news
Kỳ 3: Siết quản lý kháng sinh - chìa khóa cho chăn nuôi bền vững

Kỳ 3: Siết quản lý kháng sinh - chìa khóa cho chăn nuôi bền vững

Chủ nhật, 5/4/2026, 05:32 (GMT+7)
logo Trước nguy cơ kháng kháng sinh ngày càng gia tăng, ngành chăn nuôi Việt Nam đang đứng trước yêu cầu phải thay đổi cách tiếp cận trong phòng và trị bệnh cho vật nuôi. Từ hoàn thiện khung chính sách, siết chặt quản lý sử dụng thuốc thú y đến đẩy mạnh vaccine, an toàn sinh học và ứng dụng khoa học công nghệ, mục tiêu đặt ra là giảm phụ thuộc vào kháng sinh, hướng tới một nền chăn nuôi an toàn, bền vững và có trách nhiệm với sức khỏe cộng đồng.
chan-nuoi-2_1774929054.jpg
Thứ trưởng Phùng Đức Tiến cùng lãnh đạo các đơn vị quản lý, truyền thông của Bộ Nông nghiệp và Môi trường tham quan các gian hàng triển lãm các sản phẩm phục vụ cho chăn nuôi, thú y tại Hội nghị ngày 28/3

Khi đã nhận diện kháng kháng sinh là một nguy cơ thật, câu hỏi tiếp theo không còn là “có đáng lo hay không”, mà là phải làm gì để xử lý. Tại Hội nghị khoa học, công nghệ chăn nuôi và thú y toàn quốc lần thứ Nhất, Thứ trưởng Phùng Đức Tiến đã nhấn mạnh, khoa học công nghệ phải trở thành nền tảng để ngành chăn nuôi tăng trưởng xanh, sạch, an toàn. Đồng thời Thứ trưởng cho rằng, tiền cho khoa học công nghệ không thiếu, vấn đề là phải tổ chức thực hiện hiệu quả, tạo ra sản phẩm cụ thể, có khả năng ứng dụng cao. Thông điệp đó rất quan trọng, chống kháng kháng sinh không thể dừng ở cảnh báo, mà phải chuyển thành một chương trình hành động gắn với thể chế, nghiên cứu, quản lý và thực hành sản xuất.

Lối ra thứ nhất là hoàn thiện và thực thi nghiêm khung pháp lý. Việt Nam đã có nền tảng tương đối rõ. Quyết định số 1121/QĐ-TTg ban hành Chiến lược quốc gia về phòng, chống kháng thuốc giai đoạn 2023-2030, tầm nhìn 2045, đặt vấn đề ở tầm chiến lược quốc gia. Trong lĩnh vực chăn nuôi, theo Tổ chức FAO tại Việt Nam, nước ta đã cấm sử dụng kháng sinh làm chất kích thích sinh trưởng từ năm 2018, áp dụng kê đơn đối với toàn bộ việc sử dụng kháng sinh trong động vật từ năm 2020 và theo lộ trình chấm dứt dùng kháng sinh cho mục đích phòng bệnh trong chăn nuôi từ năm 2026. Đây là 03 mốc chính sách có tính bản lề, bởi nó thay đổi cả quan niệm quản lý lẫn hành vi sử dụng thuốc trên thị trường.

Nhưng luật mạnh chỉ có ý nghĩa khi đi vào tận cấp trang trại. Tài liệu pháp lý về quản lý thức ăn chăn nuôi chứa kháng sinh cho thấy, phạm vi được phép sử dụng rất hẹp, chủ yếu dành cho một số vật nuôi ở giai đoạn con non. Song song với đó, Thông tư về kê đơn thuốc thú y quy định lộ trình áp dụng kê đơn theo quy mô chăn nuôi, năm 2025 đã bao phủ cả nông hộ. Điều này mở ra khả năng truy xuất và siết trách nhiệm chuyên môn, nhưng chỉ hiệu quả nếu đi cùng thanh tra thị trường thuốc thú y, kiểm tra cơ sở chăn nuôi, và năng lực thú y cơ sở đủ mạnh để tư vấn và giám sát. Nếu quy định có mà nông dân vẫn dễ dàng mua thuốc, dùng thuốc, trộn thuốc theo kinh nghiệm, thì vòng lặp lạm dụng sẽ không dừng lại.

