Mô hình nuôi cá nước lạnh vùng cao nguyên đá mở lối thoát nghèo

Mô hình nuôi cá nước lạnh vùng cao nguyên đá mở lối thoát nghèo

Thứ năm, 26/2/2026, 08:02 (GMT+7)
logo Với mô hình nuôi cá nước lạnh đầu tiên tại thôn Chiến Thắng, xã Hồ Thầu, tỉnh Tuyên Quang, anh Bản Tả Chiều mạnh dạn khai thác lợi thế nguồn nước lạnh vùng cao để phát triển kinh tế gia đình. Không dừng lại ở câu chuyện làm giàu của một cá nhân, mô hình này còn mở ra hướng đi mới trong chuyển đổi cơ cấu sản xuất, góp phần nâng cao thu nhập và thúc đẩy giảm nghèo bền vững cho người dân địa phương.

Người trưởng thôn trẻ tiên phong nuôi cá nước lạnh tại Hồ Thầu 

Để di chuyển vào khu nuôi cá nước lạnh thuộc thôn Chiến Thắng, xã Hồ Thầu, tỉnh Tuyên Quang, chúng tôi phải vượt qua quãng đường dốc quanh co, uốn lượn theo sườn núi. Con đường nhỏ, một bên là vách đá, một bên là thung lũng, mỗi khúc cua như ôm trọn mây trời. 

Giữa lưng chừng núi, khu bể nuôi cá tầm hiện ra khiêm tốn nhưng gọn gàng. Nước từ trên cao được dẫn theo đường ống men theo triền dốc, chảy liên tục xuống các bể xi măng xếp tầng.

Trò chuyện với anh Bản Tả Chiều, chủ hộ tiên phong nuôi cá nước lạnh tại Hồ Thầu, đồng thời là trưởng thôn Chiến Thắng, chúng tôi mới hiểu vì sao anh chọn vị trí này để “đặt cược” với cá tầm. Theo anh, nước phải được dẫn trực tiếp từ khe núi sạch, không đi qua khu dân cư hay vùng sản xuất để đảm bảo môi trường sống an toàn cho cá tầm.

img_8675_1771983877.jpg
Anh Bản Tả Chiều, chủ hộ nuôi cá nước lạnh tại thôn Chiến Thắng, xã Hồ Thầu, tỉnh Tuyên Quang

Theo anh Chiều, cá tầm phát triển tốt trong ngưỡng nhiệt độ từ 17 - 24 độ C. Mùa hè, nhiệt độ nước tại Hồ Thầu luôn dưới 24 độ; mùa đông lạnh sâu, nước càng đạt ngưỡng lý tưởng. Chia sẻ về yếu tố khắt khe nhất trong nuôi cá tầm, anh Chiều cho biết: “Nước phải được lấy trực tiếp từ đầu nguồn sạch. Trước khi vào bể nuôi, nước được dẫn qua hệ thống bể lắng, bể lọc nhằm loại bỏ tạp chất. Đường ống dẫn nước được hàn kín, nối từ khe núi về khu nuôi để đảm bảo dòng chảy liên tục và ổn định”.

Chỉ cần dòng nước ngừng chảy hoặc hàm lượng oxy suy giảm trong khoảng 5 - 30 phút, đàn cá có thể bị sốc, nếu xử lý chậm trễ, nguy cơ mất trắng là điều hoàn toàn có thể xảy ra. Thực tế này trở thành bài học đắt giá đối với những người mới bắt tay vào nuôi cá nước lạnh, cho thấy yếu tố sống còn là khả năng kiểm soát nguồn nước, duy trì dòng chảy và hàm lượng oxy ổn định từng phút, từng giờ.

img_8631_1771983993.jpg
Hệ thống bể nuôi đảm bảo nhiều tiêu chuẩn khắt khe

Mùa mưa từ tháng 6 đến tháng 10 âm lịch là thời điểm căng thẳng nhất đối với người nuôi cá nước lạnh. Mưa lớn kéo theo nguy cơ sạt lở, làm đục nguồn nước, ảnh hưởng trực tiếp đến cá nuôi. Trong những ngày này, anh Bản Tả Chiều và gia đình gần như túc trực 24/24 giờ, theo dõi màu nước, độ chảy, sẵn sàng ngắt nước, bổ sung oxy khi cần.

Sau một năm nuôi, cá tầm đạt trọng lượng từ 1,8 - 2 kg/con, giá bán dao động 180.000–200.000 đồng/kg. Với giá trị kinh tế cao, mỗi bể cá là cả gia tài đối với anh Bản Tả Chiều. Tuy nhiên, vốn đầu tư ban đầu cho hệ thống bể, đường ống và con giống khá lớn, gia đình anh phải vay mượn, tận dụng nhân công địa phương để giảm chi phí. “Rủi ro nhiều nhưng nếu làm bài bản, đây là hướng đi có thể giúp người dân nâng cao thu nhập. Tôi làm trước để bà con thấy hiệu quả rồi mới tính chuyện mở rộng”, anh Chiều bộc bạch.

