Nâng hiệu lực thực thi pháp luật môi trường: Từ kế hoạch hành động đến chuyển đổi hệ thống quản trị

Nâng hiệu lực thực thi pháp luật môi trường: Từ kế hoạch hành động đến chuyển đổi hệ thống quản trị

Thứ bảy, 9/5/2026, 05:12 (GMT+7)
logo Quyết định số 1459/QĐ-BNNMT ngày 22/4/2026 của Bộ Nông nghiệp và Môi trường không chỉ là kế hoạch triển khai Nghị quyết của Chính phủ và Quốc hội, mà là bước chuyển từ hoàn thiện chính sách sang tổ chức thực thi có hệ thống, với danh mục nhiệm vụ cụ thể, lộ trình rõ ràng và cơ chế vận hành đồng bộ.

Việc Bộ Nông nghiệp và Môi trường ban hành Quyết định số 1459/QĐ-BNNMT ngày 22/4/2026 thực hiện Nghị quyết số 67/NQ-CP ngày 25/3/2026 của Chính phủ về việc thực hiện Nghị quyết số 247/2025/QH15 ngày 10/12/2025 của Quốc hội về tiếp tục nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực hiện chính sách, pháp luật về bảo vệ môi trường - đánh dấu một bước chuyển quan trọng trong tổ chức thực thi chính sách môi trường ở Việt Nam.

sacegreen_1777970618.jpeg
Quyết định số 1459/QĐ-BNNMT ngày 22/4/2026 của Bộ Nông nghiệp và Môi trường đánh dấu một bước chuyển quan trọng trong tổ chức thực thi chính sách môi trường ở Việt Nam

Thiết lập nền tảng quản trị: Nhóm nhiệm vụ trọng tâm đến năm 2026

Một điểm nổi bật của Kế hoạch là việc xác định rõ nhóm nhiệm vụ cấp tốc đến hết năm 2026, tập trung vào thiết lập nền tảng cho hệ thống quản trị môi trường hiện đại.

Trọng tâm trước hết là rà soát, cập nhật các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch liên quan đến bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu, bảo đảm tính đồng bộ giữa các cấp độ chính sách và phù hợp với bối cảnh mới. Song song với đó, Kế hoạch đặt ra yêu cầu đánh giá khả năng chịu tải và xây dựng kế hoạch quản lý chất lượng môi trường nước mặt đối với các lưu vực sông liên tỉnh quan trọng, qua đó chuyển từ quản lý theo địa giới hành chính sang quản lý theo hệ sinh thái.

Đáng chú ý, một trong những nhiệm vụ có ý nghĩa nền tảng là hoàn thành và đưa vào vận hành hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu môi trường quốc gia, bảo đảm tích hợp, liên thông, chia sẻ theo thời gian thực và công khai cho cộng đồng, trước mắt triển khai tại các đô thị lớn như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh. Đây không chỉ là một nhiệm vụ kỹ thuật, mà là bước chuyển quan trọng trong phương thức quản trị: từ quản lý dựa trên báo cáo sang quản trị dựa trên dữ liệu thời gian thực.

Cùng với đó, việc vận hành sàn giao dịch các-bon trong nước và hoàn thiện khung pháp lý cho trao đổi tín chỉ các-bon với quốc tế cho thấy Việt Nam đang chuyển từ giai đoạn chuẩn bị sang giai đoạn thực thi thị trường các-bon.

Ngoài ra, các nhiệm vụ như xây dựng hệ thống dữ liệu môi trường biển, cập nhật kế hoạch giảm phát thải khí nhà kính giai đoạn 2026-2035 và hoàn thiện hệ thống giám sát thích ứng với biến đổi khí hậu tiếp tục củng cố nền tảng quản trị môi trường theo hướng tích hợp, liên ngành và dài hạn.

Có thể thấy, toàn bộ nhóm nhiệm vụ đến năm 2026 đều hướng tới một mục tiêu chung: thiết lập “hạ tầng vận hành” của hệ thống quản trị môi trường hiện đại.

Tổ chức thực thi theo trục: Kiến tạo cấu trúc quản trị môi trường đến năm 2030

Nếu giai đoạn đến năm 2026 là xây dựng nền tảng, thì các nhiệm vụ từ năm 2026 đến 2030 và các năm tiếp theo được tổ chức theo các trục lớn, phản ánh rõ cấu trúc của hệ thống quản trị môi trường. Giai đoạn này tập trung vào các nhiệm vụ trọng tâm sau:

Một là, phòng ngừa rủi ro từ sớm - chuyển đổi logic quản lý. Kế hoạch xác định rõ yêu cầu nâng cao năng lực quan trắc, dự báo, cảnh báo sớm về môi trường và biến đổi khí hậu, đồng thời siết chặt kiểm soát ngay từ khâu thẩm định dự án và cấp phép môi trường. Điều này cho thấy sự chuyển đổi căn bản từ “xử lý hậu quả” sang “phòng ngừa rủi ro”, phù hợp với xu thế quản trị môi trường hiện đại.

