng đồng. Nhưng chỉ cần hệ sinh thái bị tổn thương, rác thải phủ lên bờ cát hoặc hoạt động xây dựng phá vỡ cảnh quan, sức hấp dẫn ấy sẽ nhanh chóng suy giảm.

Biển tạo ra cảnh quan, nguồn lợi, thực phẩm, việc làm và không gian phát triển. Song, biển cũng là một hệ sinh thái nhạy cảm. Những tác động diễn ra trên bờ, từ nước thải, chất thải xây dựng đến rác thải sinh hoạt, cuối cùng đều có thể dồn về biển.

Trong bối cảnh du lịch được xác định là ngành kinh tế mũi nhọn, áp lực khai thác không gian ven biển sẽ tiếp tục gia tăng. Các khu nghỉ dưỡng, bến du thuyền, nhà hàng, hoạt động thể thao biển, cơ sở nuôi trồng và dịch vụ vui chơi cùng tìm kiếm không gian phát triển. Nếu thiếu quy hoạch và cơ chế điều phối, chính những động lực tăng trưởng ấy có thể làm suy giảm tài nguyên tạo nên sức sống của du lịch.

Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 22/8/2026 của Bộ Chính trị đặt ra một yêu cầu xuyên suốt: phát triển du lịch chất lượng cao, thông minh, xanh, sáng tạo và giàu bản sắc văn hóa. Mục tiêu không chỉ là thu hút thêm du khách mà phải nâng cao chất lượng trải nghiệm, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh, đồng thời bảo đảm sự gắn kết bền vững giữa kinh tế, văn hóa, xã hội và môi trường. Với du lịch biển, đây là lời giải cho một bài toán kép: vừa khai thác hiệu quả lợi thế biển, vừa gìn giữ khả năng tái tạo của hệ sinh thái cho những thế hệ sau.

Không thể xây du lịch trên một hệ sinh thái suy giảm

Đối với du lịch biển, môi trường không phải yếu tố bổ trợ mà là điều kiện tồn tại. Nước biển, bãi cát, rạn san hô, thảm cỏ biển, rừng ngập mặn và nguồn lợi thủy sản cùng hình thành chất lượng của điểm đến.

Khi một mắt xích suy giảm, toàn bộ hệ sinh thái dịch vụ sẽ bị ảnh hưởng. Nước biển ô nhiễm khiến hoạt động tắm và thể thao dưới nước mất an toàn. San hô suy thoái làm giảm sức hấp dẫn của sản phẩm lặn biển. Nguồn lợi cạn kiệt ảnh hưởng đến ẩm thực, sinh kế và văn hóa nghề cá. Rác thải làm xấu hình ảnh điểm đến, kéo theo chi phí xử lý và nguy cơ mất thị trường khách.

tt4-1_1788765668.jpg
Nguyên Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Chủ tịch Hội Thủy sản Việt Nam Phùng Đức Tiến chia sẻ với phóng viên Tạp chí Nông nghiệp và Môi trường

Trao đổi với phóng viên Tạp chí Nông nghiệp và Môi trường, nguyên Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Chủ tịch Hội Thủy sản Việt Nam Phùng Đức Tiến nhấn mạnh, phát triển kinh tế biển phải được đặt trong một hệ sinh thái thống nhất. Đối với ngành Thủy sản, ba trụ cột gồm nuôi trồng, khai thác và bảo tồn không thể bị tách rời. “Bảo tồn phải được đầu tư, phải được tăng cường, chứ nếu không thì nay mai sẽ mất hệ sinh thái”, ông Phùng Đức Tiến cảnh báo.

Theo ông Phùng Đức Tiến, nguồn lực đầu tư cho các đảo, quần đảo và khu bảo tồn biển trong nhiều năm qua còn hạn chế. Trong khi đó, một số mô hình đồng quản lý đã cho thấy, hiệu quả khi cộng đồng trực tiếp tham gia bảo vệ tài nguyên và được hưởng lợi từ thành quả bảo tồn.

