news
Nghị định 180/2026/NĐ-CP: Mở hành lang pháp lý cho tín chỉ các-bon rừng đi vào thị trường

Nghị định 180/2026/NĐ-CP: Mở hành lang pháp lý cho tín chỉ các-bon rừng đi vào thị trường

Thứ ba, 14/7/2026, 09:01 (GMT+7)
logo Nghị định số 180/2026/NĐ-CP của Chính phủ quy định về dịch vụ hấp thụ và lưu giữ các-bon của rừng mở ra một hành lang pháp lý mới cho việc hình thành, quản lý và giao dịch tín chỉ các-bon rừng tại Việt Nam. Từ xây dựng dự án CO₂ rừng, đo đạc, báo cáo, thẩm định, cấp tín chỉ, xác nhận lượng tín chỉ được cung ứng, đến quản lý nguồn thu và tổ chức trao đổi, chuyển nhượng, chính sách mới hướng tới mục tiêu đưa giá trị hấp thụ các-bon của rừng trở thành nguồn lực tài chính xanh, minh bạch, có trách nhiệm và quay trở lại phục vụ rừng, người giữ rừng.
hoinghiphobiennghidinh180-09395007_1783525256.jpg
Ngày 2/7, Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm tổ chức Hội nghị phổ biến Nghị định số 180/2026/NĐ-CP của Chính phủ quy định về dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng. Đây được đánh giá là dấu mốc quan trọng trong việc hoàn thiện hành lang pháp lý, tạo nền tảng phát triển thị trường các -bon rừng và huy động nguồn lực mới cho công tác bảo vệ, phát triển rừng.

Từ giá trị sinh thái của rừng đến nguồn lực tài chính xanh

Trong nhiều năm, rừng thường được nhìn nhận trước hết qua các giá trị truyền thống: phòng hộ đầu nguồn, bảo tồn đa dạng sinh học, cung cấp gỗ, lâm sản ngoài gỗ, tạo sinh kế cho cộng đồng miền núi và góp phần giữ cân bằng sinh thái. Tuy nhiên, trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng trở thành thách thức phát triển, rừng còn được nhìn nhận như một “hạ tầng tự nhiên” có khả năng hấp thụ, lưu giữ các-bon, tạo ra kết quả giảm phát thải khí nhà kính có thể đo đếm, xác minh và giao dịch theo cơ chế thị trường.

Nghị định số 180/2026/NĐ-CP ra đời trong bối cảnh đó, đánh dấu bước chuyển quan trọng từ việc ghi nhận giá trị môi trường của rừng sang lượng hóa, quản lý và đưa giá trị ấy tham gia thị trường các-bon theo khuôn khổ pháp lý. Mới đây, Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm đã tổ chức Hội nghị phổ biến Nghị định số 180/2026/NĐ-CP của Chính phủ quy định về dịch vụ hấp thụ và lưu giữ các-bon của rừng (ngày 02/7/2026). Hội nghị có sự tham gia trực tiếp của đại diện các bộ, ngành, cơ quan Trung ương, tổ chức quốc tế tại Việt Nam, hiệp hội, doanh nghiệp, công ty trong lĩnh vực lâm nghiệp, đơn vị nghiên cứu, đào tạo, một số nhà khoa học, chuyên gia và đại diện địa phương. Điều này cho thấy, Nghị định 180 không chỉ là văn bản chuyên ngành lâm nghiệp, mà còn là chính sách liên quan trực tiếp đến quản trị rừng, tài chính khí hậu, thị trường các-bon, địa phương và người giữ rừng.

Về cấu trúc, Nghị định được thiết kế với 4 chương, 20 điều và 6 phụ lục. Các nhóm nội dung chính gồm: quy định chung; triển khai dự án CO₂ rừng, xác định kết quả giảm phát thải, tín chỉ CO₂ rừng được cung ứng; quản lý, sử dụng nguồn thu; và tổ chức thực hiện. Sáu phụ lục kèm theo bao gồm mẫu cam kết tự nguyện tham gia dự án CO₂ rừng; mẫu đăng ký, điều chỉnh, hủy đăng ký dự án CO₂ rừng; hướng dẫn phân bổ mục tiêu giảm phát thải khí nhà kính do quốc gia tự quyết định; mẫu hợp đồng trao đổi, chuyển nhượng; xác định số tiền điều phối; mẫu kế hoạch tài chính và báo cáo kết quả.

