news
Kỳ 2: Khơi thông thể chế - chuyển đổi số - chuyển đổi xanh

Kỳ 2: Khơi thông thể chế - chuyển đổi số - chuyển đổi xanh

Thứ ba, 7/4/2026, 11:38 (GMT+7)
logo Nếu quý I/2026 cho thấy rõ vai trò “trụ đỡ” của sản xuất nông, lâm, thủy sản đối với nền kinh tế, thì những định hướng điều hành được xác lập tại Hội nghị giao ban công tác quý I và triển khai nhiệm vụ trọng tâm quý II năm 2026 lại mở ra một tầng phát triển mới cho ngành Nông nghiệp và Môi trường. Đó không chỉ là yêu cầu giữ nhịp tăng trưởng trong bối cảnh thế giới còn nhiều bất định, mà còn là đòi hỏi phải khơi thông các điểm nghẽn thể chế, đẩy nhanh chuyển đổi số, xây dựng nền tảng dữ liệu ngành và thúc đẩy chuyển đổi xanh, hình thành các động lực phát triển bền vững cho giai đoạn tới.
nganh-nn-mt-giu-da-tang-truong-35-37-theo-kich-ban-de-ra-trong-quy-i-2026-173318_77_1775442596.webp
Thứ trưởng Thường trực Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trịnh Việt Hùng phát biểu tại Hội nghị giao ban

Phát biểu tại Hội nghị giao ban công tác quý I và triển khai nhiệm vụ trọng tâm quý II năm 2026, Thứ trưởng Thường trực Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trịnh Việt Hùng cho biết, quý I/2026 có ý nghĩa đặc biệt quan trọng khi toàn ngành bắt đầu triển khai các nhiệm vụ của Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2026-2030.

Theo Thứ trưởng, việc đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ quý I cần được thực hiện một cách khách quan, toàn diện, làm rõ những kết quả nổi bật, những mô hình hay, cách làm hiệu quả; đồng thời thẳng thắn chỉ ra những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân để kịp thời đề xuất các giải pháp, nhiệm vụ trọng tâm cho tháng 4 và quý II/2026.

Thứ trưởng Thường trực Trịnh Việt Hùng cũng nhấn mạnh, trong thời gian tới ngành Nông nghiệp và Môi trường cần tập trung triển khai một số nhiệm vụ lớn, trong đó tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật và cơ chế chính sách là một yêu cầu quan trọng. Việc rà soát, sửa đổi các luật và văn bản liên quan đến đất đai, tài nguyên biển và hải đảo sẽ góp phần nâng cao hiệu quả quản lý tài nguyên, tăng cường bảo vệ môi trường và chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu.

Trong giai đoạn phát triển mới, thể chế không chỉ là công cụ quản lý mà còn là “đòn bẩy” quan trọng để khơi thông nguồn lực cho phát triển nông nghiệp và bảo vệ môi trường.

Hoàn thiện thể chế để khơi thông nguồn lực

Tại Hội nghị giao ban công tác quý I và triển khai nhiệm vụ trọng tâm quý II năm 2026, một trong những thông điệp nổi bật được lãnh đạo Bộ Nông nghiệp và Môi trường nhấn mạnh là yêu cầu phải tiếp tục hoàn thiện thể chế, chính sách theo hướng đồng bộ, minh bạch, khả thi và bám sát thực tiễn. Trong điều kiện nền kinh tế đang đứng trước yêu cầu chuyển đổi mô hình tăng trưởng, đồng thời phải thích ứng với những biến động ngày càng khó lường của thị trường quốc tế, thể chế không còn đơn thuần là công cụ quản lý, mà đã trở thành yếu tố quyết định khả năng huy động, phân bổ và giải phóng các nguồn lực cho phát triển.

Báo cáo quý I cho thấy, công tác xây dựng và hoàn thiện hành lang pháp lý của ngành được triển khai với cường độ cao, tinh thần khẩn trương và bám sát yêu cầu thực tiễn. Trong quý I/2026, Bộ đã hoàn thiện và trình Chính phủ ban hành 15 nghị định và 19 thông tư chuyên ngành; đồng thời xử lý được 14/20 văn bản nợ đọng từ năm 2025. Đây là con số không chỉ phản ánh khối lượng công việc lớn, mà còn cho thấy quyết tâm siết chặt kỷ cương trong công tác xây dựng pháp luật, coi việc tháo gỡ những nút thắt về cơ chế là điều kiện tiên quyết để khơi thông nguồn lực đầu tư, sản xuất, kinh doanh trong toàn ngành.

