Ngày 25/6, tại TP. Đà Nẵng, Tạp chí Nông nghiệp và Môi trường phối hợp với Sở Nông nghiệp và Môi trường Đà Nẵng tổ chức Diễn đàn “Khai thác và sử dụng hợp lý tài nguyên biển và hải đảo Việt Nam”. Sự kiện là dịp để các nhà quản lý, chuyên gia và đại diện ngành thủy sản cùng nhìn lại thực trạng khai thác tài nguyên biển, đồng thời đề xuất giải pháp hoàn thiện cơ chế quản lý, phát huy hiệu quả những lợi thế mà biển mang lại cho phát triển kinh tế - xã hội.
Diễn đàn được tổ chức nhằm thiết thực hưởng ứng Ngày Môi trường thế giới (05/6), Ngày Đại dương thế giới (08/6), Tuần lễ Biển và Hải đảo Việt Nam cùng Tháng hành động vì môi trường; đồng thời, thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ thông tin, tuyên truyền trọng điểm năm 2026 nhằm tạo đồng thuận xã hội, thúc đẩy hành động thực chất trong toàn ngành về sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường và chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu,
Biển, hải đảo – Động lực tăng trưởng cốt lõi của nền kinh tế
Biển và hải đảo Việt Nam không chỉ là không gian sinh tồn gắn liền với chủ quyền, an ninh quốc gia, mà còn là nguồn lực chiến lược đặc biệt, giữ vai trò động lực tăng trưởng quan trọng của nền kinh tế.
Phát biểu khai mạc diễn đàn, ông Đào Xuân Hưng - Tổng Biên tập Tạp chí Nông nghiệp và Môi trường nhấn mạnh: Năm 2026 đánh dấu gần 8 năm triển khai Nghị quyết 36-NQ/TW về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn 2045. Sau gần một thập kỷ thực hiện, kinh tế biển nước ta đã có nhiều chuyển biến tích cực. Các ngành kinh tế gắn với biển hiện đóng góp khoảng 50% GDP cả nước, cho thấy biển, đảo tiếp tục là nguồn lực quan trọng, tạo nền tảng cho tăng trưởng và phát triển lâu dài.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, tài nguyên biển đang phải đối mặt với nhiều thách thức. Biến đổi khí hậu, nước biển dâng, ô nhiễm môi trường, rác thải nhựa đại dương, suy giảm hệ sinh thái biển và tình trạng khai thác quá mức nguồn lợi thủy sản đang tạo áp lực ngày càng lớn.
Theo TS. Đào Xuân Hưng, thực tế này đòi hỏi phải chuyển mạnh từ tư duy khai thác đơn thuần sang tư duy khai thác thông minh, sử dụng hợp lý và nuôi dưỡng tài nguyên biển. Phát triển kinh tế biển xanh không chỉ là định hướng lâu dài mà còn là yêu cầu cấp thiết để bảo đảm cân bằng giữa phát triển kinh tế và bảo tồn hệ sinh thái.
Đồng quan điểm, TS. Nguyễn Chu Hồi - Phó Chủ tịch thường trực Hội Thuỷ sản Việt Nam, Uỷ viên Uỷ ban KHCNMT Quốc hội (Khoá XV) cho rằng phát triển kinh tế biển xanh vừa là xu thế toàn cầu, vừa là ưu tiên chiến lược của Việt Nam. Dù khái niệm này không còn mới trên thế giới, nhưng vẫn còn mới mẻ đối với Việt Nam, dù nó đã song tồn trong suốt 20 năm thực hiện phát triển bền vững cùng với 8 mục tiêu phát triển thiên niên kỷ (từ Rio 92 đến Rio+20). Kinh tế biển xanh và tăng trưởng xanh tạo cơ hội để Việt Nam tái cấu trúc nền kinh tế biển, nhưng cũng đối mặt với hàng loạt vấn đề liên quan tới phát triển bền vững biển, đảo trong thời gian tới.
Do đó, Chuyển đổi xanh và phát triển kinh tế biển xanh còn là chủ trương nhất quán của Đảng và Nhà nước ta. Đặc biệt khi kinh tế biển “nâu” đang trở thành “vật cản” trên con đường phát triển bền vững kinh tế biển đất nước trong bối cảnh phức tạp, khó lường của biến đổi khí hậu và tình hình ở Biển Đông. Theo đó, phát triển bền vững kinh tế biển phải dựa trên nền tảng tăng trưởng xanh, phát huy các giá trị văn hoá biển đặc trưng Việt Nam và đòi hỏi phải thực hiện thành công ba khâu đột phá chiến lược về: thể chế phát triển bền vững kinh tế biển, khoa học - công nghệ biển cùng giáo dục - đào tạo nguồn nhân lực biển, hệ thống cơ sở hạ tầng “đa dụng”.
