news

Nâng cao năng lực dự báo, bảo đảm tính chính xác, độ tin cậy của các bản tin, giảm thiểu thiệt hại thiên tai thời tiết

Thứ hai, 3/3/2025, 08:52 (GMT+7)
logo Thiên tai trên thế giới cũng như tại Việt Nam đã và đang diễn biến ngày càng phức tạp với những yếu tố cực đoan, khó lường gây thiệt hại lớn về người, tài sản. Thiên tai đang là mối đe dọa tới sự an toàn và phát triển bền vững đất nước, tác động sâu sắc đến mọi mặt đời sống kinh tế, xã hội. Cùng với sự cực đoan của thiên tai, việc sử dụng nguồn nước ngày càng lớn tại các quốc gia thượng nguồn sông Hồng, sông Mê Công cũng như tác động từ mặt trái của quá trình phát triển với quy mô dân số và giá trị nền kinh tế ngày càng tăng đã đặt ra thách thức lớn cũng như nhiệm vụ hết sức nặng nề cho công tác phòng, chống thiên tai.

Nâng cao năng lực dự báo, bảo đảm tính chính xác, độ tin cậy của các bản tin, giảm thiểu thiệt hại thiên tai thời tiết

Tăng cường dự báo, cảnh báo sớm, phục vụ hiệu quả phòng chống thiên tai

Hình thái thời tiết và khí hậu cực đoan xảy ra ngày càng nhiều hơn, những đợt nắng nóng, hạn hán và cháy rừng xảy ra khắc nghiệt hơn; hơi nước hiện hữu mạnh hơn trong khí quyển dẫn đến những trận mưa lớn cực đoan và lũ lụt. Sự ấm lên của đại dương thúc đẩy các cơn bão nhiệt đới mạnh hơn và mực nước biển dâng cao làm các tác động này gia tăng cực đoan hơn nữa. Ở Việt Nam, thiên tai xảy ra với cường độ mạnh hơn và thường xuyên hơn. Theo thống kê, số cơn bão rất mạnh tăng; số ngày rét đậm, rét hại có xu thế giảm ở Bắc Bộ; số ngày nắng nóng và nắng nóng gay gắt có xu thế tăng trên phạm vi cả nước; số tháng hạn tăng trên đa phần diện tích của Bắc Trung Bộ, Tây Nguyên và một phần diện tích Đồng bằng Bắc Bộ và Nam Trung Bộ và có xu thế giảm trên đa phần diện tích Bắc Bộ và Trung Trung Bộ. 

Thiên tai thường xuyên diễn ra trên khắp các vùng miền cả nước với xu thế ngày càng gia tăng và khốc liệt với 22 loại hình thiên tai đã được Luật hóa, đặc biệt là bão, lũ, lũ quét sạt lở đất, ngập lụt ngày càng khốc liệt vượt các mốc lịch sử đã được ghi nhận. Lũ quét và trượt lở đất cũng xảy ra nhiều hơn, khốc liệt hơn ở vùng núi Bắc Bộ, Tây Nguyên và cả Trung Bộ (vùng mà trước đấy thường ít xảy ra). Theo số liệu quan trắc, chưa có bằng chứng về sự thay đổi tần suất của các cơn bão và áp thấp nhiệt đới đổ bộ vào đất liền nước ta. Tuy nhiên, số lượng các cơn bão có cường độ mạnh có xu thế tăng lên. Mùa mưa bão hiện nay có xu hướng kết thúc muộn hơn trước đây và nhiều cơn bão đổ bộ vào khu vực phía Nam trong những năm gần đây. Nước ta đã chịu tác động với số lượng kỷ lục các cơn bão và áp thấp nhiệt đới, cùng với các trận mưa có cường độ cực lớn, chưa từng xảy ra tại một số khu vực miền núi, gây sạt lở đất và lũ quét kinh hoàng (Mù Cang Chải-Yên Bái); lũ lớn xuất hiện muộn trên hệ thống sông Đà. Mưa đá xảy ra bất thường hơn về thời gian, địa điểm, tần suất và cường độ. Mưa lớn và đặc biệt lớn xảy ra thường xuyên trên diện rộng và cục bộ đã gây lũ lớn, ngập lụt, lũ quét, sạt lở đất nghiêm trọng tại nhiều khu vực trên phạm vi toàn quốc. Số liệu quan trắc những năm gần đây cho thấy lượng dòng chảy tại các trạm thủy văn trên những lưu vực sông chính nước ta như sông Hồng, Đồng Nai - Sài Gòn, Ba, Vu Gia - Thu Bồn,... phổ biến có xu thế giảm. Trong khi đó, đỉnh lũ cao nhất năm có xu hướng liên tục gia tăng ở hầu hết các lưu vực sông, trừ một số vùng như hạ lưu sông Hồng - Thái Bình do có sự điều tiết của các hồ, đập lớn. Ở khu vực ven biển miền Trung, Tây Nguyên lũ lớn và đặc biệt lớn xảy ra nhiều hơn và nghiêm trọng hơn. Hiện tượng nóng lên toàn cầu được ghi nhận một cách rõ rệt, nhiệt độ trung bình cả trên thế giới và tại Việt Nam đều có xu hướng cao hơn so với trung bình trong hơn 1 thập kỷ vừa qua, dưới tác động của BĐKH, gần như chắc chắn nắng nóng sẽ xảy ra với tần suất và cường độ ngày càng gay gắt hơn.