Cùng với đó, Bộ tiếp tục thực hiện nghiêm túc việc tiếp nhận, trả lời và giải quyết kiến nghị của cử tri. Tính chung toàn nhiệm kỳ Quốc hội khóa XV, Bộ đã tiếp nhận 2.941 kiến nghị do Ủy ban Dân nguyện và Giám sát của Quốc hội, Văn phòng Chính phủ chuyển đến. Riêng tại Kỳ họp thứ 10, Bộ tiếp nhận 219 kiến nghị và đã hoàn thành trả lời 100%. Đối với những vấn đề vượt thẩm quyền, Bộ đã kiến nghị Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ sớm xem xét, ban hành 6 đề án, văn bản đã trình để có cơ sở pháp lý giải quyết dứt điểm các tồn đọng. Những con số ấy cho thấy yêu cầu hoàn thiện thể chế không chỉ đến từ nhu cầu điều hành nội tại, mà còn xuất phát từ áp lực thực tiễn của địa phương, doanh nghiệp và người dân.

Phát biểu kết luận hội nghị, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trần Đức Thắng đánh giá, một trong sáu kết quả nổi bật của toàn ngành trong quý I là hệ thống thể chế, chính sách tiếp tục được hoàn thiện, công tác xây dựng pháp luật được triển khai có trọng tâm, trọng điểm. Tuy nhiên, Bộ trưởng cũng thẳng thắn chỉ ra rằng vẫn còn những tồn tại cần sớm khắc phục như công tác dự báo và phản ứng chính sách ở một số lĩnh vực còn bị động; việc sửa đổi, hoàn thiện một số cơ chế, chính sách còn chậm; cải cách thủ tục hành chính và sự phối hợp giữa các đơn vị trong Bộ đôi khi chưa đạt hiệu quả như mong muốn. Chính vì vậy, yêu cầu đặt ra cho quý II không chỉ là tiếp tục làm, mà phải làm nhanh hơn, đồng bộ hơn và quyết liệt hơn.

Bộ trưởng nhấn mạnh các đơn vị phải tiếp tục đẩy mạnh hoàn thiện thể chế, đặc biệt đối với các dự án luật và văn bản quan trọng như: Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo, Luật Bảo vệ môi trường và nhiều văn bản hướng dẫn khác, theo tinh thần “làm sớm, làm nhanh nhưng phải bảo đảm chất lượng”. Đồng thời, các đơn vị phải chủ động rà soát, đề xuất cắt giảm các thủ tục không cần thiết, tháo gỡ các điểm nghẽn về cơ chế, chính sách, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho doanh nghiệp và người dân trong phát triển sản xuất, kinh doanh.

Tinh thần ấy được thể hiện khá rõ trong phần nhiệm vụ trọng tâm quý II của báo cáo. Ngành xác định phải tiếp tục cụ thể hóa Nghị quyết số 66-NQ/TW của Bộ Chính trị, tập trung hoàn thiện hệ thống pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới; đồng thời khẩn trương hoàn thiện dự thảo nghị định quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ theo nhiệm kỳ mới của Chính phủ để trình cấp có thẩm quyền ban hành. Báo cáo đã cụ thể yêu cầu kiên quyết xử lý dứt điểm các văn bản chưa hoàn thành từ năm 2025 và quý I/2026, đồng thời trong tháng 4/2026 phải hoàn thiện, trình cấp có thẩm quyền xem xét ban hành một loạt văn bản lớn, từ nghị định sửa đổi quy định giảm nhẹ phát thải khí nhà kính, nghị định về khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, đến các quyết định liên quan Bộ tiêu chí OCOP và công nhận xã nông thôn mới giai đoạn 2026-2030.

