Nếu kỳ 1 cho thấy cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai là nền móng của một phương thức quản trị mới, thì kỳ 2 đi vào câu hỏi thực chất hơn: dữ liệu ấy phục vụ người dân như thế nào? Khi dữ liệu đất đai, dữ liệu dân cư và các cơ sở dữ liệu chuyên ngành được kết nối, tái cấu trúc thủ tục hành chính trở thành khâu quyết định để chuyển đổi số trong lĩnh vực đất đai không dừng ở “số hóa hồ sơ”, mà đi đến mục tiêu cuối cùng: giảm giấy tờ, rút ngắn thời gian, minh bạch quy trình và nâng chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp.
Dữ liệu chỉ có giá trị khi đi vào quy trình phục vụ
Trong chuyển đổi số lĩnh vực đất đai, hoàn thiện cơ sở dữ liệu là điều kiện cần, nhưng chưa phải điều kiện đủ. Một cơ sở dữ liệu được xây dựng công phu, được làm sạch, được đối khớp với dữ liệu dân cư, nếu vẫn nằm bên ngoài quy trình giải quyết thủ tục hành chính thì chưa thể tạo ra thay đổi thực chất đối với người dân. Người dân vẫn phải nộp lại giấy tờ, cơ quan tiếp nhận vẫn kiểm tra thủ công, hồ sơ vẫn luân chuyển qua nhiều tầng nấc, còn doanh nghiệp vẫn phải tính chi phí thời gian vào mỗi thủ tục liên quan đến đất đai.
Vì vậy, sau bước xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai, yêu cầu cấp thiết hiện nay là tái cấu trúc quy trình thủ tục hành chính. Nói cách khác, không chỉ đưa thủ tục lên môi trường điện tử, mà phải thiết kế lại thủ tục trên nền dữ liệu đã có. Đây là điểm khác biệt rất quan trọng giữa “tin học hóa quy trình cũ” và “chuyển đổi số thực chất”. Nếu chỉ đưa mẫu đơn, thành phần hồ sơ và các bước xử lý cũ lên cổng dịch vụ công, người dân vẫn phải tự chứng minh nhiều thông tin mà Nhà nước đã có. Còn nếu quy trình được tái cấu trúc đúng nghĩa, dữ liệu đất đai, dữ liệu dân cư và dữ liệu chuyên ngành sẽ được khai thác trực tiếp để thay thế, cắt giảm hoặc đơn giản hóa thành phần hồ sơ.
Theo Cục Quản lý đất đai, tái cấu trúc quy trình thủ tục hành chính về đất đai là yêu cầu bắt buộc để triển khai hiệu quả hệ thống dịch vụ công trực tuyến kết nối, khai thác trực tiếp từ cơ sở dữ liệu đất đai đã hoàn thiện. Với chỉ đạo này cho thấy, trọng tâm của giai đoạn hiện nay không chỉ là “có dữ liệu”, mà là dữ liệu phải đi vào vận hành, trở thành công cụ phục vụ cải cách hành chính.
Về bản chất, thủ tục hành chính đất đai là một trong những nhóm thủ tục có tác động lớn nhất đến đời sống người dân và hoạt động sản xuất, kinh doanh. Từ đăng ký đất đai, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, chuyển mục đích sử dụng đất, tách thửa, hợp thửa, đăng ký biến động, cấp đổi, cấp lại giấy chứng nhận, đến giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư,… mỗi thủ tục đều liên quan trực tiếp đến quyền tài sản, nghĩa vụ tài chính, kế hoạch đầu tư, an cư và sinh kế của người dân. Vì vậy, một ngày rút ngắn trong xử lý hồ sơ, một loại giấy tờ được cắt giảm, một lần đi lại được thay thế bằng khai thác dữ liệu trực tuyến đều có ý nghĩa rất cụ thể.