Hiện nay, công tác dự báo KTTV không còn dừng ở thông tin về KTTV thuần túy mà cần dịch chuyển sang dự báo tác động, thông báo cho công chúng về những gì điều kiện KTTV sẽ gây ra, điều này có vai trò rất quan trọng để bảo vệ cuộc sống và sinh kế của người dân. Tổng cục KTTV đã tăng cường dự báo, cảnh báo sớm, với quan điểm thông tin, dữ liệu KTTV là đầu vào quan trọng của các ngành, lĩnh vực KT-XH, phục vụ cuộc sống hằng ngày của người dân và góp phần đảm bảo QP-AN quốc gia, Ngành đang hướng tới các sản phẩm dự báo, cảnh báo KTTV ngày càng đa dạng, xây dựng hệ thống dự báo tác động nhằm đáp ứng nhu cầu của các ngành nghề.

Các bản tin dự báo, cảnh báo thiên tai phục vụ hiệu quả cho công tác ứng phó sự cố thiên tai và tìm kiếm cứu nạn trên phạm vi cả nước. Tổng cục KTTV đã thực hiện các bản tin chuyên đề phục vụ các hoạt động diễn tập và các hoạt động khác cần thông tin KTTV. Đối với nông nghiệp: Sản phẩm dự báo không chỉ dừng lại ở những con số nhiệt độ, lượng mưa trung bình mà còn có thể cung cấp số giờ nắng, độ ẩm, nhiệt độ, lượng mưa chi tiết theo từng thời kỳ mùa vụ. Xa hơn là các dự báo, cảnh báo về sâu bệnh, dự báo năng suất cây trồng theo các điều kiện thời tiết. Đối với thủy điện: Ngành KTTV đang thực hiện các bản tin dự báo phục vụ Quy trình vận hành hồ chứa theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ và có thể thực hiện tốt các bản tin dự báo nguồn nước đến các hồ phục vụ điều hành sản xuất điện.

Ngành KTTV đã dự báo, cảnh báo được hầu hết các cơn bão có ảnh hưởng đến Việt Nam, các đợt lũ lớn trên sông Hồng. Qua đó, có đóng góp quan trọng vào công tác phòng chống, giảm nhẹ thiệt hại do thiên tai gây ra, phục vụ sản xuất. Đặc biệt trong thời kỳ này, công tác KTTV có vai trò cực kỳ quan trọng, trở nên cấp bách, là một trong các yếu tố “thiên thời”, mang tính chất quyết định góp phần vào các thắng lợi quân sự quan trọng của đất nước,…

Nâng cao tính chính xác, độ tin cậy của các bản tin dự báo, giảm thiểu thiệt hại thiên tai 