Điểm đáng chú ý là Nghị định không chỉ điều chỉnh một khâu riêng lẻ của thị trường các-bon rừng, mà bao quát toàn bộ chuỗi vận hành: từ đối tượng, hình thức, mức chi trả; quản lý, sử dụng tiền; xây dựng dự án CO₂ rừng; xác định kết quả giảm phát thải; đến tín chỉ CO₂ rừng được cung ứng. Đối tượng áp dụng cũng được xác định rộng, gồm cơ quan nhà nước, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng dân cư có liên quan.

Về nguyên tắc, chính sách mới đặt yêu cầu bảo đảm công khai, minh bạch, có trách nhiệm, hài hòa lợi ích; đồng thời không làm ảnh hưởng đến việc thực hiện cam kết quốc tế về giảm phát thải khí nhà kính của Việt Nam. Đặc biệt, kết quả giảm phát thải, tín chỉ CO₂ rừng đã được trao đổi, chuyển nhượng thì không được tiếp tục trao đổi, chuyển nhượng cho bên khác. Quy định này có ý nghĩa như một “van khóa” pháp lý nhằm phòng ngừa nguy cơ tính trùng, bán trùng hoặc sử dụng trùng tín chỉ trên thị trường.

Trong thị trường các-bon, uy tín của mỗi tín chỉ phụ thuộc vào khả năng chứng minh rằng một tấn CO₂ tương đương đã được giảm phát thải hoặc tăng hấp thụ một cách thực chất, có thể kiểm chứng, không bị tính hai lần và không làm suy giảm trách nhiệm thực hiện cam kết khí hậu quốc gia. Vì vậy, Nghị định 180/2026/NĐ-CP không chỉ mở ra không gian giao dịch mới, mà còn đặt ra kỷ luật thị trường ngay từ đầu: tín chỉ phải có nguồn gốc, phải có quy trình, phải được xác nhận và phải gắn với trách nhiệm của bên cung ứng, bên sử dụng.

tin-chi-carbon-cua-viet-nam-17377152788941581270277_1783525539.webp
Theo thống kê dữ liệu từ hai tổ chức Gold Standard và Verra, Việt Nam hiện có 116 dự án đăng ký, chờ xác thực hoặc đạt chứng nhận tín chỉ carbon. Trong đó, 40 dự án đã được chứng nhận, với 10,7 triệu tín chỉ phát hành hàng năm. 

Mở đường cho cung ứng, sử dụng và chuyển nhượng tín chỉ các-bon rừng

Nghị định số 180/2026/NĐ-CP mở rộng phạm vi các hoạt động có thể tạo tín chỉ các-bon rừng. Các hoạt động này bao gồm hạn chế mất rừng và suy thoái rừng; bảo tồn và nâng cao trữ lượng các-bon rừng; quản lý rừng bền vững; trồng rừng, xúc tiến tái sinh rừng tự nhiên; làm giàu rừng, nuôi dưỡng rừng tự nhiên; nâng cao năng suất, kéo dài chu kỳ kinh doanh rừng trồng; canh tác lâm nông kết hợp và trồng cây phân tán.

Cách tiếp cận này cho thấy, chính sách các-bon rừng không chỉ khuyến khích trồng thêm rừng mới, mà còn coi trọng bảo vệ, phục hồi và nâng cao chất lượng rừng hiện có. Đây là điểm phù hợp với thực tiễn lâm nghiệp Việt Nam, nơi giá trị của rừng không chỉ nằm ở diện tích, mà còn ở chất lượng, trạng thái, mức độ phục hồi, khả năng duy trì sinh kế và năng lực hấp thụ các-bon lâu dài.