Ở góc nhìn điều hành chuyên ngành, Thứ trưởng Lê Công Thành cũng nhấn mạnh, yêu cầu triển khai hiệu quả việc phân cấp, phân quyền trong quản lý nhà nước, đồng thời tiếp tục rà soát, cắt giảm thủ tục hành chính nhằm bảo đảm bộ máy vận hành nhanh, gọn và hiệu quả hơn. Điều này đặc biệt có ý nghĩa trong bối cảnh ngành đang đồng thời phải xử lý nhiều nhiệm vụ có tính liên ngành, liên vùng và liên lĩnh vực, từ đất đai, tài nguyên nước, môi trường, đến khí tượng thủy văn và biến đổi khí hậu. Nếu thể chế chậm được sửa đổi, thủ tục còn chồng chéo, sự phối hợp giữa các cấp, các ngành chưa thực sự thông suốt, thì tốc độ giải quyết công việc và hiệu lực quản lý sẽ khó đáp ứng yêu cầu phát triển mới.

Cũng từ hội nghị này, có thể thấy rõ hoàn thiện thể chế không chỉ là việc của riêng khối pháp chế, mà là nhiệm vụ chung của toàn ngành. Bởi lẽ, trong mọi lĩnh vực, từ thu hút đầu tư cho hạ tầng, giải ngân vốn đầu tư công, mở rộng thị trường xuất khẩu, quản lý môi trường, đến gỡ “thẻ vàng” IUU hay tổ chức lại bộ máy, yếu tố nền tảng đều là sự đầy đủ, đồng bộ và khả thi của chính sách. Khi thể chế được hoàn thiện, nguồn lực xã hội sẽ được dẫn dắt đúng hướng; khi thủ tục được cắt giảm, chi phí tuân thủ sẽ giảm; khi trách nhiệm được phân định rõ, tiến độ xử lý công việc sẽ được đẩy nhanh. Nói cách khác, khơi thông thể chế chính là mở đường cho tăng trưởng.

Báo cáo quý I cũng chỉ ra những bài học kinh nghiệm rất đáng chú ý, trong đó nhấn mạnh yêu cầu “tập trung khơi thông các điểm nghẽn thể chế; kiên quyết tinh gọn thủ tục hành chính, lấy sự hài lòng của người dân và doanh nghiệp làm thước đo năng lực quản trị”. Đây không chỉ là một kết luận mang tính kỹ thuật, mà là một định hướng tư duy. Tăng trưởng bền vững của ngành Nông nghiệp và Môi trường trong giai đoạn mới sẽ không thể chỉ trông vào mở rộng sản lượng hay tăng đầu tư, mà phải dựa trên một hệ thống thể chế đủ sức dẫn dắt đổi mới, khuyến khích sáng tạo, nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực và giảm các chi phí hành chính không cần thiết.

cdsnntm1_d416777007_1775443165.png
Chuyển đổi số tạo đột phá trong công tác quản lý nhà nước về nông nghiệp. Từ cấp Trung ương đến địa phương, doanh nghiệp,... việc ứng dụng dữ liệu số giúp đưa ra quyết định nhanh, chính xác, minh bạch và hiệu quả hơn; đồng thời giảm chi phí, nâng cao năng lực cạnh tranh và thúc đẩy hình thành nền kinh tế nông nghiệp hiện đại.

Chuyển đổi số ngành nông nghiệp - môi trường

Nếu thể chế là điều kiện để khơi thông nguồn lực, thì chuyển đổi số chính là công cụ để nâng cao hiệu quả quản trị, hiện đại hóa phương thức điều hành và tạo ra năng lực cạnh tranh mới cho toàn ngành. Những gì diễn ra trong quý I/2026 cho thấy chuyển đổi số không còn được nhìn nhận như một nhiệm vụ phụ trợ, mà đã dần trở thành trục phát triển chiến lược của ngành Nông nghiệp và Môi trường.

Ngay trong quý I, Bộ đã kiện toàn và vận hành Ban Chỉ đạo về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và Đề án 06. Tại phiên họp thứ nhất của Ban Chỉ đạo năm 2026, Bộ trưởng Trần Đức Thắng yêu cầu các đơn vị phải đưa kết quả nghiên cứu khoa học và công nghệ vào phục vụ trực tiếp sản xuất, thương mại và công tác chỉ đạo, điều hành của ngành. Trên cơ sở quán triệt Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị, ngành xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và kinh tế số là động cơ then chốt cho phát triển, gắn với việc hình thành hệ sinh thái liên kết “Nhà nước - Nhà khoa học - Doanh nghiệp”.