Cù Lao Chàm là một trường hợp được ông Phùng Đức Tiến nhắc tới. Đây là nơi từng tạo dấu ấn với hoạt động hạn chế túi nylon, tổ chức cộng đồng tham gia bảo vệ hệ sinh thái và phát triển du lịch dựa trên giá trị của Khu dự trữ sinh quyển thế giới. Tuy nhiên, sức ép đối với đảo đang ngày càng rõ. Hàng chục chuyến tàu cao tốc đưa khách ra, vào mỗi ngày, trong khi các sản phẩm tham quan phổ biến vẫn tập trung trong thời gian ngắn. Sáu tháng đầu năm 2026, Cù Lao Chàm đón hơn 124.500 lượt khách. Lượng khách lớn tạo nguồn thu, nhưng đồng thời gây áp lực lên hạ tầng, nước sạch, xử lý chất thải và hệ sinh thái dưới biển.

Nghịch lý này không chỉ xuất hiện ở Cù Lao Chàm. Nhiều đảo và vùng ven biển đang đứng trước bài toán tương tự: lượng khách tăng nhanh hơn năng lực hạ tầng; cơ sở lưu trú mở rộng trong khi hệ thống thu gom, xử lý nước thải và rác thải chưa theo kịp; sản phẩm du lịch phụ thuộc vào cảnh quan nhưng nguồn lực dành cho bảo tồn còn mỏng.

Nguyên Thứ trưởng Phùng Đức Tiến đặc biệt lưu ý về rác thải nhựa, chất thải sinh hoạt, chất thải rắn và chất thải xây dựng đổ ra biển. “Rác thải nhựa mà không thu gom, không xử lý thì sẽ tác động rất lớn đến môi trường biển. Tôi đã chứng kiến có những khu vực dưới biển gần như bị vôi hóa, trắng xóa; san hô cũng bị hỏng do ô nhiễm, chất thải rắn, chất thải nhựa, chất thải sinh hoạt và chất thải xây dựng”, ông Phùng Đức Tiến cho biết.

Cảnh báo ấy cho thấy bảo vệ môi trường biển không thể chỉ dựa vào những chiến dịch thu gom rác theo đợt. Cần quản lý từ nguồn phát sinh, bao gồm khách sạn, nhà hàng, khu nghỉ dưỡng, tàu du lịch, tàu cá, khu dân cư, công trình xây dựng và cơ sở nuôi trồng thủy sản.

Tại những đảo có diện tích nhỏ, mọi dự án phát triển cần được xem xét trong giới hạn chịu tải. Khả năng cung cấp nước ngọt, xử lý nước thải, thu gom rác, cung ứng điện, tiếp nhận phương tiện và ứng phó sự cố phải được đánh giá trước khi tăng quy mô khách.

Nếu chỉ đặt chỉ tiêu về lượng khách mà không tính đến năng lực môi trường, thành công ngắn hạn có thể trở thành gánh nặng dài hạn. Nghị quyết số 26-NQ/TW yêu cầu chuyển mạnh từ khai thác tài nguyên đơn thuần sang phát triển theo chiều sâu, chất lượng, hiệu quả và bền vững. Đối với các điểm đến biển, điều đó có nghĩa là không lấy số lượng du khách làm thước đo duy nhất.

Một nhóm khách có ý thức, lưu trú dài ngày, chi tiêu cao và sử dụng nhiều sản phẩm địa phương có thể tạo ra giá trị lớn hơn dòng khách đông nhưng chỉ ghé qua trong vài giờ. Cách tiếp cận này vừa giảm áp lực lên điểm đến, vừa tạo điều kiện nâng cao chất lượng dịch vụ và mở rộng lợi ích cho cộng đồng.

Phát triển du lịch xanh cũng không nên dừng ở khẩu hiệu hoặc một số sản phẩm mang tính trình diễn. Cơ sở lưu trú phải tiết kiệm năng lượng và nước; nhà hàng cần giảm đồ nhựa dùng một lần; tàu thuyền phải có phương án thu gom chất thải; sản phẩm hải sản phải có nguồn gốc hợp pháp; hoạt động lặn biển phải tránh gây tổn thương san hô.

Mỗi khâu trong chuỗi du lịch đều phải chịu trách nhiệm đối với tài nguyên mà mình khai thác. Những mô hình như Cát Hải đang hướng tới thương hiệu điểm đến xanh, thông minh, thân thiện và an toàn cho thấy các địa phương đã bắt đầu thay đổi cách tiếp cận. Định hướng này kết hợp bảo vệ hệ sinh thái biển, rừng ngập mặn, rừng đặc dụng với chuyển đổi số trong quản lý và hỗ trợ du khách.