Ở chiều cung ứng, chủ rừng, UBND cấp xã và các tổ chức được giao quản lý rừng được đặt vào vai trò trung tâm của quá trình xây dựng, đăng ký, đo đạc, báo cáo, thẩm định và cấp tín chỉ các-bon rừng theo tiêu chuẩn các-bon rừng. Bên cung ứng hoặc đại diện phải thực hiện nghĩa vụ đóng góp vào mục tiêu NDC và nghĩa vụ tài chính. Việc cung ứng được thực hiện thông qua hợp đồng hoặc trên sàn giao dịch các-bon; song chỉ được trao đổi, chuyển nhượng sau khi Bộ Nông nghiệp và Môi trường xác nhận lượng kết quả giảm phát thải hoặc tín chỉ được cung ứng.

Ở chiều sử dụng, nhóm chủ thể có thể sử dụng kết quả giảm phát thải hoặc tín chỉ các-bon rừng gồm cơ sở phát thải khí nhà kính sử dụng để bù trừ hạn ngạch phát thải vượt mức, với mức tối đa 30%; tổ chức, cá nhân có nhu cầu; và tổ chức, cá nhân nước ngoài. Bên sử dụng phải có hoạt động hợp pháp, thực hiện đúng hợp đồng hoặc quy định của sàn giao dịch các-bon và hoàn thành nghĩa vụ tài chính.

Như vậy, Nghị định đã tạo ra sự kết nối giữa khu vực lâm nghiệp với thị trường các-bon trong nước và quốc tế. Ở trong nước, tín chỉ các-bon rừng có thể trở thành công cụ hỗ trợ các cơ sở phát thải thực hiện nghĩa vụ bù trừ trong giới hạn được phép. Ở bình diện quốc tế, tín chỉ các-bon rừng có thể tham gia các cơ chế theo Thỏa thuận Paris hoặc các tiêu chuẩn các-bon độc lập, nhưng phải bảo đảm quy trình xác nhận, chấp thuận chuyển giao và điều chỉnh tương ứng theo quy định.

Nghị định cũng xác lập các hệ tiêu chuẩn có thể áp dụng. Với tiêu chuẩn quốc tế, có các hướng như Thỏa thuận Điều 6.2, Cơ chế Điều 6.4 của Thỏa thuận Paris và tiêu chuẩn các-bon rừng quốc tế độc lập. Với tiêu chuẩn trong nước, Tiêu chuẩn quốc gia về các-bon rừng do Bộ Nông nghiệp và Môi trường xây dựng, Bộ Khoa học và Công nghệ công bố. Ngoài ra, phương pháp do tổ chức, cá nhân đề xuất, trình Bộ Nông nghiệp và Môi trường công nhận, sẽ được áp dụng từ ngày 1/1/2028.

Đối với rừng thuộc sở hữu toàn dân, chủ rừng là tổ chức có thể tự thực hiện hoặc hợp tác, liên kết; chủ rừng là cá nhân, hộ gia đình, cộng đồng có thể hợp tác, liên kết với tổ chức khác có tư cách pháp nhân. Với rừng trong phạm vi một tỉnh, cơ quan chuyên môn được UBND cấp tỉnh phân công; với rừng trên địa bàn từ hai tỉnh trở lên, cơ quan chuyên môn được Bộ Nông nghiệp và Môi trường phân công. Đối với rừng không thuộc sở hữu toàn dân, chủ rừng có thể tự thực hiện, hợp tác, liên kết với chủ rừng khác hoặc ủy quyền cho tổ chức có tư cách pháp nhân.