Báo cáo nêu rõ, các nhiệm vụ khoa học công nghệ không còn được giao dàn trải mà tập trung vào các lĩnh vực trọng điểm như nông nghiệp thông minh, giảm phát thải, công nghệ chế biến sâu và dự báo thiên tai. Đây là sự thay đổi rất đáng chú ý về cách tiếp cận: từ nghiên cứu mang tính phân tán sang nghiên cứu có mục tiêu, có đầu ra ứng dụng rõ ràng, gắn với các bài toán cụ thể của ngành. Việc ứng dụng công nghệ trong chọn tạo giống, sản xuất vắc xin, dự báo tài nguyên nước hay giám sát môi trường đã và đang góp phần giúp chăn nuôi, trồng trọt duy trì đà tăng trưởng ổn định, ngay cả trong điều kiện còn nhiều thách thức từ dịch bệnh và biến đổi khí hậu.

Trên phương diện cải cách hành chính, quý I/2026 được đánh giá là giai đoạn có bước chuyển mang tính đột phá về công nghệ. Bộ đã xây dựng Kế hoạch cải cách hành chính giai đoạn 2026-2030 và hoàn thành báo cáo Chỉ số cải cách hành chính năm 2025 gửi Bộ Nội vụ. Đặc biệt, Vụ Tổ chức cán bộ phối hợp với Cục Chuyển đổi số xây dựng phần mềm xác định Chỉ số cải cách hành chính riêng cho các đơn vị trực thuộc, giúp quá trình đánh giá trở nên định lượng, công bằng và minh bạch hơn. Việc số hóa quy trình theo dõi và đánh giá này có ý nghĩa không nhỏ, bởi nó cho phép quản trị nội bộ bằng dữ liệu, chứ không chỉ bằng báo cáo hành chính truyền thống.

Một điểm nhấn khác là việc ban hành Quyết định số 441/QĐ-BNNMT, chính thức công bố và hướng dẫn kết nối, khai thác dữ liệu về giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất để thay thế thành phần hồ sơ giấy trong giải quyết thủ tục hành chính. Đây là bước đi rất cụ thể trong nỗ lực giảm giấy tờ, giảm thời gian xử lý hồ sơ, đồng thời tăng tính minh bạch và tiện lợi cho người dân, doanh nghiệp. Trong lĩnh vực đất đai vốn lâu nay gắn với nhiều thủ tục phức tạp, việc thay thế hồ sơ giấy bằng dữ liệu điện tử có thể xem là một tín hiệu cải cách đáng chú ý.

Không dừng ở cải cách thủ tục, ngành còn đặt mục tiêu hình thành nền tảng dữ liệu số quy mô lớn. Báo cáo quý I cho biết Bộ đang tập trung xây dựng các dự án chuyển đổi số trọng điểm, trong đó có dự án Xây dựng, hoàn thiện cơ sở dữ liệu các lĩnh vực nông nghiệp và môi trường” và dự án “Nâng cấp, hoàn thiện hạ tầng số, an toàn thông tin dùng chung”. Đây là những hạ tầng nền tảng để vận hành các hệ thống thông tin quy mô quốc gia, phục vụ không chỉ công tác điều hành nội bộ mà cả yêu cầu liên thông, kết nối liên ngành.

Đặc biệt, dự án “Hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản” được xác định sẽ mang lại niềm tin lớn cho thị trường xuất khẩu, cho phép minh bạch hóa toàn bộ quy trình sản xuất từ nông trường đến người tiêu dùng. Trong bối cảnh nhiều thị trường nhập khẩu đang gia tăng yêu cầu về xuất xứ, chất lượng, tiêu chuẩn môi trường và trách nhiệm chuỗi cung ứng, truy xuất nguồn gốc không còn là một công cụ hỗ trợ, mà đã trở thành “hộ chiếu số” để nông sản Việt Nam bước vào chuỗi giá trị cao hơn.