Cô Tô cũng đang định vị hình ảnh “đảo xanh”, gắn phát triển hạ tầng và nâng cao chất lượng dịch vụ với xây dựng hệ sinh thái số. Điều quan trọng là những cam kết đó phải được chuyển thành tiêu chuẩn đo lường cụ thể: lượng rác phát sinh, tỷ lệ thu gom và xử lý, chất lượng nước biển, mức tiêu thụ nước ngọt, diện tích hệ sinh thái được bảo vệ và sự hài lòng của cộng đồng.

Bảo tồn chỉ bền vững khi trở thành một phần trong mô hình kinh tế. Một phần nguồn thu từ hoạt động tham quan, nghỉ dưỡng, lặn biển hoặc dịch vụ tại khu bảo tồn cần được tái đầu tư cho giám sát môi trường, phục hồi san hô, tái tạo nguồn lợi và hỗ trợ cộng đồng tham gia bảo vệ tài nguyên.

Du khách phải biết khoản đóng góp của mình được sử dụng vào đâu. Doanh nghiệp phải nhìn thấy lợi ích dài hạn của việc giữ gìn điểm đến. Người dân phải được hưởng lợi chính đáng từ hệ sinh thái mà họ cùng bảo vệ. Khi ba chủ thể ấy cùng chia sẻ trách nhiệm, bảo tồn sẽ không còn là phần việc riêng của cơ quan quản lý.

Tổ chức lại không gian biển để tránh xung đột phát triển

Trên cùng một vùng biển có thể đồng thời tồn tại hoạt động khai thác thủy sản, nuôi trồng, du lịch, giao thông hàng hải, năng lượng, khai thác khoáng sản, bảo tồn thiên nhiên và quốc phòng, an ninh.

Mỗi ngành đều có yêu cầu về không gian. Nếu các quy hoạch thiếu liên kết, xung đột là điều khó tránh khỏi. Một vùng nước thuận lợi cho nuôi biển có thể nằm gần tuyến tàu du lịch. Khu vực giàu san hô có thể đồng thời hấp dẫn hoạt động lặn biển và đối mặt với áp lực khai thác thủy sản. Không gian ven bờ có giá trị nghỉ dưỡng cũng có thể là nơi ngư dân neo đậu phương tiện, sửa lưới, đưa sản phẩm lên bờ và tổ chức sinh hoạt cộng đồng.

Nguyên Thứ trưởng Phùng Đức Tiến nhìn nhận biển là một không gian đa ngành. Ngoài thủy sản còn có du lịch, đóng tàu, dầu khí, khoáng sản, năng lượng và các nhiệm vụ quốc phòng, an ninh. Vì vậy, mọi mục tiêu phát triển phải được đặt trong quan hệ tổng thể. Quan điểm này phù hợp với tinh thần Nghị quyết số 26-NQ/TW: du lịch cần phát triển theo một hệ sinh thái kinh tế tổng hợp, bảo đảm phối hợp liên ngành, liên vùng; gắn với quy hoạch không gian, bảo vệ môi trường, quốc phòng, an ninh và lợi ích cộng đồng.

Vấn đề đầu tiên là phải phân định rõ chức năng của từng vùng biển. Đâu là khu vực ưu tiên bảo tồn; đâu là không gian nuôi biển; đâu là tuyến vận tải, khu vực neo đậu, bến đón khách và vùng tổ chức thể thao dưới nước. Những hoạt động có nguy cơ xung đột phải được xác định từ khâu quy hoạch, thay vì đợi đến khi dự án triển khai mới xử lý.

Quy hoạch cũng cần giữ lại không gian thiết yếu cho cộng đồng. Tại nhiều vùng ven biển, bãi cát không chỉ dành cho du khách. Đó còn là nơi ngư dân đưa thuyền lên bờ, sửa chữa ngư cụ, tổ chức lễ hội và thực hành tín ngưỡng. Nếu toàn bộ mặt biển thuận lợi bị bao quanh bởi các dự án nghỉ dưỡng, sinh kế và không gian văn hóa của cộng đồng sẽ bị thu hẹp. Khi ấy, du lịch có thể làm mất đi chính bản sắc mà ngành muốn khai thác. Bởi vậy, phát triển khu nghỉ dưỡng biển chất lượng cao phải đi cùng việc bảo đảm quyền tiếp cận biển hợp lý của người dân, duy trì không gian công cộng và bảo vệ cảnh quan tự nhiên.