Quy trình từ tạo kết quả giảm phát thải, phát hành tín chỉ đến thị trường được thiết kế theo hướng phân cấp nhưng có kiểm soát. Với tiêu chuẩn trong nước, dự án thực hiện trên địa bàn từ hai tỉnh trở lên do Bộ Nông nghiệp và Môi trường phê duyệt, cấp tài khoản và công bố trên hệ thống đăng ký; dự án thực hiện trong phạm vi một tỉnh do UBND cấp tỉnh phê duyệt, cấp tài khoản và công bố. Việc đo đạc, báo cáo, thẩm định kết quả giảm phát thải là yêu cầu bắt buộc trước khi cấp tín chỉ. Với tiêu chuẩn quốc tế, việc phê duyệt, cấp hoặc công nhận tín chỉ thực hiện theo quy định của cơ chế Điều 6.4 hoặc tổ chức quản lý tiêu chuẩn quốc tế độc lập; đồng thời Bộ Nông nghiệp và Môi trường xác nhận kết quả giảm phát thải, tín chỉ các-bon rừng được cung ứng.

Ở khía cạnh kỹ thuật, hành lang pháp lý này cần được nâng đỡ bởi các chuẩn mực đo đạc, báo cáo, thẩm định và xác minh. Theo ông Vũ Tấn Phương, Giám đốc Trung tâm Chứng nhận Quản lý rừng bền vững (VFCC), Dự thảo Tiêu chuẩn quốc gia “Tín chỉ các-bon rừng - Các yêu cầu” quy định các yêu cầu đối với tín chỉ các-bon rừng tạo ra từ dự án các-bon trong lĩnh vực lâm nghiệp và sử dụng đất. Nội dung chính của dự thảo gồm phạm vi áp dụng, yêu cầu đối với tín chỉ các-bon rừng, yêu cầu đối với dự án các-bon, đo đạc - báo cáo phát thải khí nhà kính và hấp thụ các-bon, bảo đảm an toàn môi trường - xã hội, thẩm định và xác minh.

Theo ông Vũ Tấn Phương, một tín chỉ các-bon rừng muốn được công nhận phải được tạo ra từ dự án hợp lệ trong lĩnh vực lâm nghiệp và sử dụng đất; tuân thủ quy định về xây dựng, đăng ký dự án và tiêu chuẩn các-bon áp dụng; tuân thủ phương pháp luận IPCC về tính toán các-bon; được bên thứ ba độc lập, đủ điều kiện thẩm định và xác minh; đồng thời được đăng ký, cấp theo quy định. Dự thảo cũng xác định 5 nhóm dự án các-bon rừng gồm: REDD+; trồng rừng mới hoặc xúc tiến tái sinh tự nhiên; nuôi dưỡng rừng tự nhiên, làm giàu rừng; nâng cao năng suất, kéo dài chu kỳ kinh doanh rừng trồng; canh tác nông lâm kết hợp và cây phân tán.

Có thể nói, nếu Nghị định 180/2026/NĐ-CP là “khung pháp lý” thì tiêu chuẩn các-bon rừng quốc gia và hệ thống MRV là “hạ tầng kỹ thuật” để tín chỉ các-bon rừng có thể bước vào thị trường một cách đáng tin cậy. Một thị trường chỉ có thể vận hành bền vững khi cả ba trụ cột cùng được thiết lập: quyền cung ứng rõ ràng, quy trình giao dịch minh bạch và chất lượng tín chỉ có thể kiểm chứng.

phuong-xl-1_1783525818.png

Dòng tiền các-bon phải quay trở lại với rừng và người giữ rừng

Một trong những nội dung có ý nghĩa chính sách lớn của Nghị định 180 là quy định về mức chi trả, hình thức chi trả và quản lý, sử dụng nguồn thu từ dịch vụ hấp thụ, lưu giữ các-bon của rừng.

Nghị định xác lập hai hình thức chi trả: chi trả trực tiếp theo hợp đồng hoặc sàn giao dịch CO₂; và chi trả gián tiếp thông qua Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng theo hợp đồng hoặc sàn giao dịch CO₂. Bộ Nông nghiệp và Môi trường hướng dẫn phương pháp xác định mức chi trả đối với rừng thuộc sở hữu toàn dân. Chủ rừng, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, UBND cấp tỉnh xác định mức chi trả theo phương pháp này; giá trao đổi, chuyển nhượng trên sàn hoặc theo hợp đồng không thấp hơn mức chi trả.

