Nếu Kỳ 1 cho thấy, Nghị quyết 57-NQ/TW đang mở đường cho phương thức quản trị mới của ngành Nông nghiệp và Môi trường, thì truy xuất nguồn gốc nông sản, cơ sở dữ liệu chuyên ngành và công nghệ chiến lược chính là những minh chứng cụ thể cho sự chuyển đổi đó. Từ “hộ chiếu số” của nông sản đến các bài toán lớn về giống, vắc xin, chế phẩm sinh học, ngành đang từng bước đưa dữ liệu và công nghệ vào những lĩnh vực thiết thực nhất của sản xuất, thị trường và quản lý nhà nước.
Truy xuất nguồn gốc nông sản: từ yêu cầu thị trường đến công cụ quản trị
Trong bối cảnh thị trường nông sản ngày càng cạnh tranh, truy xuất nguồn gốc không còn là yêu cầu mang tính khuyến khích, mà đã trở thành điều kiện quan trọng để nông sản tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng hiện đại. Người tiêu dùng cần biết sản phẩm đến từ đâu, được sản xuất như thế nào, có đáp ứng tiêu chuẩn an toàn hay không. Thị trường nhập khẩu cần dữ liệu để kiểm soát chất lượng, vùng trồng, cơ sở đóng gói, quy trình sản xuất. Cơ quan quản lý cần công cụ để giám sát, cảnh báo, xử lý rủi ro và nâng cao tính minh bạch.
Vì vậy, việc Bộ Nông nghiệp và Môi trường công bố Hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản có ý nghĩa không chỉ ở phương diện kỹ thuật, mà còn ở phương diện quản trị. Đây là bước chuyển từ quản lý bằng hồ sơ, giấy chứng nhận và kiểm tra rời rạc sang quản lý dựa trên dữ liệu sản phẩm, dữ liệu doanh nghiệp, dữ liệu địa phương và dữ liệu thị trường.
Báo cáo tại Hội nghị sơ kết 6 tháng đầu năm và triển khai nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2026 của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, TS. Nguyễn Văn Long - Vụ trưởng Vụ Khoa học và Công nghệ cho biết, ngày 30/6/2026, Bộ đã tổ chức Lễ công bố Hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản. Hệ thống gồm 03 hợp phần chính: hợp phần dành cho người dân truy xuất, hợp phần quản trị và ứng dụng cài đặt trên điện thoại di động, thiết bị thông minh. Đến thời điểm báo cáo, hệ thống đã tích hợp thông tin, dữ liệu truy xuất nguồn gốc của trên 18.500 sản phẩm, thuộc 181 nhóm sản phẩm, của 170 doanh nghiệp tại 24/34 tỉnh, thành phố.
Những con số này cho thấy, truy xuất nguồn gốc không còn là mô hình thử nghiệm nhỏ lẻ. Khi hàng chục nghìn sản phẩm được tích hợp trên một hệ thống, dữ liệu truy xuất bắt đầu hình thành không gian quản trị mới cho nông sản. Ở đó, mỗi sản phẩm không chỉ có tên gọi thương mại, mà còn có thông tin định danh; mỗi doanh nghiệp không chỉ giới thiệu sản phẩm, mà còn phải gắn trách nhiệm với dữ liệu; mỗi địa phương không chỉ quản lý sản xuất theo địa bàn, mà còn có thể tham gia vào chuỗi dữ liệu chung của ngành.
Đặc biệt, đối với truy xuất nguồn gốc quả sầu riêng xuất khẩu, báo cáo cho biết đã có 16 doanh nghiệp tham gia và bước đầu có 06 container của các doanh nghiệp xuất khẩu thành công sang thị trường Trung Quốc có áp dụng truy xuất nguồn gốc điện tử của Bộ. Đây là chi tiết rất đáng chú ý. Sầu riêng là mặt hàng có giá trị kinh tế cao, chịu yêu cầu chặt chẽ về vùng trồng, cơ sở đóng gói, chất lượng và kiểm soát rủi ro. Việc những container đầu tiên áp dụng truy xuất nguồn gốc điện tử của Bộ xuất khẩu thành công sang Trung Quốc cho thấy dữ liệu không chỉ phục vụ quản lý trong nước, mà còn trực tiếp hỗ trợ hội nhập thị trường. Nói cách khác, truy xuất nguồn gốc chính là “hộ chiếu số” giúp nông sản Việt Nam đi xa hơn, minh bạch hơn và có trách nhiệm hơn trong chuỗi cung ứng toàn cầu.
Dữ liệu không chỉ để lưu trữ, mà để phục vụ điều hành
Truy xuất nguồn gốc nông sản chỉ là một lát cắt trong bức tranh lớn hơn về quản trị ngành bằng dữ liệu. Khi dữ liệu được chuẩn hóa, kết nối và khai thác đúng cách, dữ liệu không còn là kho lưu trữ thụ động, mà trở thành công cụ phục vụ điều hành, giám sát và ra quyết định.