Theo báo cáo từ các địa phương, đến ngày 15/6/2026, đã có 28/34 tỉnh, thành phố thực hiện tái cấu trúc quy trình giải quyết thủ tục hành chính về đất đai. Tỷ lệ thủ tục hành chính được tái cấu trúc đạt 41,1% trên tổng số thủ tục lĩnh vực đất đai. Tổng số hồ sơ tiếp nhận trên môi trường điện tử đạt 2.842.194 hồ sơ, trong đó tỷ lệ hồ sơ được giải quyết thành công trên môi trường điện tử đạt 94,6%. Đây là những con số đáng chú ý, cho thấy chuyển đổi số trong lĩnh vực đất đai đã bắt đầu đi vào khâu phục vụ, thay vì chỉ dừng lại ở xây dựng nền dữ liệu.
Trong số các địa phương đã thực hiện tái cấu trúc, có 20/34 tỉnh, thành phố đạt tỷ lệ tái cấu trúc cao, gồm Thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Thanh Hóa, Nghệ An, Đà Nẵng, Đồng Tháp, Đắk Lắk cùng nhiều địa phương miền núi và trung du phía Bắc. Tiêu biểu là Lạng Sơn, nơi đã cung cấp dịch vụ công trực tuyến toàn trình đối với 22/49 thủ tục hành chính trong lĩnh vực đất đai. Những kết quả này cho thấy cải cách thủ tục đất đai không chỉ là câu chuyện của các đô thị lớn, mà hoàn toàn có thể được thúc đẩy ở nhiều địa bàn khác nhau nếu có quyết tâm, dữ liệu và quy trình phù hợp.
Tuy nhiên, tỷ lệ 41,1% cũng cho thấy dư địa cải cách còn rất lớn. Hơn một nửa số thủ tục lĩnh vực đất đai vẫn cần được tiếp tục rà soát, xây dựng mới hoặc tái cấu trúc. Điều này có tác động trực tiếp đến hiệu quả vận hành cơ sở dữ liệu đất đai. Nếu dữ liệu đã được số hóa nhưng quy trình xử lý chưa thay đổi, thì giá trị của dữ liệu chưa được phát huy đầy đủ. Nếu phần mềm dịch vụ công chưa được cấu hình theo quy trình nghiệp vụ mới, cán bộ vẫn phải xử lý song song cả hồ sơ giấy và hồ sơ điện tử, thậm chí phát sinh thêm việc thay vì giảm việc.
Vì vậy, tái cấu trúc thủ tục đất đai cần được hiểu là quá trình thiết kế lại toàn bộ luồng xử lý trên cơ sở dữ liệu đã có. Thủ tục nào có thể khai thác thông tin từ cơ sở dữ liệu đất đai thì không yêu cầu người dân cung cấp lại. Thông tin nào có thể đối khớp với cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư thì không yêu cầu bản sao giấy tờ cá nhân. Thành phần hồ sơ nào không còn cần thiết thì phải mạnh dạn cắt giảm. Bước xử lý nào chỉ mang tính trung gian, không tạo thêm giá trị pháp lý hoặc kiểm soát rủi ro, thì cần được lược bỏ hoặc tích hợp vào bước khác.
Đây cũng là lý do Cục Quản lý đất đai đề nghị các địa phương phải khẩn trương rà soát, đánh giá, tái cấu trúc quy trình thủ tục hành chính lĩnh vực đất đai theo mức độ đáp ứng việc khai thác, sử dụng dữ liệu đất đai đã số hóa, thông tin tương ứng từ các cơ sở dữ liệu quốc gia và cơ sở dữ liệu chuyên ngành trên môi trường điện tử. Nói cách khác, dữ liệu đã có phải trở thành căn cứ để thay đổi thủ tục, chứ không chỉ là tài sản kỹ thuật được lưu trữ trong hệ thống.

Phân cấp mạnh hơn, địa phương phải chủ động thiết kế thủ tục
Một điểm mới quan trọng trong bối cảnh hiện nay là pháp luật đất đai đã đẩy mạnh phân cấp, phân quyền cho địa phương. Điều này tạo ra không gian chủ động lớn hơn, nhưng đồng thời cũng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với năng lực xây dựng và tổ chức thực hiện thủ tục hành chính ở cấp tỉnh.