Nghị quyết số 26-NQ/TW định hướng phát triển các trung tâm nghỉ dưỡng biển, đảo có sức cạnh tranh quốc tế; du lịch đường thủy, du thuyền, thể thao biển, kinh tế đêm và các tổ hợp du lịch, giải trí quy mô lớn. Đồng thời, Nghị quyết yêu cầu các dự án phải phát triển theo hướng xanh, bền vững, hài hòa với cảnh quan và hệ sinh thái, bảo đảm quốc phòng, an ninh và lợi ích cộng đồng.

Đây là hai mặt không thể tách rời. Đầu tư quy mô lớn có thể tạo ra hạ tầng, thương hiệu và năng lực thu hút thị trường quốc tế. Nhưng nếu không kiểm soát mật độ xây dựng, nước thải, rác thải và khả năng chịu tải, lợi ích kinh tế sẽ đi cùng chi phí môi trường ngày càng lớn.

Ngược lại, bảo tồn theo cách đóng kín toàn bộ không gian, tách người dân khỏi tài nguyên cũng khó tạo được nguồn lực lâu dài. Cần một cơ chế hợp tác công tư và đồng quản lý, trong đó khu vực nhà nước thiết lập tiêu chuẩn, doanh nghiệp đầu tư có trách nhiệm, còn cộng đồng tham gia giám sát và thụ hưởng.

Nghị quyết số 26-NQ/TW đã đề cập cơ chế hợp tác công tư trong quản lý, bảo tồn, phát triển và khai thác những điểm đến có giá trị sinh thái đặc biệt. Đây là cơ sở quan trọng để chuyển từ tư duy “bảo tồn hoặc phát triển” sang “phát triển dựa trên bảo tồn”.

Tổ chức lại không gian biển còn liên quan trực tiếp đến nuôi trồng thủy sản. Nuôi biển là hướng đi cần thiết để giảm áp lực khai thác, nhưng nếu tập trung mật độ lớn ở gần bờ, thiếu kiểm soát thức ăn, chất thải và dịch bệnh, chính hoạt động này có thể tác động đến cảnh quan và môi trường du lịch.

“Nuôi phải tiến ra xa bờ, chứ nếu cứ loanh quanh gần bờ thì ô nhiễm, sau đó dịch bệnh sẽ phát sinh” - nguyên Thứ trưởng, Chủ tịch Hội Thủy sản Việt Nam Phùng Đức Tiến lưu ý.

Đưa nuôi biển ra xa bờ không đơn giản là di chuyển lồng bè. Quá trình này đòi hỏi công nghệ chịu được sóng gió, hệ thống giám sát môi trường, phương tiện vận chuyển, dịch vụ hậu cần, khả năng cảnh báo thiên tai và nguồn vốn đầu tư dài hạn.

Đổi lại, việc tổ chức lại vùng nuôi sẽ giúp giảm xung đột với không gian du lịch ven bờ, đồng thời tạo điều kiện hình thành những trang trại công nghiệp có thể kết hợp tham quan, nghiên cứu và giáo dục về biển.

Hạ tầng cũng phải được nhìn theo tư duy đa mục tiêu. Một cảng cá không chỉ là nơi tàu ra vào và bốc dỡ sản phẩm. Nếu được tổ chức sạch sẽ, an toàn và có khu vực phù hợp, cảng cá có thể trở thành không gian giới thiệu nghề biển, ẩm thực và văn hóa địa phương. Tuy nhiên, không thể đưa khách vào một khu vực lộn xộn, thiếu vệ sinh và chưa có quy trình an toàn rồi gọi đó là trải nghiệm.