Theo báo cáo tại Hội nghị sơ kết 6 tháng đầu năm và triển khai nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2026, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã ban hành Khung Kiến trúc số, Khung kiến trúc dữ liệu, Khung quản trị, quản lý dữ liệu và Từ điển dữ liệu phiên bản 1.0; đồng thời được giao 25 cơ sở dữ liệu và 04 hệ thống thông tin. Đến nay, Bộ đã khai thác 04 hệ thống, hoàn thiện 21 cơ sở dữ liệu, kết nối, đồng bộ 12/12 cơ sở dữ liệu với Trung tâm Dữ liệu quốc gia.
Đây là nền tảng rất quan trọng. Với ngành Nông nghiệp và Môi trường, dữ liệu không chỉ nằm ở sản phẩm nông sản, mà còn trải rộng trên nhiều lĩnh vực: đất đai, môi trường, địa chất, khoáng sản, tài nguyên nước, khí tượng thủy văn, biến đổi khí hậu, đa dạng sinh học, lâm nghiệp, thủy sản, chăn nuôi, trồng trọt, bảo vệ thực vật. Nếu mỗi lĩnh vực vận hành trên một hệ thống riêng, dữ liệu sẽ bị chia cắt. Nhưng khi được đặt trong khung kiến trúc chung, dữ liệu có thể trở thành tài sản quản trị của toàn ngành.
Điểm đáng chú ý là Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã công bố trường thông tin của 05 cơ sở dữ liệu để thay thế thành phần hồ sơ thủ tục hành chính. Đây là một thay đổi có tác động trực tiếp đến người dân và doanh nghiệp. Khi thông tin đã có trong cơ sở dữ liệu được sử dụng để thay thế thành phần hồ sơ, người dân không phải nộp lại những giấy tờ mà cơ quan nhà nước đã quản lý. Doanh nghiệp cũng giảm được thời gian chuẩn bị hồ sơ, giảm chi phí tuân thủ, giảm rủi ro sai lệch thông tin.
Nhìn từ góc độ quản trị, đây là bước chuyển từ “số hóa thủ tục” sang “tái cấu trúc thủ tục trên nền dữ liệu”. Số hóa thủ tục mới chỉ là đưa quy trình cũ lên môi trường điện tử. Còn tái cấu trúc trên nền dữ liệu đòi hỏi phải thay đổi cách thiết kế quy trình, cách chia sẻ thông tin và cách xác thực dữ liệu. Đây mới là chiều sâu của chuyển đổi số.
Từ dữ liệu truy xuất nguồn gốc đến dữ liệu thủ tục hành chính, từ cơ sở dữ liệu chuyên ngành đến kết nối Trung tâm Dữ liệu quốc gia, ngành Nông nghiệp và Môi trường đang từng bước hình thành năng lực điều hành dựa trên dữ liệu. Năng lực này sẽ giúp Bộ không chỉ xử lý công việc nhanh hơn, mà còn có thể phát hiện sớm bất cập, dự báo xu hướng, nhận diện rủi ro và hỗ trợ hoạch định chính sách chính xác hơn.
Công nghệ chiến lược, đặt hàng những bài toán lớn cho ngành Nông nghiệp và Môi trường
Nếu dữ liệu là nền tảng của quản trị hiện đại, thì công nghệ chiến lược là động lực để ngành giải quyết những bài toán dài hạn. Trong nông nghiệp và môi trường, nhiều thách thức không thể xử lý bằng phương pháp quản lý truyền thống: biến đổi khí hậu, dịch bệnh cây trồng vật nuôi, suy thoái tài nguyên, ô nhiễm môi trường, yêu cầu giảm phát thải, an toàn sinh học, năng suất và chất lượng giống, sức cạnh tranh của nông sản.
Vì vậy, việc Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Nông nghiệp và Môi trường 03 nhiệm vụ công nghệ chiến lược có ý nghĩa định hướng rất rõ. Theo TS. Nguyễn Văn Long - Vụ trưởng Vụ Khoa học và Công nghệ, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã công bố 15 bài toán lớn, giao 31 nhiệm vụ; các đơn vị đề xuất 15 nhiệm vụ công nghệ chiến lược với khái toán 1.328,8 tỷ đồng. Bộ cũng đã rà soát trên 240 loại giống, vắc xin, chế phẩm sinh học, xác định 13 sản phẩm cơ bản đáp ứng tiêu chí sản phẩm công nghệ chiến lược.
Những nội dung này cho thấy, cách tiếp cận mới trong khoa học công nghệ của ngành: không dàn trải, không chỉ làm các đề tài nhỏ lẻ, mà hướng vào các bài toán lớn, có khả năng tạo sản phẩm, tạo năng lực công nghệ và tạo tác động thực tiễn. Đối với nông nghiệp, giống, vắc xin, chế phẩm sinh học là những yếu tố trực tiếp quyết định năng suất, chất lượng, an toàn dịch bệnh và khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu. Đối với môi trường, công nghệ chiến lược có thể mở ra hướng xử lý ô nhiễm, quan trắc, cảnh báo, quản lý chất thải, phục hồi hệ sinh thái và giảm phát thải.