Bộ trưởng Trần Đức Thắng cũng đặc biệt nhấn mạnh điều này khi yêu cầu các đơn vị tiếp tục đẩy mạnh chuyển đổi số và xây dựng hệ sinh thái dữ liệu ngành, coi đó là nền tảng quan trọng để thúc đẩy phát triển bền vững. Theo Bộ trưởng, việc xây dựng cơ sở dữ liệu ngành và hệ thống truy xuất nguồn gốc cần được triển khai đồng bộ, gắn với công tác tuyên truyền để doanh nghiệp và người dân cùng tham gia; đồng thời phải kết nối các cơ sở dữ liệu chuyên ngành với Trung tâm dữ liệu quốc gia để bảo đảm tính chính xác, đầy đủ và cập nhật. Đây là cách tiếp cận rất rõ ràng: chuyển đổi số không chỉ là đầu tư hạ tầng kỹ thuật, mà phải hình thành được một hệ sinh thái sử dụng dữ liệu chung, có sự tham gia đồng bộ của cơ quan quản lý, doanh nghiệp và xã hội.

Từ góc độ quản lý môi trường và tài nguyên, Thứ trưởng Lê Công Thành cũng cho rằng chuyển đổi số và ứng dụng các công nghệ mới như trí tuệ nhân tạo sẽ đóng vai trò rất quan trọng trong giám sát môi trường. Thứ trưởng đề nghị các đơn vị chuyên môn nghiên cứu, tham khảo kinh nghiệm quốc tế, trong đó có các bài học từ Trung Quốc trong kiểm soát ô nhiễm không khí tại Bắc Kinh, để lựa chọn các giải pháp công nghệ phù hợp với điều kiện Việt Nam. Gợi mở này cho thấy, chuyển đổi số của ngành không chỉ dừng ở số hóa hồ sơ và quy trình hành chính, mà còn hướng tới năng lực giám sát thông minh, dự báo sớm và quản trị rủi ro môi trường trên cơ sở dữ liệu lớn và công nghệ mới.

Trong lĩnh vực phòng, chống thiên tai và an ninh nguồn nước, Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Hiệp cũng lưu ý, cần tiếp tục thúc đẩy ứng dụng khoa học và công nghệ, tăng cường phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ nhằm đẩy mạnh nghiên cứu, chuyển giao và ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật trong quản lý và phát triển ngành. Theo ông, công tác phòng, chống thiên tai phải được thực hiện từ sớm, từ xa; điều đó chỉ có thể làm tốt nếu hệ thống thông tin, dự báo và điều hành được nâng cao trên nền tảng công nghệ và phối hợp dữ liệu liên ngành.

Rõ ràng, khi ngành Nông nghiệp và Môi trường chuyển từ cách quản lý phân tán sang quản trị bằng dữ liệu, từ phản ứng theo sự vụ sang điều hành trên nền tảng dự báo, từ hồ sơ giấy sang hạ tầng số liên thông, thì chuyển đổi số không còn là câu chuyện của riêng công nghệ. Đó là quá trình tái cấu trúc phương thức điều hành, nâng năng lực quản trị công và nâng sức cạnh tranh cho toàn ngành. Trong bối cảnh thương mại toàn cầu, quản trị tài nguyên và môi trường ngày càng gắn chặt với các tiêu chuẩn số, việc đi nhanh hơn trên con đường này sẽ quyết định khả năng bứt phá của ngành trong những năm tới.

6666_28f63d1c64_1775443028.png
Toàn cảnh Hội nghị giao ban công tác Quý I

Chuyển đổi số đang trở thành nền tảng để ngành Nông nghiệp và Môi trường chuyển từ phương thức quản lý truyền thống sang quản trị dựa trên dữ liệu.

Chuyển đổi xanh và thị trường carbon

Cùng với hoàn thiện thể chế và chuyển đổi số, chuyển đổi xanh đang nổi lên như trụ cột phát triển thứ ba của ngành Nông nghiệp và Môi trường. Trong bối cảnh các cam kết giảm phát thải ngày càng trở thành chuẩn mực quốc tế, các thị trường nhập khẩu lớn siết chặt tiêu chuẩn môi trường, còn trong nước yêu cầu phát triển bền vững ngày càng rõ nét, chuyển đổi xanh không chỉ là một khẩu hiệu, mà là một lựa chọn chiến lược bắt buộc.