Lối ra thứ hai là chuyển từ “chữa bằng thuốc” sang “phòng bằng quản trị”. Đây là điểm cốt lõi nhất. Theo Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến, nông dân có thể giảm nhu cầu dùng kháng sinh bằng các biện pháp phòng bệnh như quản lý đàn phù hợp, chuồng trại, thức ăn, nước uống bảo đảm, thực hành chăn nuôi tốt, an toàn sinh học hiệu quả và sử dụng vaccine phù hợp. Nói cách khác, nếu coi kháng sinh là tuyến phòng thủ số một thì đó là tư duy cũ; tuyến phòng thủ số một của chăn nuôi hiện đại phải là an toàn sinh học. Khi đàn vật nuôi ít phơi nhiễm mầm bệnh hơn, ít stress hơn, được nuôi trong điều kiện tốt hơn, nguy cơ nhiễm bệnh giảm và nhu cầu dùng thuốc cũng giảm theo.

Lối ra thứ ba là đẩy mạnh vaccine và công nghệ sinh học. Tại hội nghị 28/3, Bộ Nông nghiệp và Môi trường nhấn mạnh, những tiến bộ trong sản xuất vaccine và quản lý dịch bệnh như một thành tựu nổi bật của khoa học công nghệ ngành chăn nuôi - thú y. Việt Nam cũng được nhắc đến như một trong những quốc gia tiên phong nghiên cứu, sản xuất thành công vaccine dịch tả lợn châu Phi. Trong dài hạn, vaccine có ý nghĩa lớn hơn một sản phẩm khoa học đơn lẻ: nó là công cụ giúp hạ nhu cầu sử dụng kháng sinh trên diện rộng, đặc biệt trong bối cảnh những bệnh truyền nhiễm ở vật nuôi có thể gây thiệt hại nặng. Mỗi bước tiến về vaccine là một bước giảm áp lực phải dựa vào kháng sinh.

Lối ra thứ tư là tăng cường giám sát và dữ liệu. Tổ chức WHO coi giám sát AMR (kháng kháng sinh) và giám sát tiêu thụ, sử dụng kháng sinh là ưu tiên trọng yếu trong kiểm soát kháng thuốc. Điều này rất phù hợp với bối cảnh Việt Nam, nơi một trong những hạn chế lớn không chỉ là hành vi dùng thuốc, mà còn là thiếu dữ liệu tích hợp, liên thông giữa chăn nuôi, thú y, môi trường và y tế người. Muốn có chính sách trúng, phải biết ở đâu dùng thuốc nhiều, loại nào đang bị lạm dụng, nhóm vật nuôi nào có nguy cơ cao, vùng nào tồn tại chủng vi khuẩn kháng thuốc phổ biến, và hiệu quả của biện pháp can thiệp ra sao. Không có dữ liệu, mọi biện pháp đều dễ rơi vào phong trào.

Lối ra thứ năm là đầu tư cho mô hình thực hành tốt, có thể nhân rộng. Mô hình Trường học đồng ruộng chăn nuôi gia cầm do Tổ chức FAO hỗ trợ tại Việt Nam là ví dụ đáng chú ý. Kết quả cho thấy, sử dụng kháng sinh trung bình giảm 34%, chi phí thuốc giảm gần 31,86%, hầu hết đàn gà vẫn khỏe mạnh, thậm chí một số trang trại loại bỏ hoàn toàn kháng sinh. Giá trị lớn nhất của mô hình này không nằm ở con số giảm thuốc, mà ở bằng chứng thực tiễn rằng nông dân hoàn toàn có thể thay đổi nếu được đào tạo đúng, có kỹ thuật phù hợp và thấy rõ lợi ích kinh tế. Chống kháng kháng sinh vì thế không thể chỉ làm bằng chế tài; nó phải đi cùng khuyến nông, hướng dẫn thực địa và những “ca thành công” đủ sức thuyết phục người nuôi.

