Nghệ An mở lối “tam nông”: Tư duy mới, động lực mới cho chặng đường đến 2030

Nghệ An mở lối “tam nông”: Tư duy mới, động lực mới cho chặng đường đến 2030

Thứ ba, 3/3/2026, 07:17 (GMT+7)
logo Triển khai Nghị quyết số 19-NQ/TW và Kết luận số 219-KL/TW của Trung ương, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Nghệ An đã ban hành Chương trình hành động với 7 nhóm nhiệm vụ trọng tâm, đặt nông nghiệp, nông dân và nông thôn vào vị trí chiến lược lâu dài trong tiến trình phát triển của tỉnh.

Trọng tâm xuyên suốt của Chương trình khẳng định “tam nông” không chỉ là bệ đỡ an sinh mà còn là nền tảng bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô và tăng trưởng bền vững. Tư duy sản xuất nhỏ lẻ, manh mún sẽ được thay bằng cách tiếp cận hàng hóa quy mô lớn, gắn với thị trường. Nghệ An định hướng tái cơ cấu ngành theo hướng nông nghiệp xanh, hữu cơ, tuần hoàn, phát thải thấp; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ cao, chuyển đổi số toàn diện và khai thác đúng lợi thế từng vùng. Dù đổi mới theo hướng nào, yêu cầu bảo đảm an ninh lương thực trong mọi tình huống vẫn là nguyên tắc xuyên suốt.

tam-nong_1771811610.jpg
Nhìn chung, mặt bằng đời sống của người dân Nghệ An ngày một nâng lên

Cùng với đó, các quy định về dân chủ cơ sở sẽ được thực hiện thực chất hơn, để người dân thật sự “biết, bàn, làm, kiểm tra, giám sát và thụ hưởng”. Khi người nông dân trở thành chủ thể, quá trình phát triển mới bền vững.

Về cơ chế, tỉnh đặt mục tiêu hoàn thiện các chính sách mang tính đột phá, kịp thời cụ thể hóa chủ trương của Trung ương, tạo động lực mới cho tái cơ cấu ngành và xây dựng nông thôn mới. Nghệ An cũng tính toán các ưu đãi đủ mạnh để thu hút doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp sinh thái, kinh tế tuần hoàn; đồng thời nghiên cứu cơ chế thúc đẩy “xuất khẩu ngành nông nghiệp”, nâng cao năng lực cạnh tranh, giá trị gia tăng và vị thế nông sản địa phương trên thị trường quốc tế.

Những mô hình sản xuất dựa trên khoa học – công nghệ cao, đổi mới sáng tạo sẽ được ưu tiên thí điểm với cơ chế vượt trội, coi đây là động lực then chốt cho tăng trưởng nhanh và bền vững. Tái cơ cấu ngành không chỉ dừng ở cây trồng, vật nuôi phù hợp thị trường, mà còn tổ chức lại sản xuất theo hướng chuyên môn hóa, chuyên nghiệp hóa, tăng cường liên kết chặt chẽ giữa nông dân – Nhà nước – nhà đầu tư – ngân hàng – nhà khoa học – nhà phân phối. Mục tiêu đến năm 2030, Nghệ An có những doanh nghiệp nông nghiệp đủ mạnh để dẫn dắt chuỗi giá trị và xây dựng thương hiệu chủ lực.

nong-nghiep-thong-minh5_1771811704.jpg
“Tam nông” không chỉ là bệ đỡ an sinh mà còn là nền tảng bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô và tăng trưởng bền vững.

Song song đó là xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu đồng bộ về đất đai, tài nguyên nước, rừng, khoáng sản, khí tượng thủy văn, đa dạng sinh học; phát triển kinh tế lâm nghiệp đa giá trị, khai thác thủy sản bền vững gắn với bảo vệ hệ sinh thái.

Một trụ cột quan trọng khác là nâng cao trình độ và tư duy sản xuất hiện đại cho nông dân. Người nông dân sẽ được hỗ trợ đào tạo, chuyển giao công nghệ, tiếp cận tín dụng xanh, bảo hiểm nông nghiệp, từng bước hình thành tác phong sản xuất chuyên nghiệp, chủ động trước biến động thị trường, thiên tai, dịch bệnh. Nguồn nhân lực ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, ven biển và hải đảo được ưu tiên bồi dưỡng.

Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số tiếp tục được đẩy mạnh theo hướng hiện đại, giàu bản sắc và bền vững. Quy hoạch đô thị và nông thôn sẽ được rà soát đồng bộ, bảo đảm kết nối hài hòa theo tinh thần “làng trong phố, phố trong làng”, mở rộng không gian và dư địa phát triển.

Về kết quả xây dựng nông thôn mới, trước thời điểm áp dụng mô hình chính quyền 2 cấp, toàn tỉnh có 275/362 xã đạt chuẩn NTM (75,96%), trong đó 102 xã đạt chuẩn NTM nâng cao, 16 xã đạt chuẩn NTM kiểu mẫu; có 10 đơn vị cấp huyện đạt chuẩn/hoàn thành nhiệm vụ xây dựng NTM. Thu nhập bình quân đầu người khu vực nông thôn đạt 47,184 triệu đồng/người/năm, tăng 11,684 triệu đồng so với năm 2021; tỷ lệ giảm nghèo bình quân 1,16%/năm.

Các chính sách, dự án hỗ trợ giảm nghèo được tập trung triển khai, ưu tiên các địa bàn khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi. Nhiều nội dung hỗ trợ thiết thực phát huy hiệu quả rõ nét như: hỗ trợ đa dạng hóa sinh kế, phát triển sản xuất; hỗ trợ đào tạo nghề, giải quyết việc làm; hỗ trợ nhà ở cho hộ nghèo, hộ cận nghèo; đầu tư phát triển hạ tầng kinh tế – xã hội tại các huyện nghèo (cũ).

Kết quả giảm nghèo cơ bản đạt mục tiêu đề ra của cả giai đoạn 2021- 2025. Ước đến cuối năm 2025, tỷ lệ hộ nghèo toàn tỉnh còn khoảng 3,66%; tỷ lệ hộ nghèo khu vực miền núi còn 8,66%. Tỷ lệ hộ nghèo đồng bào dân tộc thiểu số giảm bình quân khoảng 3,89%/năm. Đời sống của người nghèo từng bước được cải thiện, khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội của người dân tiếp tục được nâng lên.

Song song với các nhiệm vụ được đề ra trong Chương trình hành động, vấn đề về hạ tầng nông nghiệp, thủy lợi, phòng chống thiên tai, nước sạch và môi trường cũng được tỉnh đặc biệt chú trọng đầu tư theo hướng hiện đại, đa mục tiêu, đồng bộ với các hạ tầng chiến lược khác. Đẩy mạnh chuyển đổi số theo Nghị quyết số 57-NQ/TW và phấn đấu nâng mức đầu tư ngân sách cho nông nghiệp, nông thôn giai đoạn 2021–2030 lên ít nhất gấp đôi so với giai đoạn trước.

bai-1_1771812001.jpg
Đẩy mạnh thực hiện phong trào nông dân thi đua sản xuất, kinh doanh giỏi, đoàn kết giúp nhau làm giàu và giảm nghèo bền vững góp phần nâng cao đời sống và thay đổi diện mạo vùng nông thôn

Tất cả các giải pháp đều hướng đến mục tiêu phát triển hài hòa giữa kinh tế nông nghiệp và bảo vệ môi trường sinh thái, quản lý bền vững tài nguyên, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu để nông thôn Nghệ An không chỉ là “trụ đỡ”, mà thực sự trở thành không gian phát triển năng động trong chặng đường mới.

Sau hơn 03 năm triển khai việc thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TW đã đạt được nhiều kết quả tích cực, có ý nghĩa quan trọng bảo đảm an ninh lương thực, ổn định vĩ mô, tăng trưởng kinh tế, nâng cao đời sống người dân ở nông thôn. Bên cạnh đó, vẫn còn nhiều hạn chế, yếu kém như: Tăng trưởng khu vực nông nghiệp còn thiếu bền vững, năng suất, chất lượng và năng lực cạnh tranh một số sản phẩm chưa cao; nhiều khâu trong sản xuất nông nghiệp chưa ứng dụng sâu các thành tựu khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh; thu nhập của phần lớn nông dân còn thấp và chịu nhiều rủi ro do thiên tai, dịch bệnh và biến động thị trường; nhân lực làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp và ở nông thôn vừa thiếu, vừa yếu; tình trạng ô nhiễm môi trường ở nông thôn chậm được khắc phục, thậm chí ở một số nơi còn gia tăng ở mức nghiêm trọng... Vì thế, Chương trình hành động số 12-CTr/TU được ban hành nhằm khắc phục những hạn chế nêu trên.

Bùi Ánh