Trong bối cảnh biến đổi khí hậu diễn biến phức tạp và tình hình trên Biển Đông còn nhiều thách thức, phát triển bền vững kinh tế biển cần được đặt trên nền tảng tăng trưởng xanh, gắn khai thác với bảo tồn, đồng thời phát huy giá trị văn hóa biển đặc trưng của Việt Nam. Để đạt mục tiêu đó, cần tập trung vào các đột phá chiến lược trong thời gian tới.
Đề xuất nhiều nhóm giải pháp hướng đến khai thác và quản lý biển bền vững
Tại diễn đàn, các đại biểu đã chỉ ra nhiều tồn tại, bất cập trong công tác khai thác, quản lý tài nguyên biển và hải đảo, đồng thời đề xuất nhiều nhóm giải pháp nhằm hướng tới phát triển bền vững và nâng cao hiệu quả quản trị biển.
Theo TS. Nguyễn Thanh Tùng Tùng - Phó Cục trưởng Cục Biển và Hải đảo Việt Nam nhận định: Dù kinh tế biển Việt Nam đã có những bước phát triển đáng ghi nhận, song tiềm năng và lợi thế sẵn có vẫn chưa được khai thác tương xứng. Trong đó, khoa học - công nghệ được xem là một trong những yếu tố then chốt để tạo đột phá. Ông cho rằng cần chuyển từ tư duy quản lý đơn ngành sang quản lý liên ngành, liên vùng, đồng thời định vị lại vai trò của biển, đảo trong bối cảnh phát triển mới.
Theo ông Tùng, việc hoàn thiện hệ thống pháp luật về tài nguyên, môi trường biển và hải đảo là bước đi quan trọng để xây dựng nền quản trị biển hiện đại, khơi thông nguồn lực phát triển, từng bước hiện thực hóa mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia mạnh về biển, giàu từ biển.
Từ thực tiễn đó, ông đề xuất 4 nhóm giải pháp trọng tâm gồm: Hoàn thiện cơ chế quản lý không gian biển; Bổ sung quy định về quyền và nghĩa vụ của các tổ chức, cá nhân khai thác tài nguyên biển; Hoàn thiện các quy định về bảo vệ môi trường biển; Đồng thời xây dựng các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế biển và hải đảo.
Ở góc độ ngành thủy sản, ông Lê Trung Kiên - Chánh Văn phòng Cục Thủy sản và Kiểm ngư trong tham luận “Nuôi trồng và Quản lý Khai thác Bền vững nguồn lợi thủy” khẳng định: Thủy sản Việt Nam đang giữ vị trí chiến lược trong phát triển kinh tế biển. Năm 2025, tổng sản lượng thủy sản đạt 9,95 triệu tấn, vượt mục tiêu đề ra cho năm 2030; kim ngạch xuất khẩu đạt mức kỷ lục 11,3 tỷ USD. Tuy nhiên, cơ cấu ngành vẫn còn nhiều bất cập khi sản lượng khai thác tự nhiên còn ở mức cao, trong khi nuôi biển vẫn chưa đạt kỳ vọng.
Theo ông Kiên, hệ thống chính sách từ chiến lược phát triển đến quy hoạch bảo vệ, khai thác thủy sản, đề án nuôi biển, chuyển đổi nghề và chống khai thác IUU đã tạo nền tảng pháp lý khá đầy đủ. Vấn đề cốt lõi hiện nay nằm ở khâu tổ chức thực hiện, đòi hỏi sự phối hợp đồng bộ, quyết liệt và cam kết lâu dài từ các cấp, ngành, doanh nghiệp và cộng đồng ngư dân.
Ông cũng nhấn mạnh, chuyển đổi nghề khai thác và phát triển nuôi biển là hai nhiệm vụ có mối quan hệ hỗ trợ lẫn nhau. Khi giảm áp lực khai thác ven bờ, nguồn lợi thủy sản sẽ có điều kiện phục hồi, qua đó tạo nền tảng cho nuôi biển phát triển bền vững. Ngược lại, nuôi biển phát triển sẽ mở ra sinh kế mới, góp phần giảm khai thác bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU).