Ngành phối hợp chặt chẽ với các cơ quan, bộ, ngành để chủ động cung cấp thông tin, nâng cao hiệu quả công tác PCTT; tăng cường tuyên truyền để người dân chủ động trong PCTT nhất là tại các khu vực dễ bị tổn thương bởi các hiện tượng thời tiết cực đoan. Trong đó, tiếp tục đẩy mạnh hoạt động truyền thông KTTV với các bộ, ban ngành, cơ quan, địa phương và cộng đồng để chủ động nắm bắt kịp thời các bản tin, thông tin dự báo, cảnh báo. Ngành KTTV tiếp tục đẩy mạnh, phát triển đồng bộ theo hướng hiện đại hóa; lấy việc đầu tư cho KHCN và đào tạo nguồn nhân lực làm giải pháp chủ yếu để phát triển trên cơ sở kế thừa và phát huy tối đa nguồn lực hiện có; khai thác triệt để thành tựu KHCN trong nước, đồng thời ứng dụng chọn lọc những thành tựu KHCN tiên tiến trên thế giới. Hiện đại hóa và tự động hóa hệ thống thông tin truyền dẫn số KTTV, nâng cao tốc độ và mở rộng băng thông, đáp ứng yêu cầu phát triển công nghệ dự báo và trao đổi số liệu trong và ngoài ngành.

Ngành KTTV tập trung cảnh báo KTTV nâng cao tính chính xác, độ tin cậy của các bản tin dự báo, cảnh báo thiên tai xây dựng hệ thống quan trắc hiện đại, hệ thống hỗ trợ kỹ thuật, tăng cường công nghệ dự báo, năng lực chuyên môn, đặc biệt là xây dựng và đưa vào dự báo nghiệp vụ dụng mô hình dự báo bão, mưa lớn của Việt Nam; xây dựng hệ thống giám sát BĐKH, hạn hán, xâm nhập mặn. Ngành, cải tiến thay đổi nội dung, hình thức truyền tin thiên tai cụ thể như tiếp tục đầu tư xây dựng các hệ thống hỗ trợ kỹ thuật, phát triển công nghệ dự báo số để tăng cường năng lực dự báo từ hạn cực ngắn đến hạn dài; xây dựng hệ thống mô hình khu vực phân giải cao, đồng hóa số liệu từ nguồn số liệu radar thời tiết, vệ tinh, trạm thám không. Xây dựng các hệ thống hỗ trợ kỹ thuật, chi tiết hóa các bản tin dự báo KTTV, trong đó đặc biệt chú trọng chi tiết hóa tác động của thiên tai với các lĩnh vực KT-XH và các đối tượng chịu rủi ro thiên tai.

Ngành chú trọng xây dựng, hoàn thiện và giám sát việc thực hiện các quy trình dự báo từ Trung ương đến các Đài KTTV khu vực, Đài KTTV tỉnh, thành phố; tăng cường mật độ trạm quan trắc trên biển, số liệu bão trên biển, các trạm đo mưa tự động trên khu vực có địa hình phức tạp, các trạm quan trắc cao không, radar. Trong tương lai, xem xét đến khả năng bay thám sát bão bằng máy bay hoặc tên lửa nhằm xác định vị trí, cường độ, tốc độ, hướng di chuyển bão chính xác hơn; đầu tư nâng cấp hệ thống tính toán hiệu năng cao; hoàn thiện và đồng bộ hệ thống thông tin KTTV. Cùng với đó, Ngành đã và đang phát triển các mô hình, phương pháp mới cả trong quan trắc và dự báo, cảnh báo. Đồng thời, tích cực phối hợp với các trường, viện nghiên cứu để tăng cường ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ, chuyển đổi số trong công tác KTTV.

Để nâng cao năng lực dự báo, cảnh báo thiên tai, Ngành tăng cường phát triển mạng lưới trạm KTTV quốc gia; hiện đại hóa hệ thống quan trắc, thông tin, nâng cao năng lực dự báo, cảnh báo KTTV; cập nhật phân vùng rủi ro thiên tai, lập bản đồ cảnh báo lũ quét, sạt lở đất và các loại hình thiên tai phổ biến khác; xây dựng hệ thông quan trắc, cảnh báo về lũ quét, sạt lở đất tại các khu vực có nguy cơ cao; nâng cấp, bổ sung trạm quan trắc địa chấn phục vụ báo tin động đất và cảnh báo sóng thần. Xây dựng công cụ, hệ thống quan trắc KTTV chuyên dùng phục vụ công tác vận hành hồ chứa thủy lợi, thủy điện; hệ thống dự báo, cảnh báo hạn hán, xâm nhập mặn, ngập lụt đô thị theo thời gian thực. Xây dựng công cụ tính toán, nâng cao năng lực quan trắc, dự báo, cảnh báo an toàn hồ đập, cảnh báo lũ lớn, xả lũ khẩn cấp; rà soát hoàn thiện các quy trình vận hành hồ chứa thượng nguồn.