Nguyên tắc xác định mức chi trả đối với rừng thuộc sở hữu toàn dân được đặt trên ba nhóm căn cứ: bù đắp các chi phí liên quan đến xây dựng, đăng ký, MRV; hỗ trợ chi phí bảo vệ và phát triển rừng, phát triển sinh kế; thực hiện nghĩa vụ tài chính và các chi phí hợp pháp khác nếu có. Mức chi trả cũng phải phù hợp quan hệ cung cầu, điều kiện thị trường và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của các bên liên quan.

Cách thiết kế này cho thấy chính sách không chỉ tập trung vào khâu “bán tín chỉ”, mà còn đặt trọng tâm vào việc dòng tiền sau giao dịch phải được quản lý, sử dụng đúng mục tiêu. Đối với rừng thuộc sở hữu toàn dân, chủ rừng là tổ chức sử dụng nguồn thu ưu tiên hỗ trợ bảo vệ và phát triển rừng, sinh kế cho cộng đồng dân cư, xây dựng dự án CO₂, đo đạc, báo cáo, thẩm định và cơ sở dữ liệu ngành lâm nghiệp.

Đây là thiết kế quan trọng để tránh tình trạng thị trường các-bon chỉ tạo lợi ích cho các chủ thể trung gian, trong khi cộng đồng trực tiếp giữ rừng lại không được hưởng lợi tương xứng. Với cơ chế này, tín chỉ các-bon rừng không chỉ là một đơn vị giao dịch trên thị trường, mà còn là công cụ tái đầu tư cho bảo vệ rừng, nâng cao sinh kế và tăng cường năng lực quản trị lâm nghiệp.

Đối với nguồn thu từ hình thức chi trả trực tiếp, bên cung ứng có quyền quyết định sử dụng nguồn thu sau khi thực hiện nghĩa vụ tài chính. Trường hợp bên cung ứng là tổ chức, tiền thu được sau khi trừ các chi phí xây dựng, thực hiện dự án, trao đổi, chuyển nhượng, chi trả bên nhận khoán bảo vệ rừng, hỗ trợ cộng đồng dân cư vùng đệm, phần còn lại là nguồn thu của đơn vị và được quản lý, sử dụng theo quy định.

Nguồn thu từ dịch vụ hấp thụ và lưu giữ các-bon của rừng cũng được định hướng cho nhiều nhóm hoạt động thiết yếu: xây dựng, đăng ký dự án CO₂ rừng; MRV; cấp tín chỉ; điều tra, kiểm kê rừng, trữ lượng CO₂; thực thi pháp luật; giải quyết khiếu nại; xây dựng cơ sở dữ liệu lâm nghiệp; mua sắm thiết bị, vật tư bảo vệ rừng, phòng cháy, chữa cháy rừng; hỗ trợ sinh kế, bảo tồn đa dạng sinh học, khuyến nông, khuyến lâm và thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm. Cách phân bổ này cho thấy mục tiêu cuối cùng của thị trường các-bon rừng không phải chỉ là tạo doanh thu, mà là tạo vòng tuần hoàn tài chính để rừng được bảo vệ tốt hơn, chủ rừng và cộng đồng có thêm nguồn lực phát triển bền vững.

Nói cách khác, Nghị định 180 đặt ra một nguyên tắc xuyên suốt: tín chỉ các-bon rừng chỉ có ý nghĩa phát triển bền vững nếu nguồn thu từ tín chỉ quay trở lại phục vụ rừng, người giữ rừng và năng lực quản trị lâm nghiệp. Đây cũng là điểm khác biệt giữa một giao dịch tài chính đơn thuần với một cơ chế chi trả dịch vụ hệ sinh thái có trách nhiệm.