Từ thực tiễn địa phương, Đà Nẵng được xem là điểm sáng trong công tác kiểm soát ô nhiễm môi trường biển. Thành phố duy trì hoạt động quan trắc định kỳ chất lượng nước biển ven bờ tại các bãi tắm, khu vui chơi và cửa sông, đồng thời đầu tư hệ thống quan trắc tự động nhằm kịp thời theo dõi, cảnh báo các biến động môi trường.
Kết quả quan trắc trong những năm gần đây cho thấy chất lượng nước biển ven bờ của thành phố cơ bản ở mức tốt, phần lớn các chỉ số đều nằm trong ngưỡng cho phép theo quy chuẩn quốc gia, đặc biệt tại các khu vực phục vụ du lịch biển.
Song song đó, thành phố đã triển khai nhiều chương trình quản lý rác thải nhựa đại dương, đẩy mạnh truyền thông nhằm nâng cao nhận thức cộng đồng về bảo vệ môi trường biển. Nhiều hoạt động hưởng ứng Ngày Đại dương Thế giới, Tuần lễ Biển và Hải đảo Việt Nam, Ngày Môi trường Thế giới và Tháng hành động vì môi trường được tổ chức thường xuyên, góp phần lan tỏa ý thức bảo vệ đại dương trong cộng đồng.
Theo ông Đặng Duy Hải, Đề án “Xây dựng Đà Nẵng - Thành phố môi trường” giai đoạn 2021–2030 là bước đột phá quan trọng trong chiến lược phát triển bền vững của thành phố. Nhiều năm liền, Đà Nẵng nằm trong nhóm địa phương dẫn đầu cả nước về chỉ số đánh giá công tác bảo vệ môi trường (PEPI).
Bên cạnh đó, công tác bảo tồn hệ sinh thái biển và ven biển cũng được chú trọng thông qua nhiều giải pháp bảo tồn đa dạng sinh học, phục hồi hệ sinh thái tự nhiên, tái tạo nguồn lợi thủy sản và bảo vệ các loài có giá trị kinh tế. Hoạt động điều tra, đánh giá đa dạng sinh học biển được duy trì thường xuyên, cùng với việc tăng cường kiểm tra, giám sát nhằm ngăn chặn khai thác IUU, góp phần bảo vệ nguồn lợi thủy sản và duy trì cân bằng hệ sinh thái biển.
Đặc biệt, tại phiên thảo luận, các diễn giả, chuyên gia và nhà quản lý đã tập trung trao đổi những vấn đề thực tiễn, cụ thể, qua đó mang đến cái nhìn toàn diện hơn về các vấn đề liên quan đến biển, hải đảo Việt Nam. Đồng thời, nhiều ý kiến, phân tích chuyên sâu cũng góp phần lý giải và làm rõ những băn khoăn, trăn trở được đặt ra tại diễn đàn.
Phát biểu kết luận diễn đàn, TS. Trần Đình Luân - Cục trưởng Cục Thủy sản và Kiểm ngư, Bộ Nông nghiệp và Môi trường nhấn mạnh: Tài nguyên biển và hải đảo, đặc biệt là nguồn lợi thủy sản, là nguồn tài nguyên có khả năng tái tạo nếu được khai thác hợp lý và bảo vệ hiệu quả. Theo ông, việc khai thác đi đôi với bảo tồn là yếu tố then chốt để phát triển kinh tế biển bền vững, qua đó phát huy tối đa tiềm năng, lợi thế của biển.
Ông cũng ghi nhận những câu hỏi, băn khoăn của các đại biểu, đại biểu tại diễn đàn. Đồng thời bày tỏ mong muốn các đại biểu nhận thức sâu sắc hơn về vai trò của kinh tế biển, từ đó lan tỏa tinh thần trách nhiệm đến cộng đồng, hướng tới khai thác tài nguyên biển một cách hợp lý, bền vững.
Về phía cơ quan quản lý, TS. Trần Đình Luân cho biết sẽ tiếp tục lắng nghe, tiếp thu các ý kiến đóng góp nhằm hoàn thiện khung pháp lý, thúc đẩy phát triển các mô hình sản xuất dựa trên khai thác không gian biển tích hợp, đa giá trị, góp phần thực hiện hiệu quả các nghị quyết của Trung ương về phát triển bền vững kinh tế biển.