Theo ông Phùng Đức Tiến, hạ tầng nghề cá, từ cảng cá, bến cá, khu neo đậu đến khu tránh trú bão, trong nhiều năm vẫn chưa đáp ứng yêu cầu. Đối với hạ tầng nuôi biển, mức độ quan tâm còn hạn chế hơn. Nhiều doanh nghiệp muốn đầu tư nuôi biển nhưng gặp khó khi tiếp cận quỹ đất trên bờ để xây dựng khu hậu cần, cung ứng vật tư, sơ chế và bảo quản. Điều này cho thấy quy hoạch không thể chỉ khoanh vùng mặt nước mà phải tính tới cả chuỗi hạ tầng trên bờ.

Tương tự, một điểm đến biển không thể chỉ đầu tư khách sạn và cảnh quan mặt tiền. Hệ thống cấp nước, thoát nước, xử lý chất thải, giao thông, y tế, cứu hộ, phòng chống thiên tai và nơi ở của người lao động phải được đầu tư đồng bộ.

Hạ tầng phi lợi nhuận có thể không tạo doanh thu trực tiếp nhưng lại quyết định khả năng vận hành an toàn và bền vững của toàn bộ điểm đến. Với những đảo nhỏ, phương án vận chuyển rác về đất liền, xử lý nước thải và bảo đảm nguồn nước ngọt phải được xác định trước khi cấp phép tăng số phòng lưu trú. Với các hoạt động du thuyền và thể thao biển, cần có quy định rõ về tuyến hoạt động, xả thải, cứu hộ và trách nhiệm khi xảy ra sự cố.

Tất cả phải được quản lý bằng dữ liệu thay vì chỉ dựa vào báo cáo định kỳ. Dữ liệu lượng khách, mật độ phương tiện, chất lượng nước, lượng rác và tình trạng hệ sinh thái cần được cập nhật, chia sẻ giữa cơ quan môi trường, du lịch, giao thông, thủy sản và chính quyền địa phương. Đó cũng là nội dung Nghị quyết số 26-NQ/TW đặt ra khi yêu cầu nâng cao năng lực quản trị du lịch, xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia và quản trị điểm đến theo hướng hiện đại, thông minh.

anh-2_1788766691.png
Cộng đồng ngư dân giữ vai trò trung tâm trong chuỗi giá trị du lịch biển, từ bảo tồn tri thức bản địa, chế biến sản phẩm đến phát triển sinh kế bền vững. Ảnh minh họa (có sử dụng AI).

Giá trị phải được giữ lại cho cộng đồng và điểm đến

Du lịch biển chỉ bền vững khi lợi ích được phân bổ hợp lý. Nếu phần lớn giá trị rời khỏi địa phương trong khi cộng đồng phải chịu áp lực về giá đất, môi trường và sinh kế, sự phát triển ấy khó duy trì lâu dài.

Người dân không thể chỉ được nhìn nhận như lực lượng cung cấp lao động phổ thông. Họ là chủ nhân của không gian văn hóa, người nắm giữ tri thức bản địa và cũng là lực lượng hiện diện thường xuyên để bảo vệ tài nguyên.

Một ngư dân hiểu mùa vụ, luồng cá, con nước và những thay đổi của biển qua nhiều năm có thể cung cấp nguồn tri thức mà không hệ thống thuyết minh máy móc nào thay thế được. Một người làm nước mắm, đan lưới, đóng thuyền hay chế biến món ăn truyền thống có thể trở thành người kể câu chuyện văn hóa của điểm đến.

Nhưng để tham gia chuỗi du lịch, người dân cần được trang bị kỹ năng và có cơ chế hợp tác minh bạch. Đào tạo không chỉ giới hạn ở giao tiếp hoặc phục vụ khách. Cộng đồng cần hiểu về bảo vệ môi trường, an toàn, quản trị tài chính, xây dựng sản phẩm, quảng bá số và quyền lợi trong hợp đồng liên kết.

Các tổ hợp tác, hợp tác xã hoặc tổ chức cộng đồng có thể giúp người dân thống nhất tiêu chuẩn, phân phối khách, quản lý chất lượng và chia sẻ lợi ích. Nghị quyết số 26-NQ/TW xác định doanh nghiệp là lực lượng tiên phong, Nhân dân là chủ thể tham gia và thụ hưởng. Đồng thời, Nghị quyết yêu cầu đào tạo kỹ năng cho lao động vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa, biên giới và hải đảo, nhất là đối với mô hình du lịch cộng đồng.