Trước đây, nhiều thủ tục hành chính về đất đai do Bộ ban hành để các địa phương áp dụng thống nhất. Cách làm này có ưu điểm là bảo đảm sự đồng đều trên phạm vi cả nước, nhưng cũng có hạn chế là chưa phản ánh đầy đủ đặc thù quản lý, hạ tầng dữ liệu và tổ chức bộ máy ở từng địa phương. Khi pháp luật chuyển mạnh sang phân cấp, các địa phương không thể chỉ chờ bộ thủ tục chung, mà phải chủ động xây dựng, ban hành trình tự, thủ tục hành chính phù hợp, trên nền tảng pháp luật thống nhất.
Nghị định số 49/2026/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều của Nghị quyết số 254/2025/QH15, nhằm tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong tổ chức thi hành Luật Đất đai. Theo yêu cầu tại Điều 15 Nghị định này, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định trình tự, thủ tục hành chính về đất đai đối với các trường hợp thuộc phạm vi được phân cấp, bảo đảm cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính; đồng thời quy định rõ trách nhiệm của cơ quan, người có thẩm quyền trong từng bước thực hiện, thời gian tối đa, thành phần hồ sơ và các mẫu biểu cần thiết.
Theo thông tin cập nhật đến ngày 15/6/2026, mới có hai địa phương là Bắc Ninh và Ninh Bình đã ban hành quyết định quy định trình tự, thủ tục hành chính về đất đai theo Điều 15 Nghị định số 49/2026/NĐ-CP. Các địa phương còn lại đang hoàn thiện dự thảo, gửi Sở Tư pháp thẩm định trước khi trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét ban hành. Thực tế này cho thấy khoảng cách giữa phân cấp pháp lý và năng lực tổ chức thực thi ở địa phương vẫn là vấn đề cần được quan tâm.
Phân cấp, phân quyền trong lĩnh vực đất đai không chỉ là chuyển thẩm quyền từ cấp trên xuống cấp dưới. Quan trọng hơn, đó là chuyển trách nhiệm phục vụ đến gần người dân hơn. Nghị định số 151/2025/NĐ-CP về phân định thẩm quyền của chính quyền địa phương hai cấp, phân quyền, phân cấp trong lĩnh vực đất đai đã cụ thể hóa trách nhiệm giữa Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân và cơ quan chuyên môn về quản lý đất đai ở cấp tỉnh, cấp xã. Những nội dung quan trọng như thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; giao đất, cho thuê đất; cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; phê duyệt phương án sử dụng đất được phân định rõ hơn.
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, trên cơ sở Nghị định 151, nhiều thủ tục đất đai được cắt giảm, đơn giản hóa; nhiều loại giấy tờ, biểu mẫu trung gian không còn bắt buộc; quy trình được tinh gọn, rút ngắn từ 20-50% thời gian thực hiện. Chẳng hạn, thủ tục giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất giảm từ 20 ngày xuống còn 15 ngày; cấp giấy chứng nhận lần đầu giảm từ 23 ngày xuống còn 20 ngày. Đặc biệt, một số thủ tục giao đất ở có thu tiền sử dụng đất không thông qua đấu giá, không đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư cho các nhóm đối tượng cụ thể giảm từ 85 ngày còn 35 ngày.
Ở nhóm thủ tục đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất, Nghị định 151 cũng ghi nhận mức cắt giảm đáng kể. Theo thông tin từ Cục Quản lý đất đai, Nghị định này đã cắt giảm 3/30 thủ tục hành chính, giảm 44/425 ngày thực hiện thủ tục đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất. Nghị định cũng bỏ một số giấy tờ, biểu mẫu trung gian như xác nhận của cơ quan có thẩm quyền về đủ điều kiện tồn tại nhà ở, công trình; một số mẫu biên bản, tờ trình trong quy trình đăng ký đất đai. Đây là các chi tiết kỹ thuật nhưng lại có tác động trực tiếp đến người dân, bởi mỗi giấy tờ được bãi bỏ là một lần đi lại, một chi phí chứng minh, một nguy cơ phát sinh chậm trễ được giảm bớt.
