news
Nghị quyết 57-NQ/TW mở ra hướng tiếp cận mới để mỗi người nông dân thay đổi sản xuất

Nghị quyết 57-NQ/TW mở ra hướng tiếp cận mới để mỗi người nông dân thay đổi sản xuất

Thứ bảy, 24/1/2026, 08:45 (GMT+7)
logo Trong bối cảnh khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo được xác định là khâu đột phá chiến lược, Nghị quyết 57-NQ/TW đang mở ra hướng tiếp cận mới cho lĩnh vực nông nghiệp, từ chỗ dựa vào sản xuất truyền thống, thủ công dần chuyển sang mô hình dựa trên công nghệ, dữ liệu và sáng tạo.

Ứng dụng các nền tảng số để quản lý dữ liệu sản xuất

Trong bối cảnh thị trường ngày càng đòi hỏi sản phẩm sạch, có thể truy xuất nguồn gốc thì ứng dụng công nghệ phần mềm, sử dụng dữ liệu vào sản xuất chính là chứng minh thư cho nông sản Việt.

Nhằm đẩy mạnh chuyển đổi ngành nông nghiệp, nhiều địa phương trong cả nước đã và đang tăng cường triển khai số hóa dữ liệu, mục tiêu là xây dựng một hệ thống cơ sở dữ liệu tập trung thống nhất. Từ đó tạo sự thuận lợi cho công tác quản lý của chính quyền, người dân và doanh nghiệp trong quá trình tìm kiếm và khai thác dữ liệu, góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp.

1_1769183016.png
Sản xuất nông nghiệp đang từng bước chuyển sang mô hình dựa trên công nghệ, dữ liệu và sáng tạo

Bên cạnh đó, việc hình thành hệ thống dữ liệu số giúp minh bạch thông tin trong quá trình sản xuất nông nghiệp, phục vụ công tác định hướng phát triển vùng sản xuất tập trung quy mô lớn, an toàn, tuần hoàn gắn với hoạt động xúc tiến thương mại. Từ đó mở ra nhiều cơ hội kết nối cung cầu, quảng bá sản phẩm nông nghiệp góp phần tạo giá trị mới cho nông sản.

Việc ứng dụng các phần mềm đi cùng với các thiết bị hạ tầng số giúp cho việc tự động hóa trong quá trình thu thập và cập nhật thông tin, điều này sẽ giải phóng được lực lượng lao động vốn trước đây hoạt động một cách thủ công, chủ yếu theo cách ghi chép vốn thiếu chính xác. Các thông tin được máy móc phần mềm cập nhật theo thời gian thực giúp cơ quan quản lý nhà nước có được bức tranh tổng quan và chi tiết nhất để phục vụ cho các cấp, các ngành trong việc định hướng các mục tiêu, chỉ tiêu để đưa vào Nghị quyết, kế hoạch phát triển nông, lâm, thủy sản ở địa phương mình.

Ngày nay, công nghệ số đã được ứng dụng trong mọi lĩnh vực của ngành nông nghiệp, từ quản lý đến sản xuất, tiêu thụ sản phẩm. Đặc biệt, trong trồng trọt, công nghệ Internet vạn vật (IoT), dữ liệu lớn (Big Data) được ứng dụng giúp phân tích dữ liệu về cây trồng, các giai đoạn sinh trưởng của cây, trong dự báo tình hình sâu bệnh, dịch hại, năng suất và hiệu quả.

Như tại một số địa phương thuộc tỉnh Tây Ninh, đã có hơn hộ 200 nông dân tham gia mô hình trồng lúa của các hợp tác xã như: HTX Tuyên Bình Tây, HTX Hưng Thành, HTX Phát Lộc, HTX Hương Trang… đều sử dụng phần mềm, ứng dụng trên điện thoại để nhập dữ liệu và theo dõi quá trình quá triển của cây lúa.

Những công nghệ này, không những thu thập dữ liệu về sinh trưởng của cây, mà còn giám sát côn trùng thông minh giúp nông dân tiết kiệm chi phí, nâng cao năng suất, góp phần hướng đến nền nông nghiệp thông minh, phát triển bền vững. Từ hiệu quả mang lại, hiện nay địa phương đang đề xuất nhân rộng mô hình thêm ra các địa phương khác.

Với mục tiêu hướng tới ngành nông nghiệp thông minh, bao gồm xây dựng hệ thống dữ liệu lớn, ở nhiều địa phương khác cũng triển khai xây dựng cơ sở dữ liệu cây trồng, vật nuôi, vùng trồng, số lượng sản phẩm và dịch vụ nông nghiệp. Đồng thời kết nối, chia sẻ và cung cấp dữ liệu mở để đáp ứng nhu cầu quản lý nhà nước đối với từng lĩnh vực trong ngành nông nghiệp.

Tại xã Lam Thành, tỉnh Nghệ An, trong những năm gần đây anh Nguyễn Văn Sơn, đã đầu tư sản xuất rau củ quả theo tiêu chuẩn VietGAP tại trang trại của mình. Đã xây dựng hệ thống nhà màng hiện đại bài bản, hệ thống tưới tự động cũng được hoàn chỉnh. Anh còn đặc biệt quan tâm đến ứng dụng công nghệ IOT (một hệ thống cảm biến ánh sáng, độ ẩm, nhiệt độ) trong quản lý trồng trọt. Nhờ vậy, từ giống, chăm sóc cho đến nhận biết các yếu tố liên quan sinh trưởng, phát triển của cây trồng đều được kiểm soát hoàn toàn trên điện thoại thông minh.