Tinh thần này cần được cụ thể hóa thành những cơ chế có thể đo lường. Bao nhiêu lao động địa phương được tuyển dụng? Bao nhiêu sản phẩm bản địa được đưa vào chuỗi cung ứng? Tỷ lệ doanh thu ở lại cộng đồng là bao nhiêu? Doanh nghiệp đóng góp thế nào cho hạ tầng công cộng và bảo tồn? Nếu không có những chỉ số ấy, khái niệm “người dân thụ hưởng” rất dễ chỉ dừng ở khẩu hiệu.

anh-3_1788767821.png
Người dân địa phương ven biển cùng tham gia phát triển sản phẩm, dịch vụ và bảo tồn văn hóa biển, qua đó giữ lại giá trị cho cộng đồng và điểm đến. Ảnh minh họa (có sử dụng AI).

Vai trò của cộng đồng càng quan trọng khi ngành thủy sản thực hiện giảm cường lực khai thác. Với nhiều gia đình, nghề biển được truyền từ cha sang con. Yêu cầu chuyển đổi nghề nếu không đi kèm đào tạo, vốn và thị trường có thể tạo ra khoảng trống sinh kế.

Theo nguyên Thứ trưởng Phùng Đức Tiến, chuyển đổi nghề phải được tổ chức để người dân yên tâm. Không thể chỉ giảm tàu hoặc hạn chế khai thác mà không chuẩn bị công việc thay thế. Du lịch cộng đồng, dịch vụ vận tải, trải nghiệm nghề cá, chế biến, ẩm thực, hậu cần và bảo tồn có thể mở thêm cơ hội. Nhưng du lịch không phải chiếc “phao” có thể giải quyết mọi khó khăn. Không phải ngư dân nào cũng phù hợp với công việc dịch vụ và không phải vùng biển nào cũng có thị trường du lịch đủ lớn.

Vì vậy, mỗi địa phương cần đánh giá kỹ năng, nhu cầu và điều kiện của từng nhóm lao động. Người có kinh nghiệm đi biển có thể tham gia dịch vụ trải nghiệm hoặc giám sát tài nguyên. Người có kỹ năng chế biến có thể phát triển sản phẩm ẩm thực. Thanh niên có thể được đào tạo về công nghệ, hướng dẫn khách và vận hành nền tảng số.

Quá trình chuyển đổi phải đa dạng, không ép mọi người cùng đi theo một mô hình. Ẩm thực là một trong những cầu nối rõ nhất giữa thủy sản và du lịch. Nhưng giá trị ẩm thực biển không chỉ nằm ở độ tươi của sản phẩm. Du khách ngày càng quan tâm hải sản đến từ đâu, được khai thác hay nuôi trồng theo phương thức nào và có gây tổn hại đến hệ sinh thái hay không.

Bởi vậy, truy xuất nguồn gốc cần trở thành tiêu chuẩn của nhà hàng và khu nghỉ dưỡng biển. Cơ sở kinh doanh không sử dụng loài quý hiếm, sản phẩm khai thác trái phép hoặc thủy sản không rõ nguồn gốc. Thực đơn có thể giới thiệu vùng nuôi, mùa vụ, người sản xuất và phương thức chế biến.

Một bữa ăn khi đó không chỉ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng mà còn truyền tải cam kết của điểm đến về nghề cá có trách nhiệm. Điều này đặc biệt có ý nghĩa trong bối cảnh Việt Nam đang nỗ lực khắc phục cảnh báo “thẻ vàng” IUU. Quản lý đội tàu, giám sát hành trình, truy xuất nguồn gốc và xử lý vi phạm không chỉ nhằm đáp ứng yêu cầu của thị trường châu Âu.

Đó là nền tảng để khẳng định hình ảnh một quốc gia có trách nhiệm với nguồn lợi biển. Du lịch cũng được hưởng lợi trực tiếp từ hình ảnh ấy. Một điểm đến không thể định vị là xanh và bền vững nếu nhà hàng vẫn tiêu thụ sản phẩm khai thác bất hợp pháp hoặc cộng đồng chưa tuân thủ quy định bảo vệ nguồn lợi.