Điều đáng chú ý là phân cấp không đồng nghĩa với buông lỏng quản lý. Ngược lại, phân cấp càng mạnh thì trách nhiệm càng phải rõ. Khi địa phương được giao thẩm quyền xây dựng thủ tục, phải quy định cụ thể từng bước, từng thời hạn, từng đầu mối chịu trách nhiệm, từng thành phần hồ sơ, từng cơ chế phối hợp. Nếu không, phân cấp có thể dẫn đến cách hiểu không thống nhất, mỗi nơi làm một kiểu, người dân khó theo dõi, doanh nghiệp khó dự báo chi phí tuân thủ, còn dữ liệu đất đai khó kết nối đồng bộ.
Đây cũng là lý do ông Mai Văn Phấn, Phó Cục trưởng Cục Quản lý đất đai, đề nghị Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố chỉ đạo quyết liệt; giao Sở Nông nghiệp và Môi trường chủ trì, phối hợp với Sở Tư pháp, Trung tâm Phục vụ hành chính công cùng các sở, ngành liên quan khẩn trương hoàn thiện thủ tục hành chính đất đai tại địa phương. Cùng với đó, các đơn vị cung cấp phần mềm cần tham gia hỗ trợ cấu hình quy trình ngay trong quá trình xây dựng thủ tục, nhằm bảo đảm đồng bộ giữa quy trình nghiệp vụ và hạ tầng số.
Yêu cầu này rất thực tế. Trong nhiều trường hợp, vướng mắc không nằm ở quy định pháp luật chung, mà nằm ở khâu chuyển hóa quy định thành quy trình xử lý cụ thể trên hệ thống. Nếu quy trình pháp lý được ban hành nhưng phần mềm chưa cấu hình tương ứng, cán bộ vẫn phải xử lý thủ công. Nếu biểu mẫu điện tử chưa gắn với dữ liệu có sẵn, người dân vẫn phải nhập lại thông tin. Nếu cơ sở dữ liệu đất đai, dân cư, thuế, quy hoạch, tài chính chưa kết nối, thủ tục trực tuyến vẫn có thể trở thành “nộp hồ sơ giấy qua mạng”, thay vì là dịch vụ công trực tuyến đúng nghĩa.
Bài học từ Bắc Ninh, Ninh Bình vì thế rất đáng để các địa phương khác tham khảo. Đây là hai địa phương đã hoàn thành việc ban hành thủ tục hành chính đất đai theo yêu cầu mới. Việc tham khảo không có nghĩa là sao chép máy móc, mà là học cách tổ chức quy trình: cơ quan nào chủ trì, cơ quan nào thẩm định, phần mềm được cấu hình ra sao, dữ liệu nào được khai thác, thành phần hồ sơ nào được cắt giảm, thời hạn xử lý được kiểm soát thế nào và trách nhiệm được quy định đến đâu.
Khi cơ sở dữ liệu đất đai được làm sạch, được kết nối và được khai thác trực tiếp trong từng thủ tục, người dân sẽ không còn phải “mang giấy đi chứng minh dữ liệu”; doanh nghiệp có thể giảm chi phí tuân thủ; cơ quan quản lý có thêm công cụ để minh bạch hóa quy trình, kiểm soát trách nhiệm và nâng cao hiệu lực quản trị. Đó cũng là thước đo thực chất nhất của chuyển đổi số trong lĩnh vực đất đai: không phải có bao nhiêu dữ liệu được số hóa, mà là dữ liệu ấy đã giúp người dân, doanh nghiệp được phục vụ tốt hơn đến đâu. |
Dịch vụ công trực tuyến toàn trình: không chỉ là đưa thủ tục lên mạng
Mục tiêu được Cục Quản lý đất đai đặt ra rất rõ, phấn đấu đến hết năm 2026, 100% thủ tục hành chính về đất đai đủ điều kiện được cung cấp dưới hình thức dịch vụ công trực tuyến toàn trình. Đây là mục tiêu lớn, nhưng điều quan trọng là phải hiểu đúng bản chất của dịch vụ công trực tuyến toàn trình.