Ở cấp quốc gia, Nghị định còn gắn cung ứng tín chỉ với phân bổ mục tiêu giảm phát thải khí nhà kính do quốc gia tự quyết định. Trình tự phân bổ được thiết kế theo hướng: Thủ tướng Chính phủ phê duyệt mục tiêu giảm phát thải trong NDC; Bộ Nông nghiệp và Môi trường phân bổ mục tiêu giảm phát thải lĩnh vực lâm nghiệp cho địa phương; UBND cấp tỉnh phân bổ mục tiêu giảm phát thải lĩnh vực lâm nghiệp cho chủ rừng, UBND cấp xã và tổ chức khác. Tiêu chí phân bổ gồm diện tích rừng, hệ số điều chỉnh tương ứng với kết quả đóng góp giảm phát thải theo nguồn gốc hình thành rừng, trạng thái rừng và hệ số điều chỉnh theo tỷ lệ biến động rừng tự nhiên.

Cách thiết kế này giúp kết nối thị trường các-bon rừng với trách nhiệm thực hiện mục tiêu khí hậu quốc gia. Điều đó có nghĩa, tín chỉ các-bon rừng không thể tách khỏi “sổ cái” giảm phát thải của quốc gia, không thể tách khỏi NDC và cũng không thể vận hành ngoài hệ thống theo dõi, xác nhận của cơ quan quản lý nhà nước.

dsc08017_1783525998.jpg
Việc chuyển nhượng tín chỉ carbon phải bảo đảm không ảnh hưởng đến việc thực hiện các cam kết giảm phát thải quốc gia và không để một kết quả giảm phát thải hoặc tín chỉ carbon bị chuyển nhượng nhiều lần.

Từ hành lang pháp lý đến năng lực thực thi

Một chính sách mới chỉ thật sự đi vào cuộc sống khi có kế hoạch triển khai cụ thể và có sự tham gia của các chủ thể thực thi. Với Nghị định 180/2026/NĐ-CP, điều này được thể hiện rõ qua Hội nghị phổ biến Nghị định do Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm tổ chức ngày 02/7/2026 tại Bộ Nông nghiệp và Môi trường. Hội nghị không chỉ dành cho cơ quan quản lý nhà nước, mà còn có sự tham dự của các bộ, ngành, tổ chức quốc tế, hiệp hội, doanh nghiệp, đơn vị nghiên cứu, đào tạo, nhà khoa học, chuyên gia và đại diện địa phương. Đặc biệt, thành phần trực tuyến được mở tới Sở Nông nghiệp và Môi trường, Chi cục Kiểm lâm, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng cấp tỉnh, UBND cấp xã và chủ rừng. Đây chính là những chủ thể sẽ trực tiếp tham gia hoặc chịu tác động trong quá trình xây dựng dự án CO₂ rừng, đo đạc, báo cáo, thẩm định, cấp tín chỉ, quản lý nguồn thu và tổ chức giao dịch trên thị trường.

Những nội dung được bàn thảo nêu ra trong Hội nghị cũng cho thấy, cách tiếp cận triển khai Nghị định theo hướng đồng bộ giữa pháp lý, kỹ thuật và thực tiễn. Đáng chú ý, chương trình dành thời lượng riêng để Trung tâm Chứng nhận Quản lý rừng bền vững chia sẻ về nội dung dự thảo Tiêu chuẩn các-bon rừng quốc gia, trước khi bước vào phiên thảo luận chung, trao đổi và giải đáp ý kiến.

Cấu trúc này cho thấy quá trình đưa tín chỉ các-bon rừng vào thị trường không thể chỉ dựa vào khung pháp lý, mà cần đồng thời hoàn thiện tiêu chuẩn kỹ thuật, cơ chế đo đạc - báo cáo - thẩm định, năng lực thực thi của địa phương và sự tham gia của chủ rừng, doanh nghiệp, chuyên gia. Đây cũng là lý do Nghị định số 180 cần được nhìn nhận như một bước mở đường, còn quá trình triển khai sẽ quyết định mức độ thành công của thị trường các-bon rừng trong thực tế.