Nhằm giảm thiệt hại thiên tai, cần tăng cường khả năng chống chịu của cơ sở hạ tầng, tiếp tục thực hiện có hiệu quả các chính sách hỗ trợ về nhà ở tại khu vực thường xuyên xảy ra thiên tai, có nguy cơ xảy ra lũ quét, sạt lở đất, nhất là đối với các hộ nghèo, khó khăn nhằm nâng cao khả năng chống chịu, bảo đảm an toàn tính mạng cho người dân trước thiên tai. Xây dựng, củng cố, nâng cấp các tuyến đê sông, đê biển theo quy hoạch phòng, chống lũ và đê điều; đầu tư sửa chữa dứt điểm đập, hồ chứa thủy lợi bị hư hỏng, xuống cấp; từng bước đầu tư nâng cấp, xây dựng bổ sung đập, hồ chứa và hệ thống thủy lợi để bảo đảm an ninh nguồn nước; nâng cao năng lực quản lý, theo dõi, giám sát, vận hành hồ đập, hệ thống thủy lợi lớn, hướng tới vận hành theo thời gian thực. Rà soát, điều chỉnh quy trình vận hành hồ chứa, liên hồ chứa đảm bảo phù hợp với những thay đổi về mục tiêu cắt, giảm lũ, cấp nước cho hạ du và phát điện của các hồ chứa thủy điện, thủy lợi. Nâng cấp các công trình cảng cá, kết hợp làm nơi neo đậu tránh, trú bão và thông tin, hậu cần nghề cá; ưu tiên đầu tư xây dựng các khu neo đậu tránh trú bão cấp vùng tại các đảo và các khu vực trọng điểm. Triển khai thực hiện có hiệu quả Đề án phòng, chống sạt lở bờ sông, bờ biển đến năm 2030 theo Quyết định số 957/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Xây dựng công trình phòng, chống lũ quét, sạt lở đất tại một số khu vực có nguy cơ cao xảy ra lũ quét, sạt lở đất ảnh hưởng đến an toàn dân cư. Đầu tư khắc phục các vị trí đường giao thông gây cản trở thoát lũ, nhất là trên các tuyến đường bộ, đường sắt tại khu vực miền Trung để đảm bảo an toàn, không làm gia tăng rủi ro thiên tai; có biện pháp xử lý các vị trí có nguy cơ xảy ra sụt, trượt, ngập sâu khi mưa lũ nhằm đảm bảo an toàn, không làm gia tăng rủi ro thiên tai; lắp đặt thiết bị cảnh báo mức độ ngập tại các ngầm tràn thường xuyên bị ngập lụt phục vụ công tác đảm bảo an toàn giao thông.

Xây dựng, sửa chữa, nâng cấp, kết hợp đa mục tiêu các trụ sở chính, công trình công cộng như y tế, giáo dục, văn hóa thể thao, du lịch, nhà sinh hoạt cộng đồng thành nơi tránh trú khi xảy ra thiên tai. Đầu tư công trình hạ tầng theo hướng đa mục tiêu như đường, đê kết hợp sơ tán dân cư khi ngập lụt. Đầu tư nâng cao khả năng chống ngập lụt cho các đô thị, nhất là ngập lụt khi mưa lớn, triều cường; xây dựng cơ sở dữ liệu, ứng dụng khoa học công nghệ cảnh báo sớm ngập lụt để người dân chủ động ứng phó, giảm rủi ro do thiên tai. Xây dựng hệ thống thông tin khẩn cấp phục vụ chỉ đạo điều hành khi có tình huống thiên tai lớn, nâng cấp hạ tầng viễn thông chống chịu được với các tình huống thiên tai; sẵn sàng nguồn lực, chuẩn bị vật tư phương tiện, lực lượng tại những vùng trọng điểm thường xuyên xảy ra thiên tai.

NGỌC QUANG
Nguồn: Tạp chí Tài nguyên và Môi trường số 24 (Kỳ 2 tháng 12) năm 2024