Dịch vụ công trực tuyến toàn trình không chỉ là việc người dân có thể tải mẫu đơn hoặc nộp hồ sơ trên cổng dịch vụ công. Toàn trình nghĩa là các bước chính của quá trình giải quyết thủ tục, từ tiếp nhận, kiểm tra, xử lý, luân chuyển, phê duyệt, trả kết quả và theo dõi trạng thái đều được thực hiện trên môi trường điện tử ở mức độ cao nhất có thể. Muốn vậy, dữ liệu phải được khai thác tự động hoặc bán tự động; hồ sơ phải được luân chuyển điện tử; kết quả phải có giá trị pháp lý; nghĩa vụ tài chính nếu có phải được xác định, thông báo, thanh toán thuận tiện; và người dân phải theo dõi được quá trình xử lý.
Nếu thiếu tái cấu trúc quy trình, dịch vụ công trực tuyến dễ rơi vào hình thức. Người dân nộp hồ sơ trực tuyến nhưng sau đó vẫn phải mang bản giấy đến đối chiếu; cán bộ tiếp nhận hồ sơ điện tử nhưng vẫn in ra xử lý; kết quả giải quyết vẫn trả chậm; dữ liệu đã có nhưng không được khai thác; mỗi hệ thống một tài khoản, một cách nhập, một cách xử lý. Khi đó, chuyển đổi số không làm giảm gánh nặng, mà có thể tạo thêm tầng thủ tục mới.
Vì vậy, yêu cầu của Cục Quản lý đất đai về việc rà soát, đánh giá, tái cấu trúc quy trình thủ tục hành chính lĩnh vực đất đai có ý nghĩa rất cụ thể. Các địa phương phải xác định thủ tục nào đủ điều kiện thực hiện trực tuyến toàn trình, thủ tục nào thực hiện một phần, thủ tục nào chưa thể thực hiện do thiếu dữ liệu hoặc còn vướng quy định. Đồng thời, kết quả rà soát phải thể hiện rõ tổng số thửa đất, tỷ lệ hồ sơ có kết quả giải quyết trên môi trường điện tử, tỷ lệ hồ sơ không khai thác được thông tin hoặc thông tin khai thác không đầy đủ, chính xác để giải quyết thủ tục.
Cách yêu cầu báo cáo như vậy là một bước tiến về quản trị. Nó buộc địa phương không chỉ báo cáo “đã triển khai”, mà phải chỉ rõ triển khai đến đâu, thủ tục nào làm được, dữ liệu nào chưa khai thác được, nguyên nhân ở đâu. Đây là cơ sở để Cục Quản lý đất đai và Bộ Nông nghiệp và Môi trường theo dõi thực chất hiệu quả chuyển đổi số, thay vì chỉ nhìn vào số lượng thủ tục được đưa lên cổng dịch vụ công.
Thực tế ở một số địa phương cho thấy, khi phân cấp đi cùng tái cấu trúc quy trình, hiệu quả phục vụ có thể nhìn thấy khá rõ. Tại Đà Nẵng, Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố triển khai thí điểm phân cấp ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất tại một số khu vực. Theo thông tin từ địa phương, việc phân cấp cho các chi nhánh trực tiếp ký cấp giấy chứng nhận giúp giảm khâu trung chuyển hồ sơ, rút ngắn thời gian xử lý và nâng cao hiệu quả giải quyết thủ tục hành chính. Thay vì phải chuyển hồ sơ về Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố để ký như trước đây, các chi nhánh được trao thẩm quyền trực tiếp giải quyết, giúp quy trình nhanh gọn hơn, đồng thời giảm số lần đi lại của người dân.