Báo cáo quý I cho thấy, Ngành đã tích cực triển khai nhiều hành động hướng tới mục tiêu phát triển xanh và bền vững. Trong công tác ứng phó biến đổi khí hậu, Bộ đã hoàn thiện Báo cáo quốc gia theo quy định của Luật Bảo vệ môi trường; đồng thời tiếp tục xây dựng các quyết định liên quan đến kiểm kê khí nhà kính và Hệ thống giám sát, đánh giá hoạt động thích ứng với biến đổi khí hậu cấp quốc gia. Những công việc tưởng như mang tính kỹ thuật này lại chính là nền móng cho một cấu trúc quản trị carbon và thích ứng khí hậu hiện đại, nơi mọi hành động giảm phát thải, hấp thụ carbon và thích ứng đều phải được đo lường, giám sát và xác nhận một cách minh bạch.

Điểm nhấn nổi bật nhất trong quý I là việc Bộ ban hành Thông tư số 11/2026/TT-BNNMT ngày 13/02/2026 quy định quản lý, vận hành Hệ thống đăng ký quốc gia về hạn ngạch phát thải khí nhà kính và tín chỉ carbon. Đây là bước đi rất quan trọng, bởi một thị trường carbon muốn vận hành hiệu quả phải có hạ tầng pháp lý và hạ tầng kỹ thuật đủ tin cậy để quản lý hạn ngạch, ghi nhận tín chỉ, giám sát giao dịch và bảo đảm tính minh bạch. Có thể nói, với thông tư này, quá trình chuẩn bị cho thị trường carbon của Việt Nam đã bước sang một giai đoạn cụ thể hơn, thực chất hơn.

Thứ trưởng Lê Công Thành cho biết, Việt Nam đang từng bước triển khai thị trường carbon và dự kiến bắt đầu vận hành từ năm 2026. Theo Thứ trưởng, để thị trường này đi vào thực chất, các cơ quan quản lý cần phối hợp chặt chẽ với doanh nghiệp và người dân để nâng cao nhận thức, giúp các chủ thể hiểu đúng bản chất của thị trường carbon, bảo đảm việc vận hành minh bạch và hiệu quả ngay từ giai đoạn đầu. Thông điệp này đặc biệt đáng chú ý, bởi thực tế cho thấy nếu không có sự chuẩn bị tốt về nhận thức, kỹ năng và quy định vận hành, thị trường carbon rất dễ bị hiểu đơn giản như một công cụ tài chính, trong khi bản chất của nó là một thiết chế quản trị phát thải và thúc đẩy chuyển đổi mô hình sản xuất.

Ở phương diện rộng hơn, chuyển đổi xanh còn gắn trực tiếp với yêu cầu tái cơ cấu sản xuất nông nghiệp theo hướng sinh thái, hiệu quả và giảm phát thải. Báo cáo quý II nêu rõ ngành sẽ tập trung phát triển nông nghiệp bền vững, hiệu quả theo hướng xanh, sinh thái, giảm phát thải, bảo đảm an ninh lương thực quốc gia; đồng thời quản lý, khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên hiệu quả, bền vững; bảo vệ môi trường và chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu. Điều này có nghĩa là chuyển đổi xanh không tách rời tăng trưởng, mà phải gắn trực tiếp với mục tiêu tăng trưởng hai con số của ngành và của nền kinh tế trong giai đoạn tới.

Trong nông nghiệp, quá trình này gắn với việc thúc đẩy nông nghiệp thông minh, phát triển các bộ giống chất lượng cao, công nghệ chế biến sâu, giảm phát thải trong sản xuất, tiêu chuẩn hóa chất lượng và nâng cao truy xuất nguồn gốc. Trong tài nguyên và môi trường, đó là tăng cường kiểm kê khí nhà kính, kiểm soát ô nhiễm, giám sát tài nguyên nước, quy hoạch không gian biển, phát triển điện gió ngoài khơi, hoàn thiện các cơ chế liên quan tới hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng. Trong thương mại quốc tế, đó là giúp nông sản Việt Nam thích ứng nhanh với các yêu cầu mới như EUDR, tiêu chuẩn môi trường của EU hay các quy định về chuỗi cung ứng bền vững.