Lối ra thứ sáu là xây dựng chuỗi chăn nuôi an toàn sinh học, truy xuất được và kết nối thị trường. Tại hội nghị ngày 28/3, các chuyên gia, nhà quản lý, nhà khoa học của Bộ NN&MT nhiều lần nhấn mạnh vai trò của chuyển đổi số, dữ liệu lớn, truy xuất nguồn gốc và tối ưu hóa chuỗi giá trị chăn nuôi. Khi sản phẩm đi vào chuỗi có tiêu chuẩn, người nuôi buộc phải tuân thủ quy trình tốt hơn về thuốc thú y, thời gian ngừng thuốc, hồ sơ chăm sóc và giám sát dịch bệnh. Nghĩa là thị trường cũng có thể trở thành lực kéo thay đổi hành vi. Một khi doanh nghiệp chế biến, bán lẻ và xuất khẩu đòi hỏi khắt khe hơn về tồn dư và truy xuất, việc lạm dụng kháng sinh sẽ khó tồn tại như trước.

Lối ra thứ bảy là đặt bài toán này trong cách tiếp cận “Một sức khỏe”. Tổ chức WHO, FAO và WOAH đều thống nhất rằng AMR là vấn đề liên ngành, vì vi khuẩn kháng thuốc có thể lan giữa người, động vật và môi trường. Việt Nam cũng đang tiếp cận theo hướng đó khi chiến lược quốc gia về phòng, chống kháng thuốc huy động nhiều bộ, ngành cùng tham gia. Điều này rất có ý nghĩa ở thực tiễn, nếu chỉ siết ở khâu chăn nuôi mà không kiểm soát tốt bán thuốc trong cộng đồng, kiểm nghiệm thực phẩm, xử lý môi trường và giám sát bệnh viện, thì rủi ro kháng thuốc vẫn luân chuyển trong toàn hệ sinh thái. Muốn chặn dòng chảy đó, phải xử lý đồng thời ở cả chuồng trại, phòng khám, nhà thuốc, lò mổ, bếp ăn và nguồn nước.

chan-nuoi_1774929410.jpg
Thuốc thú y trộn vào thức ăn chăn nuôi trong quá trình chế biến phải đảm bảo chất lượng, an toàn và hiệu quả của thuốc trong thời hạn sử dụng của từng loại thức ăn chăn nuôi. 

Từ góc độ quản trị ngành, Hội nghị 28/3 đã gợi ra một yêu cầu lớn hơn đó là, đổi mới cách làm khoa học công nghệ. Thứ trưởng Phùng Đức Tiến cho rằng, cần thay đổi mạnh tư duy nghiên cứu, từ các đề tài nhỏ lẻ sang tư duy theo chuỗi, theo chương trình lớn gắn với nhu cầu thực tiễn của ngành và thị trường. Đây là gợi ý rất đáng giá cho bài toán kháng kháng sinh. Nếu nghiên cứu vẫn phân tán, cắt khúc, chỉ dừng ở bài báo hay mô hình nhỏ, thì khó tạo ra thay đổi hệ thống. Ngược lại, nếu tổ chức thành chương trình lớn về giám sát AMR trong chăn nuôi, vaccine thay thế, chế phẩm sinh học, an toàn sinh học, chẩn đoán nhanh, xử lý môi trường và truy xuất số, thì khả năng tác động sẽ sâu rộng hơn nhiều.