Bên cạnh đó, từ ngày 1/8/2026, Văn phòng Đăng ký đất đai TP. Đà Nẵng sẽ chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan rà soát, cắt giảm từ 1 đến 1,5 ngày làm việc đối với bốn nhóm thủ tục hành chính trong lĩnh vực đất đai. Cụ thể, thời gian giải quyết thủ tục cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất được rút xuống còn không quá bốn ngày làm việc; thủ tục cấp lại giấy chứng nhận do bị mất không quá 8,5 ngày; thủ tục đăng ký tài sản gắn liền với thửa đất hoặc đăng ký thay đổi tài sản gắn liền với đất không quá bảy ngày; thủ tục tách thửa hoặc hợp thửa đất không quá 11 ngày làm việc. Những điều chỉnh này cho thấy cải cách thủ tục không nhất thiết phải bắt đầu từ những khẩu hiệu lớn, mà có thể bắt đầu từ từng ngày làm việc được cắt giảm, từng khâu trung chuyển hồ sơ được loại bỏ.
Từ góc nhìn người dân, cải cách thủ tục đất đai cần được đo bằng những thay đổi rất cụ thể: có phải đi lại ít hơn không; có phải nộp ít giấy tờ hơn không; có biết hồ sơ đang ở đâu không; có giảm thời gian chờ đợi không; có giảm chi phí không chính thức không; có nhận được kết quả đúng hạn không. Nếu các chỉ số này không thay đổi, thì dù hệ thống có hiện đại đến đâu, người dân vẫn khó cảm nhận được ý nghĩa của chuyển đổi số.
Từ góc nhìn doanh nghiệp, thủ tục đất đai là một phần quan trọng của môi trường đầu tư. Đất đai liên quan đến tiếp cận mặt bằng sản xuất, thực hiện dự án, điều chỉnh mục đích sử dụng đất, nghĩa vụ tài chính, đăng ký tài sản bảo đảm, xử lý tài sản gắn liền với đất. Mỗi sự chậm trễ trong thủ tục đất đai có thể kéo theo chi phí vốn, chi phí cơ hội và rủi ro pháp lý. Vì vậy, tái cấu trúc thủ tục đất đai không chỉ phục vụ cải cách hành chính, mà còn góp phần cải thiện môi trường kinh doanh, giải phóng nguồn lực đất đai cho phát triển.
Từ góc nhìn cơ quan quản lý, dịch vụ công trực tuyến toàn trình cũng là công cụ kiểm soát trách nhiệm. Khi hồ sơ được tiếp nhận, xử lý, luân chuyển trên hệ thống, mỗi bước đều có dấu vết số, thời gian xử lý, người xử lý và trạng thái hồ sơ. Điều này giúp tăng tính minh bạch, hạn chế tình trạng hồ sơ bị kéo dài không rõ nguyên nhân, đồng thời tạo dữ liệu để đánh giá năng lực phục vụ của từng đơn vị, từng địa phương.
Nhưng để mục tiêu 100% thủ tục đủ điều kiện được cung cấp trực tuyến toàn trình trong năm 2026 trở thành hiện thực, cần giải quyết đồng thời nhiều điều kiện. Trước hết là dữ liệu đất đai phải đủ sạch, đủ tin cậy để khai thác. Tiếp đó là quy trình thủ tục phải được chuẩn hóa và công khai. Thứ ba là hạ tầng phần mềm phải được cấu hình theo quy trình mới. Thứ tư là cán bộ thực thi phải được đào tạo, hướng dẫn, hỗ trợ trong quá trình chuyển đổi. Thứ năm là cơ chế phối hợp giữa Sở Nông nghiệp và Môi trường, Sở Tư pháp, Trung tâm Phục vụ hành chính công, cơ quan thuế, công an, chính quyền cấp xã và các đơn vị liên quan phải thông suốt.