Trách nhiệm với biển phải xuyên suốt từ chuyến tàu, cảng cá, cơ sở chế biến đến bàn ăn của du khách. Doanh nghiệp du lịch có thể trở thành một lực lượng thúc đẩy thay đổi bằng việc thiết lập tiêu chuẩn mua hàng, ưu tiên sản phẩm địa phương có chứng nhận, giảm nhựa dùng một lần và đóng góp cho các chương trình phục hồi hệ sinh thái. Khách du lịch cũng có quyền lựa chọn và trách nhiệm. Mỗi tour có thể tích hợp nội dung giáo dục về biển; mỗi hoạt động lặn, tham quan hoặc thể thao biển phải tuân thủ quy tắc không gây tổn hại môi trường.

Tại các khu vực nhạy cảm, có thể nghiên cứu hạn ngạch khách, đặt chỗ trước, phân luồng theo thời gian và thu phí môi trường. Phần thu cần được công khai, dành cho bảo tồn, xử lý chất thải và hỗ trợ sinh kế cộng đồng. Cơ chế này chỉ có thể vận hành khi chính quyền thực hiện tốt vai trò quản trị. Chính quyền không làm thay doanh nghiệp hay cộng đồng, nhưng phải thiết lập ranh giới, tiêu chuẩn và hệ thống giám sát. Những dự án tạo nguy cơ phá vỡ cảnh quan, chiếm dụng không gian công cộng hoặc vượt quá khả năng chịu tải phải được đánh giá thận trọng. Trong khi đó, các dự án đầu tư vào hạ tầng xanh, xử lý chất thải, phục hồi hệ sinh thái, sản phẩm cộng đồng và chuyển đổi số cần được tạo điều kiện phù hợp.

Phát triển du lịch biển trong giai đoạn mới vì thế không phải cuộc chạy đua xây dựng thêm nhiều phòng nghỉ hay đón thêm nhiều lượt khách. Đó là quá trình tổ chức lại chuỗi giá trị trên cơ sở bảo tồn tài nguyên, nâng cao chất lượng trải nghiệm và mở rộng lợi ích cho cộng đồng.

Nghị quyết số 26-NQ/TW đặt mục tiêu đến năm 2045, du lịch đóng góp trực tiếp từ 14-15% GDP; Việt Nam thuộc nhóm 30 quốc gia có năng lực cạnh tranh du lịch hàng đầu thế giới, trở thành điểm đến hấp dẫn, chất lượng cao, đẳng cấp và mang đậm bản sắc Việt Nam. Để đạt mục tiêu ấy, những bãi biển sạch, hệ sinh thái khỏe mạnh và cộng đồng có sinh kế ổn định phải được nhìn nhận là tài sản chiến lược.

Khép lại cuộc trao đổi, nguyên Thứ trưởng. Chủ tịch Hội Thủy sản Việt Nam Phùng Đức Tiến nhấn mạnh rằng phát triển kinh tế biển phải đồng thời giải quyết bài toán tăng trưởng, bảo tồn, môi trường và đời sống người dân. Đây không phải những mục tiêu đối lập. Nếu được quy hoạch và tổ chức đúng, chúng có thể bổ trợ lẫn nhau.

Một vùng biển được bảo vệ tốt sẽ duy trì nguồn lợi cho ngư dân. Một cộng đồng có sinh kế ổn định sẽ có động lực gìn giữ tài nguyên. Một hệ sinh thái còn nguyên vẹn sẽ tạo ra sản phẩm du lịch có giá trị. Và một ngành du lịch có trách nhiệm sẽ tạo thêm nguồn lực cho bảo tồn.

Giữ biển xanh vì thế không chỉ là trách nhiệm môi trường. Đó là cách bảo vệ nền tảng tăng trưởng, bản sắc văn hóa, sinh kế cộng đồng và sức cạnh tranh lâu dài của du lịch Việt Nam. Khi mỗi dự án tôn trọng giới hạn của hệ sinh thái, mỗi doanh nghiệp chia sẻ trách nhiệm với điểm đến và mỗi người dân được tham gia, thụ hưởng công bằng, biển sẽ không chỉ là không gian để khai thác. Biển sẽ trở thành không gian sống, không gian văn hóa và nguồn lực phát triển bền vững của quốc gia.

 

Hồng Minh- Văn Thanh