Kế hoạch triển khai Nghị định xác định các nhóm nhiệm vụ lớn, gồm tuyên truyền, phổ biến, hướng dẫn; rà soát, xây dựng văn bản pháp luật và hướng dẫn kỹ thuật; đàm phán, ký kết hợp đồng và tổ chức trao đổi, chuyển nhượng kết quả giảm phát thải, tín chỉ các-bon rừng; huy động nguồn lực, thúc đẩy hợp tác quốc tế; theo dõi, giám sát, đánh giá; sơ kết, tổng kết, kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc; và theo dõi thi hành pháp luật. Các mốc triển khai được đặt từ quý III, quý IV/2026 và kéo dài đến giai đoạn 2026-2028 đối với một số nhóm nhiệm vụ.

Trong nhóm nhiệm vụ tuyên truyền, phổ biến, hướng dẫn, các hoạt động được định hướng gồm tổ chức hội nghị triển khai Nghị định toàn quốc; tổ chức hội nghị, hội thảo chuyên đề về xây dựng, đăng ký dự án, MRV, xác định mức chi trả, quản lý và sử dụng nguồn thu; đồng thời tổ chức các hoạt động truyền thông phù hợp. Nhóm nhiệm vụ này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, bởi thị trường các-bon rừng là lĩnh vực mới, đòi hỏi chủ rừng, địa phương, doanh nghiệp, cơ quan quản lý và cộng đồng cùng hiểu đúng về quyền, nghĩa vụ, quy trình và giới hạn pháp lý.

Tiếp đó là rà soát, xây dựng văn bản pháp luật và hướng dẫn kỹ thuật. Các nội dung cần triển khai gồm Thông tư về phương pháp xác định mức chi trả; kế hoạch thực hiện NDC lâm nghiệp, xác định tiềm năng và phân bổ mục tiêu giảm phát thải; công bố tiêu chuẩn CO₂ rừng quốc gia; hướng dẫn xây dựng, đăng ký dự án, MRV, cấp và xác nhận tín chỉ; cơ sở dữ liệu về kết quả giảm phát thải ngành lâm nghiệp, giá trao đổi, chuyển nhượng; rà soát, công bố và cập nhật danh mục phương pháp tạo tín chỉ các-bon rừng có điều chỉnh tương ứng.

Bên cạnh kế hoạch triển khai, những khoảng trống cần hoàn thiện sớm cũng đã được nhận diện, gồm: hướng dẫn phương pháp xác định mức chi trả; công bố Tiêu chuẩn các-bon rừng quốc gia; công nhận phương pháp tạo tín chỉ các-bon thuộc các tiêu chuẩn các-bon độc lập quốc tế để chuyển giao quốc tế có điều chỉnh tương ứng; hướng dẫn xây dựng, đăng ký, đo đạc, báo cáo, thẩm định, cấp tín chỉ; phân bổ mục tiêu giảm phát thải cho địa phương và chủ rừng.

Đây là những công việc có tính quyết định. Nghị định đã tạo khuôn khổ pháp lý, nhưng để tín chỉ các-bon rừng thực sự đi vào thị trường, cần tiếp tục hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật, cơ sở dữ liệu, hướng dẫn định giá, quy trình đăng ký, quy trình xác nhận và cơ chế giám sát. Nếu thiếu dữ liệu, thị trường dễ rơi vào tình trạng khó kiểm chứng. Nếu thiếu hệ thống đăng ký, nguy cơ trùng lặp và tranh chấp quyền lợi sẽ tăng lên. Nếu thiếu hướng dẫn kỹ thuật, các địa phương, chủ rừng, cộng đồng và doanh nghiệp sẽ khó chuyển tiềm năng hấp thụ các-bon thành tín chỉ có thể giao dịch.