Bộ trưởng Trần Đức Thắng yêu cầu các đơn vị tiếp tục đẩy mạnh hoàn thiện thể chế gắn với phát triển xanh; đồng thời chú trọng tái cơ cấu ngành, khai thác các tiềm năng và lợi thế để nâng cao giá trị gia tăng của nông, lâm, thủy sản. Theo Bộ trưởng, tăng trưởng trong giai đoạn tới không chỉ là chuyện mở rộng quy mô, mà còn phải gắn với xây dựng thương hiệu, tiêu chuẩn chất lượng, mở rộng thị trường tiêu thụ và nâng cao năng lực cạnh tranh trong bối cảnh tiêu chuẩn xanh của thế giới ngày càng cao.

Ở lĩnh vực thủy sản, Thứ trưởng Phùng Đức Tiến nhấn mạnh, nhiều nhiệm vụ liên quan tới quản lý thủy sản, đặc biệt là các giải pháp chống khai thác hải sản bất hợp pháp (IUU), đã được triển khai tương đối đồng bộ từ hoàn thiện hệ thống pháp luật, quản lý đội tàu, giám sát hành trình đến truy xuất nguồn gốc và xử lý vi phạm hành chính. Theo Thứ trưởng, với những nỗ lực hiện nay, Việt Nam sẽ tiếp tục thể hiện quyết tâm trong việc khắc phục các khuyến nghị về IUU. Dù đây là câu chuyện quản lý nghề cá, nhưng xét ở chiều sâu, nó cũng là một nội dung của chuyển đổi xanh: chuyển từ khai thác thiếu kiểm soát sang quản trị nghề cá có trách nhiệm, truy xuất được, minh bạch và bền vững hơn.

Bên cạnh đó, báo cáo Tổng kết Quý I của Bộ Nông nghiệp và Môi trường cũng cho thấy, nhiều chương trình hợp tác quốc tế đang được đẩy mạnh nhằm hỗ trợ quá trình chuyển đổi xanh của ngành. Tiêu biểu là Chương trình hợp tác chiến lược ngành với Đan Mạch nhằm nâng cao tiêu chuẩn an toàn thực phẩm trong chuỗi giá trị sản xuất; việc duy trì các nhóm công tác với EU về biến đổi khí hậu và dự án SAFE (EUDR); hay sự tham gia chủ động của ngành tại các diễn đàn đa phương như SOM1 APEC. Những hoạt động này không chỉ mang ý nghĩa đối ngoại, mà còn là cách để ngành Nông nghiệp và Môi trường cập nhật các xu thế quản trị xanh toàn cầu, đồng thời tạo không gian hợp tác cho quá trình chuyển đổi trong nước.

Thị trường carbon được kỳ vọng sẽ trở thành công cụ quan trọng thúc đẩy giảm phát thải và hình thành các mô hình sản xuất thân thiện với môi trường.

Nhìn từ tổng thể, ba trụ cột thể chế - số hóa - chuyển đổi xanh đang đan cài chặt chẽ với nhau. Không có thể chế phù hợp, không thể hình thành thị trường carbon và huy động đầu tư xanh. Không có nền tảng dữ liệu và chuyển đổi số, không thể đo lường phát thải, truy xuất nguồn gốc, giám sát chất lượng môi trường hay quản trị chuỗi giá trị theo tiêu chuẩn mới. Và nếu không chuyển đổi xanh, tăng trưởng của ngành sẽ sớm đối mặt với những giới hạn mới từ cả tài nguyên trong nước lẫn hàng rào kỹ thuật quốc tế.

Vì vậy, Kỳ 2 (bài cuối) của bức tranh ngành Nông nghiệp và Môi trường không chỉ là câu chuyện của các chính sách đang được ban hành hay các dự án công nghệ đang được triển khai. Sâu xa hơn, đó là quá trình chuẩn bị cho một mô hình phát triển mới: tăng trưởng dựa nhiều hơn vào chất lượng thể chế, năng lực quản trị dữ liệu, đổi mới công nghệ và tiêu chuẩn xanh. Trong mô hình ấy, mục tiêu không chỉ là duy trì vai trò “trụ đỡ” của nền kinh tế như quý I đã thể hiện, mà còn là tạo dựng một nền nông nghiệp, môi trường hiện đại hơn, minh bạch hơn, ít phát thải hơn và có sức chống chịu cao hơn trước những biến động của tương lai.

 

Hồng Minh