Trong quá trình này, vai trò của người đứng đầu địa phương rất quan trọng. Tái cấu trúc thủ tục hành chính đất đai không thể giao riêng cho bộ phận công nghệ thông tin hoặc một đơn vị nghiệp vụ. Đây là nhiệm vụ liên ngành, liên quan đến pháp lý, dữ liệu, phần mềm, tổ chức bộ máy, con người và trách nhiệm phục vụ. Nếu thiếu chỉ đạo quyết liệt, các sở, ngành dễ triển khai theo phần việc riêng, dẫn đến quy trình không liền mạch, phần mềm không đồng bộ, dữ liệu không được khai thác đầy đủ.
Cũng cần nhìn thẳng vào một thực tế, không phải mọi thủ tục đều có thể chuyển ngay sang trực tuyến toàn trình nếu dữ liệu đầu vào chưa đạt chuẩn. Một số hồ sơ đất đai có lịch sử pháp lý phức tạp, thiếu bản đồ địa chính chính quy, ranh giới chưa rõ, thông tin người sử dụng đất chưa đối khớp, hoặc có tranh chấp, khiếu nại. Với những trường hợp này, trực tuyến hóa không thể thay thế hoàn toàn trách nhiệm xác minh thực tế. Nhưng chính vì vậy, việc phân loại thủ tục, phân loại dữ liệu, xác định tỷ lệ hồ sơ không khai thác được thông tin hoặc thông tin chưa đầy đủ là rất cần thiết. Cải cách phải thực chất, không chạy theo hình thức.
Từ những kết quả bước đầu, có thể thấy tái cấu trúc thủ tục đất đai đang chuyển cải cách hành chính từ “giảm giấy tờ trên văn bản” sang “giảm giấy tờ trong trải nghiệm của người dân”. Cơ sở dữ liệu đất đai hoàn thiện đang trở thành công cụ quan trọng để cắt giảm thành phần hồ sơ giấy, tận dụng dữ liệu sẵn có từ cơ sở dữ liệu đất đai, cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và các hệ thống dữ liệu chuyên ngành. Nhiều thủ tục đã được thực hiện trực tuyến toàn trình; một số thủ tục được tinh gọn đáng kể về quy trình xử lý, qua đó rút ngắn thời gian giải quyết, giảm chi phí tuân thủ.
Nếu kỳ 1 đặt vấn đề về xây dựng nền dữ liệu “đúng - đủ - sạch - sống”, thì kỳ 2 cho thấy dữ liệu chỉ thực sự “sống” khi được sử dụng trong từng hồ sơ, từng thủ tục, từng lần phục vụ người dân. Đích đến của chuyển đổi số đất đai không phải là một hệ thống công nghệ hiện đại trên giấy, mà là một nền hành chính đất đai minh bạch hơn, nhanh hơn, ít giấy tờ hơn và có trách nhiệm hơn.
Khi người dân không còn phải “mang giấy đi chứng minh dữ liệu”; khi doanh nghiệp có thể theo dõi trạng thái hồ sơ trên môi trường điện tử; khi cơ quan quản lý khai thác trực tiếp thông tin đã được xác thực; khi mỗi biến động đất đai đồng thời là một lần cập nhật dữ liệu, khi đó cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai mới thật sự trở thành nền tảng của quản trị hiện đại.
![]()
Cải cách thủ tục đất đai, xét đến cùng, không chỉ là câu chuyện kỹ thuật của ngành đất đai. Đó là phép thử về năng lực chuyển đổi từ quản lý bằng hồ sơ sang quản trị bằng dữ liệu; từ hành chính nặng giấy tờ sang hành chính phục vụ; từ phân cấp hình thức sang phân cấp gắn với trách nhiệm giải trình. Và trong phép thử ấy, thước đo cuối cùng không phải là có bao nhiêu thủ tục được đưa lên mạng, mà là người dân, doanh nghiệp có được phục vụ tốt hơn hay không.