Một điểm không thể bỏ qua là vai trò của thú y cơ sở. Nhiều quy định về kê đơn, giám sát hay sử dụng thuốc hợp lý sẽ khó đi vào cuộc sống nếu tuyến thú y địa phương mỏng, thiếu nhân lực hoặc thiếu công cụ. Trong bối cảnh chăn nuôi nhỏ lẻ còn phổ biến, thú y cơ sở không chỉ làm nhiệm vụ kiểm dịch hay phòng dịch mà còn phải trở thành “người gác cửa” của sử dụng kháng sinh có trách nhiệm, tư vấn đúng bệnh, đúng thuốc, đúng liều, đúng thời gian; phát hiện sớm dấu hiệu bất thường; hướng dẫn thời gian ngừng thuốc và khuyến nghị biện pháp thay thế bằng vệ sinh - an toàn sinh học - vaccine. Không có lực lượng này, nhiều quy định sẽ chỉ nằm trên giấy.

Xa hơn, kiểm soát kháng sinh còn là điều kiện để ngành chăn nuôi Việt Nam nâng vị thế. Tại hội nghị ngày 28/3, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã tập trung nhấn mạnh khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo phải là động lực nâng năng lực cạnh tranh của ngành trong bối cảnh hội nhập sâu rộng. Trong một thị trường ngày càng đề cao an toàn thực phẩm và phát triển bền vững, quốc gia nào kiểm soát tốt kháng sinh sẽ có lợi thế lớn hơn về uy tín, chất lượng và khả năng thâm nhập thị trường. Nói cách khác, chống kháng kháng sinh không chỉ là phòng vệ sức khỏe cộng đồng mà còn là đầu tư cho thương hiệu nông nghiệp quốc gia.

Từ tất cả những điều đó, có thể thấy lối ra cho chăn nuôi Việt Nam không nằm ở một biện pháp đơn lẻ. Không thể chỉ hô hào giảm thuốc mà không có vaccine. Không thể chỉ có quy định kê đơn mà thiếu thú y cơ sở. Không thể chỉ nhắc an toàn thực phẩm mà bỏ qua môi trường. Không thể chỉ làm truyền thông mà không có mô hình thực tế giúp nông dân thấy lợi ích kinh tế. Và cũng không thể chỉ yêu cầu người nuôi thay đổi nếu thị trường thuốc thú y và chuỗi tiêu thụ chưa được quản lý chặt. Bài toán kháng kháng sinh đòi hỏi một hệ giải pháp đồng bộ, từ luật pháp đến khoa học công nghệ, từ khuyến nông đến dữ liệu, từ trang trại đến bàn ăn.

Lời cảnh báo của Thứ trưởng Phùng Đức Tiến không nên chỉ được hiểu như một thông điệp tại hội nghị mà là lời nhắc về một chuẩn phát triển mới cho ngành chăn nuôi: "tăng trưởng phải đi cùng kiểm soát rủi ro sinh học; năng suất phải đi cùng an toàn thực phẩm; khoa học công nghệ phải đi cùng khả năng ứng dụng; và quản trị ngành phải hướng tới bảo vệ đồng thời sức khỏe vật nuôi, sức khỏe con người và sức khỏe môi trường". Khi Việt Nam đã có chiến lược quốc gia, có lộ trình pháp lý, có thành tựu vaccine và có các mô hình giảm kháng sinh thành công, điều còn lại là tổ chức thực hiện đủ nghiêm, đủ đồng bộ và đủ bền bỉ. Chỉ khi đó, ngành chăn nuôi mới có thể bước sang giai đoạn phát triển thực sự hiện đại: ít lệ thuộc kháng sinh hơn, an toàn hơn và cạnh tranh hơn.

Kháng kháng sinh không còn là nguy cơ xa vời mà đã trở thành thách thức hiện hữu đối với sức khỏe con người, vật nuôi và môi trường. Kiểm soát hiệu quả vấn đề này đòi hỏi sự vào cuộc đồng bộ của cơ quan quản lý, nhà khoa học, doanh nghiệp và người chăn nuôi, từ thay đổi nhận thức đến đổi mới phương thức sản xuất. Chỉ khi kháng sinh được sử dụng đúng cách và khoa học công nghệ được phát huy đúng vai trò, ngành chăn nuôi mới có thể phát triển bền vững, bảo đảm an toàn thực phẩm và góp phần bảo vệ sức khỏe cộng đồng lâu dài.

Hồng Minh - Thu Trang