Hai là, khắc phục các “điểm nghẽn” môi trường. Kế hoạch tập trung vào các lưu vực sông trọng điểm như sông Cầu, sông Nhuệ–Đáy, sông Đồng Nai, đồng thời triển khai chương trình phục hồi các nguồn nước bị suy thoái, cạn kiệt và ô nhiễm.  Cách tiếp cận này thể hiện sự chuyển hướng từ xử lý phân tán sang giải quyết theo vùng và hệ sinh thái, giúp nâng cao hiệu quả can thiệp chính sách.

Ba là, kinh tế tuần hoàn và quản lý chất thải. Một trụ cột quan trọng là tăng cường quản lý chất thải rắn, đặc biệt là chất thải nguy hại, đồng thời thúc đẩy áp dụng công nghệ tái chế, nhất là đối với các loại chất thải mới như pin xe điện, pin mặt trời. Đáng chú ý, Kế hoạch nhấn mạnh việc thực hiện trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất (EPR), phát triển ngành công nghiệp tái chế và các mô hình kinh tế tuần hoàn, qua đó chuyển chất thải thành tài nguyên.

Bốn là, vận hành thị trường các-bon và thực hiện cam kết khí hậu. Các nhiệm vụ như quản lý hạn ngạch phát thải, kiểm kê khí nhà kính, triển khai cơ chế trao đổi và bù trừ tín chỉ các-bon cho thấy hệ thống chính sách khí hậu đang được chuyển sang giai đoạn vận hành thực tế. Điều này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh Việt Nam thực hiện các cam kết quốc tế về giảm phát thải và hướng tới mục tiêu phát thải ròng bằng “0”.

Năm là, tăng cường tuân thủ và kỷ luật thực thi. Kế hoạch yêu cầu đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra về bảo vệ môi trường, qua đó nâng cao hiệu lực thực thi pháp luật. Đây là yếu tố then chốt để bảo đảm các quy định không chỉ tồn tại trên giấy, mà đi vào thực tế.

Sáu là, xã hội hóa và nâng cao nhận thức cộng đồng. Việc phát động phong trào toàn dân tham gia bảo vệ môi trường, công khai thông tin và đa dạng hóa hoạt động truyền thông cho thấy quản trị môi trường không còn là nhiệm vụ riêng của cơ quan nhà nước, mà là trách nhiệm chung của toàn xã hội.

Bảy là, nguồn lực, khoa học công nghệ và tổ chức thực hiện. Kế hoạch đặc biệt chú trọng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, tăng cường liên kết giữa Nhà nước - viện nghiên cứu - doanh nghiệp, đồng thời đầu tư có trọng tâm cho các lĩnh vực then chốt như phục hồi môi trường, chuyển đổi xanh và vận hành thị trường các-bon. Điều này cho thấy nhận thức rõ ràng rằng: không có năng lực thực thi thì không có hiệu quả chính sách.

Tám là, hoàn thiện thể chế: Tái cấu trúc “luật chơi” môi trường. Song song với các nhiệm vụ triển khai, Kế hoạch xác lập lộ trình hoàn thiện thể chế. Trong đó, trọng tâm là sửa đổi, bổ sung Luật Bảo vệ môi trường và xây dựng Luật Biến đổi khí hậu, đồng thời điều chỉnh các nghị định xử phạt, quy định kiểm kê khí nhà kính và hệ thống quy chuẩn kỹ thuật. Việc hoàn thiện các thông tư, quy chuẩn kỹ thuật và các hướng dẫn về đo đạc, báo cáo, thẩm định phát thải tiếp tục cụ thể hóa các công cụ quản lý. Đáng chú ý, Kế hoạch cũng đặt ra yêu cầu rà soát, hoàn thiện các cơ chế, chính sách hỗ trợ chuyển đổi xanh, mở rộng không gian chính sách cho phát triển bền vững. Như vậy, thể chế không chỉ là nền tảng, mà là yếu tố quyết định khả năng vận hành của toàn bộ hệ thống.

Có thể thấy, Kế hoạch đã thiết kế tương đối đầy đủ từ nền tảng, công cụ đến thể chế. Tuy nhiên, thách thức lớn nhất vẫn nằm ở khâu tổ chức thực hiện. Sự chênh lệch về năng lực giữa các địa phương, hạn chế về nguồn lực và cơ chế phối hợp liên ngành chưa thực sự hiệu quả là những vấn đề cần được giải quyết. Trong bối cảnh đó, yêu cầu đặt ra không chỉ là hoàn thành nhiệm vụ, mà là bảo đảm tính đồng bộ, kỷ luật và trách nhiệm giải trình trong toàn bộ hệ thống thực thi.

Quyết định số 1459/QĐ-BNNMT cho thấy một bước chuyển quan trọng: từ ban hành chính sách sang tổ chức thực thi chính sách theo hướng hệ thống. Với cấu trúc gồm nhóm nhiệm vụ nền tảng đến năm 2026, các trục triển khai đến năm 2030 và lộ trình hoàn thiện thể chế đồng bộ, Kế hoạch không chỉ là một chương trình hành động, mà là bản thiết kế cho hệ thống quản trị môi trường hiện đại. Trong dài hạn, hiệu quả của Kế hoạch này sẽ không chỉ được đo bằng mức độ cải thiện môi trường, mà còn ở khả năng tạo ra một mô hình phát triển mới - nơi môi trường trở thành nền tảng của tăng trưởng bền vững và năng lực cạnh tranh quốc gia.

TTTT