Theo ông Vũ Tấn Phương, Dự thảo TCVN về tín chỉ các-bon rừng đặt ra yêu cầu đối với dự án các-bon, gồm tuân thủ quy định về đăng ký xây dựng, đăng ký dự án và tiêu chuẩn áp dụng; có quyền sử dụng hợp pháp đối với đất và rừng; tuân thủ pháp luật về quản lý đất, bảo vệ và phát triển rừng, bảo vệ môi trường; ranh giới vùng dự án rõ ràng trên bản đồ; có tính bổ sung; không trùng lặp; thông tin phục vụ tính toán các-bon phải đầy đủ, chính xác, nhất quán và minh bạch; ưu tiên dự án có đồng lợi ích, liên vùng.

Các yêu cầu về đo đạc, báo cáo phát thải và hấp thụ các-bon cũng được quy định cho từng loại dự án, gồm xác định bể các-bon, nguồn phát thải, loại khí nhà kính; xây dựng dữ liệu hoạt động; xây dựng, lựa chọn hệ số phát thải; xác định mức tham chiếu; tính toán phát thải, hấp thụ giai đoạn báo cáo; xác định lượng giảm phát thải, tăng hấp thụ các-bon; đánh giá độ không chắc chắn; đánh giá nguy cơ rò rỉ, dịch chuyển, đảo nghịch phát thải; xác định lượng dự phòng và lượng tín chỉ cho giao dịch.

Những yêu cầu kỹ thuật này cho thấy, thị trường các-bon rừng không thể vận hành bằng những tuyên bố chung về tiềm năng hấp thụ các-bon của rừng. Mỗi tín chỉ muốn có giá trị phải đi qua quy trình đo đếm, kiểm chứng, thẩm định, xác minh và đăng ký. Đó cũng là cách bảo vệ uy tín của tín chỉ các-bon rừng Việt Nam khi tham gia thị trường trong nước và quốc tế.

Nhìn tổng thể, Nghị định 180/2026/NĐ-CP không chỉ mở ra một thị trường mới, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới quản trị lâm nghiệp. Từ nay, bảo vệ rừng không chỉ gắn với tuần tra, khoán bảo vệ, phòng cháy chữa cháy hay trồng rừng thay thế, mà còn gắn với đo đếm các-bon, quản lý dữ liệu, xác nhận kết quả giảm phát thải, hợp đồng chuyển nhượng và trách nhiệm tài chính. Đây là sự dịch chuyển lớn, đòi hỏi cơ quan quản lý, địa phương, chủ rừng, cộng đồng và doanh nghiệp cùng tham gia trên một nền tảng pháp lý rõ ràng.

Điều quan trọng nhất là thị trường các-bon rừng không được vận hành như một “cuộc đua bán tín chỉ”, mà phải trở thành cơ chế huy động nguồn lực dài hạn cho bảo vệ và phát triển rừng. Khi Nghị định 180 yêu cầu công khai, minh bạch, hài hòa lợi ích; khi nguồn thu được định hướng quay trở lại bảo vệ rừng, sinh kế cộng đồng và cơ sở dữ liệu ngành lâm nghiệp; khi tín chỉ chỉ được cung ứng sau xác nhận của cơ quan có thẩm quyền, đó chính là những điều kiện cần để tín chỉ các-bon rừng Việt Nam đi vào thị trường một cách thận trọng, có trách nhiệm và có uy tín.

Nghị định 180 vì vậy có thể được nhìn nhận như một bước chuyển chính sách quan trọng: từ “tiềm năng các-bon rừng” sang “tài sản môi trường được quản lý bằng pháp luật”; từ “giá trị vô hình của rừng” sang “nguồn lực có thể lượng hóa”; và từ “bảo vệ rừng bằng ngân sách là chủ yếu” sang huy động thêm nguồn lực thị trường dưới sự kiểm soát của Nhà nước, sự tham gia của chủ rừng và sự hưởng lợi của cộng đồng. Đây là hành lang pháp lý cần thiết để tín chỉ các-bon rừng Việt Nam từng bước bước vào thị trường, nhưng vẫn giữ được mục tiêu cốt lõi: rừng phải được bảo vệ tốt hơn, người giữ rừng phải được hưởng lợi công bằng hơn và cam kết khí hậu quốc gia phải được thực hiện nghiêm túc hơn.

 

Hồng Minh