Tuy nhiên, để công nghệ chiến lược thực sự đi vào cuộc sống, vấn đề không chỉ là kinh phí hay danh mục nhiệm vụ. Điều quan trọng hơn là cơ chế triển khai. Báo cáo tại Hội nghị, TS. Nguyễn Văn Long đã kiến nghị Bộ Khoa học và Công nghệ tham mưu ban hành cơ chế, chính sách đặc thù cho công nghệ chiến lược, bao gồm đặt hàng, đấu thầu, mua sắm sản phẩm, chấp nhận rủi ro, ưu đãi thuế, miễn trừ trách nhiệm, mô hình tổng công trình sư, cơ chế thử nghiệm sản phẩm; đồng thời xây dựng cơ chế để doanh nghiệp và Nhà nước cùng tham gia nghiên cứu, phát triển công nghệ chiến lược, sản phẩm công nghệ chiến lược.
Đây là kiến nghị có ý nghĩa thực tiễn cao. Khoa học công nghệ, nhất là công nghệ chiến lược, luôn có độ rủi ro nhất định. Nếu cơ chế quản lý vẫn chỉ vận hành theo tư duy an toàn tuyệt đối, né tránh rủi ro, thì rất khó có sản phẩm đột phá. Ngược lại, nếu có cơ chế đặt hàng rõ ràng, chấp nhận rủi ro có kiểm soát, khuyến khích doanh nghiệp tham gia và cho phép thử nghiệm trong khuôn khổ phù hợp, công nghệ chiến lược mới có cơ hội đi từ phòng thí nghiệm đến sản xuất, từ nhiệm vụ nghiên cứu đến sản phẩm phục vụ ngành.
6 tháng cuối năm: từ nền tảng đến kết quả thực thi
Trong kế hoạch cuối năm 2026, Bộ Nông nghiệp và Môi trường xác định tiếp tục hoàn thiện các nhiệm vụ được giao, rà soát toàn diện kết quả các nhiệm vụ đã báo cáo hoàn thành, kiểm tra việc triển khai tại các đơn vị thuộc Bộ; đồng thời tiếp tục hoàn thiện thể chế, tiêu chuẩn, quy chuẩn, cải cách thủ tục hành chính, cắt giảm điều kiện kinh doanh, nghiên cứu khung sandbox và nhiệm vụ thí điểm theo cơ chế “3 nhà”.
Đối với chuyển đổi số, trọng tâm là hoàn thiện Khung quản trị dữ liệu ngành; vận hành cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành, nền tảng số dùng chung; chuẩn hóa, làm sạch, kết nối dữ liệu với Trung tâm Dữ liệu quốc gia; triển khai các dự án chuyển đổi số trọng điểm giai đoạn 2026-2030; nâng cấp hạ tầng số, trung tâm dữ liệu dùng chung, nền tảng tích hợp chia sẻ dữ liệu, bảo đảm an toàn thông tin, an ninh mạng.
Với truy xuất nguồn gốc, nhiệm vụ đặt ra là triển khai mạnh hơn, nhất là đối với sản phẩm thực phẩm và hàng hóa có nguy cơ rủi ro cao. Báo cáo của TS. Nguyễn Văn Long cũng kiến nghị Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp đồng loạt triển khai truy xuất nguồn gốc hàng hóa, trong đó có nông sản.
Điều này cho thấy, truy xuất nguồn gốc không thể là việc riêng của một bộ, một địa phương hay một nhóm doanh nghiệp. Muốn hệ thống phát huy hiệu quả, cần sự tham gia đồng bộ của cơ quan quản lý, địa phương, doanh nghiệp, hợp tác xã, cơ sở sản xuất và người tiêu dùng. Dữ liệu chỉ có giá trị khi được cập nhật đầy đủ, xác thực, liên thông và được sử dụng trong thực tiễn thị trường.
Từ góc nhìn chính sách, Nghị quyết số 57 đang đặt ngành Nông nghiệp và Môi trường trước một yêu cầu lớn: chuyển đổi số phải tạo ra giá trị thật, khoa học công nghệ phải giải quyết bài toán thật, đổi mới sáng tạo phải gắn với sản phẩm thật và dữ liệu phải phục vụ người dân, doanh nghiệp thật. Truy xuất nguồn gốc nông sản, công nghệ chiến lược, cơ sở dữ liệu chuyên ngành và nền tảng số dùng chung chính là những phép thử quan trọng cho yêu cầu đó. |
Khi mỗi sản phẩm nông sản có thể được định danh, mỗi thủ tục có thể được xử lý trên nền dữ liệu, mỗi cơ sở dữ liệu có thể kết nối với hệ thống quốc gia, mỗi bài toán công nghệ chiến lược có thể hướng tới sản phẩm cụ thể, thì phương thức quản trị mới của ngành Nông nghiệp và Môi trường không còn là khẩu hiệu. Đó là một quá trình đang hình thành, đang được đo bằng nhiệm vụ hoàn thành, bằng thủ tục được cắt giảm, bằng chi phí tuân thủ được giảm, bằng dữ liệu được kết nối và bằng những container nông sản đầu tiên đi ra thị trường với “hộ chiếu số” của mình.