Anh Nguyễn Văn Sơn chia sẻ: "Chúng tôi đã giảm được khá là nhiều khâu trong công tác quản lý và các chi phí sản xuất, vận hành, cũng nhờ ứng dụng công nghệ này mà chúng tôi tiếp cận được nhiều khách hàng tiềm năng hơn. Điều đặc biệt ứng dụng công nghệ tạo niềm tin cho khách hàng, thông qua sự minh bạch hóa quy trình sản xuất khép kín".

Sớm cụ thể hóa bằng cơ chế đặc thù cho sáng kiến từ cơ sở

Tương tự, tại xã Kim Liên, tỉnh Nghệ An, trang trại chăn nuôi vịt an toàn sinh học của ông Phan Văn Tuyển được nhiều người biết đến không chỉ vì đạt chuẩn VietGAP mà còn có hệ thống giám sát chăn nuôi vịt thương phẩm đảm bảo chất lượng xuất khẩu. Ngoài ra, còn có hệ thống máng uống thiết kế tự động.

Vịt nuôi nhốt hoàn toàn trên sàn nhựa, cho ăn theo khẩu phần phù hợp với từng lứa tuổi, giai đoạn phát triển của vịt. Đây là điều kiện thích hợp cho vịt sinh trưởng phát triển nhanh, khoẻ mạnh, đồng đều, tỷ lệ hao hụt giảm hẳn so với cách nuôi truyền thống và đảm bảo theo yêu cầu của bên đơn vị liên kết thu mua. Mỗi lứa anh Tuyển nuôi 14.000 con vịt thịt x 6 lứa/năm. Tính ra hàng năm mô hình của anh cung cấp cho thị trường khoảng 275 tấn vịt.

2_1769183077.png
Thay đổi cách thức quản lý nông nghiệp từ thủ công truyền thống sang thay thế ứng dụng phần mềm, dữ liệu

Ông Phan Văn Tuyển cho biết: “Trước đây chăn nuôi thường thấp thỏm, lo lắng do ảnh hưởng của dịch bệnh, điều kiện bất lợi của thời tiết và giá cả, thị trường tiêu thụ bấp bênh, không ổn định thì nay với mô hình chăn nuôi vịt công nghệ cao đầu tư phần mềm và hệ thống quản lý dữ liệu đã đem lại hiệu quả kinh tế bền vững cho người nuôi như chúng tôi”.

Có thể khẳng định, việc thay đổi cách thức quản lý nông nghiệp từ thủ công truyền thống sang thay thế ứng dụng phần mềm, dữ liệu đã mang đến giải pháp toàn diện cho người nông dân trong các khâu sản xuất. Bên cạnh đó, sự hỗ trợ của chính quyền địa phương cũng đã giúp nông dân ngày càng tiếp cận chuyển đổi số vào trong sản xuất nhanh hơn.

Ông Nguyễn Đức Cảnh - Phó chủ tịch UBND xã Lam Thành, tỉnh Nghệ An cho biết: Trong thời gian tới để nâng cao hiệu quả ứng dụng các phần mềm, hệ thống dữ liệu số vào sản xuất, UBND xã sẽ tiếp tục tổ chức các lớp tập huấn, tăng cường tuyên truyền vận động người dân ứng dụng nhiều hơn. Bên cạnh đó sẽ hỗ trợ người dân tiếp cận nguồn vốn và áp dụng các cơ chế chính sách để thúc đẩy người dân ứng dụng các công nghệ mới, đảm bảo an toàn, bền vững. Đồng thời chúng tôi sẽ hướng dẫn người dân sử dụng các thiết bị thông minh để quảng bá hình ảnh, sản phẩm của mình trên môi trường mạng xã hội, sàn thương mại điện tử để thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm.

Có thể nói, trong bối cảnh cuộc cách mạng 4.0 đang lan tỏa mạnh mẽ, chuyển đổi số trong nông nghiệp trở thành xu thế tất yếu. Những thành quả ở các địa phương cho thấy khi nông dân chủ động nắm bắt công nghệ, họ không chỉ sản xuất giỏi hơn mà còn mở ra cơ hội kinh doanh sáng tạo. Sản xuất an toàn và bền vững hơn trong thời đại số.

TS. Lê Đức Thịnh, Cục trưởng Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) cho biết: "Về định hướng và giải pháp xây dựng hệ sinh thái số trong nông nghiệp. Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang triển khai nhiều hoạt động cụ thể. Thứ nhất, xây dựng nền tảng số dùng chung cho khu vực HTX và kinh tế tập thể, dự kiến hoàn thành và đưa vào vận hành từ tháng 6/2026. Nền tảng này sẽ kết nối dữ liệu về truy xuất nguồn gốc, mã số vùng trồng, tiêu chuẩn sản xuất, logistics, và hợp đồng điện tử".

Thứ hai, phối hợp với các đối tác quốc tế, đặc biệt là Nhật Bản, để học hỏi mô hình hệ sinh thái số của Liên đoàn HTX Nông nghiệp Nhật Bản. Bộ cũng đã ký kết hợp tác với các doanh nghiệp công nghệ trong và ngoài nước để xây dựng khung dữ liệu, tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật.

Thứ ba, trong quá trình sửa đổi Nghị định 98 về chính sách khuyến khích phát triển hợp tác, liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp Bộ sẽ thể chế hóa mô hình hệ sinh thái số và chuỗi liên kết số, tạo hành lang pháp lý thúc đẩy chuyển đổi số toàn diện trong nông nghiệp.

Lê Tâm