Từ thực tế sản xuất, anh Chiều mong muốn địa phương tiếp tục hỗ trợ tập huấn kỹ thuật chuyên sâu, tạo điều kiện vay vốn ưu đãi và sớm hình thành tổ liên kết hoặc hợp tác xã nuôi cá tầm để ổn định đầu ra.

Xã Hồ Thầu phát triển nghề cá nước lạnh gắn với mục tiêu giảm nghèo bền vững

Chia sẻ với phóng viên, ông Phượng Chà Nu, Phó Chủ tịch UBND xã Hồ Thầu (tỉnh Tuyên Quang) cho biết, mô hình nuôi cá tầm không phải là quyết định mang tính thử nghiệm, mà là bước đi nằm trong định hướng tái cơ cấu nông nghiệp của địa phương.

img_8658_1771984085.jpg
Ông Phượng Chà Nu, Phó Chủ tịch UBND xã Hồ Thầu, tỉnh Tuyên Quang

Ông cho biết, Hồ Thầu có hệ thống suối đầu nguồn tách biệt khu dân cư, lưu lượng ổn định quanh năm, nhiệt độ nước luôn dưới 24 độ C, kể cả mùa hè, phù hợp cho nuôi cá nước lạnh. Trong khi đó, diện tích canh tác lúa, ngô nhỏ lẻ, năng suất không cao, đời sống người dân còn nhiều khó khăn. Việc lựa chọn cá tầm vì thế được xem là hướng đi khai thác lợi thế tự nhiên, giảm phụ thuộc vào cây trồng truyền thống.

“Chúng tôi xác định phải làm bài bản, không phát triển ồ ạt. Người dân phải được học kỹ thuật, được hỗ trợ vốn và đặc biệt là phải tính đến đầu ra”, ông Nu nhấn mạnh.

Trước khi triển khai, xã đã tổ chức cho các hộ dân đi học tập kinh nghiệm tại Sa Pa (tỉnh Lào Cai), nơi đã hình thành chuỗi sản xuất cá nước lạnh tương đối hoàn chỉnh. Qua đó, địa phương không chỉ tiếp thu kỹ thuật nuôi, xử lý nguồn nước mà còn học hỏi cách tổ chức liên kết, xây dựng thương hiệu và gắn sản xuất với dịch vụ du lịch.

img_8636_1771984180.jpg
Hồ Thầu sở hữu địa hình, khí hậu phù hợp để nuôi cá nước lạnh

Về nguồn lực, xã chủ động kết nối các hộ dân vay vốn từ Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam với thời hạn 3 - 5 năm; đồng thời lồng ghép các chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, chương trình giảm nghèo bền vững để hỗ trợ tập huấn, chuyển giao kỹ thuật. Theo ông Nu, vốn và kiến thức phải song hành thì mô hình mới có thể đứng vững.

Đáng chú ý, Hồ Thầu không chỉ dừng ở mục tiêu nuôi cá thương phẩm. Địa phương định hướng phát triển theo chuỗi giá trị, tiến tới thành lập tổ liên kết, hợp tác xã để tạo sức mạnh tập thể, ổn định đầu ra và từng bước xây dựng thương hiệu “cá tầm Hồ Thầu”.

Song song với đó là tư duy làm kinh tế gắn với du lịch. Theo ông Phượng Chà Nu, mỗi khu nuôi cá có thể trở thành một điểm trải nghiệm; du khách đến tham quan, thưởng thức sản phẩm tại chỗ, tìm hiểu quy trình nuôi. Khi đó, giá trị không chỉ nằm ở con cá, mà còn ở câu chuyện sản xuất giữa vùng cao.

“Chúng tôi quan niệm, mỗi người dân khi tiếp xúc với du khách đều là một đại sứ của Hồ Thầu. Từ cách giới thiệu sản phẩm, cách giữ gìn môi trường đến thái độ phục vụ đều góp phần xây dựng hình ảnh địa phương,” ông Nu chia sẻ.

Trong tầm nhìn của chính quyền xã, cá tầm không đơn thuần là một sản phẩm nông nghiệp mới, mà là hạt nhân để thay đổi tư duy sản xuất, làm nông nghiệp gắn với thị trường, gắn với du lịch, gắn với thương hiệu. Tại đây, người dân không chỉ là người nuôi cá, mà còn là chủ thể kiến tạo giá trị và lan tỏa hình ảnh vùng cao Hồ Thầu, từng bước xóa đói giảm nghèo bền vững.
 

Khánh Linh