news
Nuôi trồng thủy sản Khánh Hòa thích ứng nắng nóng: Giảm rủi ro, giữ sinh kế ven biển

Nuôi trồng thủy sản Khánh Hòa thích ứng nắng nóng: Giảm rủi ro, giữ sinh kế ven biển

Thứ tư, 20/5/2026, 06:55 (GMT+7)
logo Trước tình hình nắng nóng kéo dài, nhiệt độ môi trường và nước biển biến động mạnh, các vùng nuôi tôm, cá biển, tôm hùm, nhuyễn thể và lồng bè ven biển đang đứng trước nguy cơ sốc môi trường, giảm sức đề kháng, phát sinh dịch bệnh. Phóng viên Tạp chí Nông nghiệp và Môi trường đã có buổi trò chuyện cùng ông Lê Đình Khiêm – Chi cục trưởng Chi cục Thủy sản và Biển đảo tỉnh Khánh Hòa về tình hình nuôi trồng và khuyến cáo mùa nắng nóng.

PV: Thưa ông, ông có thể khái quát tình hình nuôi trồng thủy sản trên địa bàn Khánh Hòa hiện nay, đặc biệt là các vùng nuôi trọng điểm, đối tượng nuôi chủ lực và mức độ phục hồi, phát triển của ngành trong thời gian gần đây?

Ông Lê Đình Khiêm: Hiện tại, nghề sản xuất giống thủy sản đang ngày càng phát triển đáp ứng nhu cầu con giống phục vụ nuôi biển, sản lượng trên 45 tỷ con/năm. Năm 2025, số lượng trại sản xuất, ương dưỡng giống trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa là 553 cơ sở, sản lượng sản xuất, ương dưỡng đạt 51,8 tỷ con giống.

le-dinh-khiem_1779022307.jpg
Ông Lê Đình Khiêm – Chi cục trưởng Chi cục Thủy sản và Biển đảo tỉnh Khánh Hòa

Trong đó, trại sản xuất giống tôm nước lợ (tôm thẻ chân trắng và tôm sú) là 482 trại với sản lượng đạt 49,98 tỷ con; số trại cung cấp giống cho nuôi biển (nhuyễn thể, cá biển, tôm hùm) là 71 trại 2 (Giống cá biển: có 15 cơ sở sản xuất giống cá bớp, cá chẽm, cá hồng, cá chim và cá mú các loại, số lượng giống sản xuất đạt 33,7 triệu con; Giống nhuyễn thể: có 15 cơ sở (ốc hương, ngao hai cồi, trai ngọc…), số lượng giống nhuyễn thể sản xuất đạt 1,739 tỷ con; Giống tôm hùm: có 41 cơ sở ương dưỡng, số lượng giống tôm hùm ương dưỡng trên 35 triệu con).

Tổng diện tích nuôi trồng thủy sản đạt 4.630 ha với sản lượng nuôi trồng thủy sản toàn tỉnh năm 2025 đạt 41.751 tấn. Trong đó, tôm nước lợ (tôm sú, tôm thẻ chân trắng), ốc hương, cá biển,... là các đối tượng nuôi chính trên các vùng nuôi ao đìa. Tôm hùm và cá biển (cá chẽm, cá mú, cá bớp, cá chim vây vàng…)  là đối tượng nuôi biển trọng điểm của tỉnh, tập trung tại các vịnh, đầm của tỉnh. Ngoài ra, còn có các đối tượng khác như: cua biển, rong biển, hải sâm, trai ngọc, hàu... cũng đang được nuôi tại địa phương, góp phần đa dạng hóa đối tượng nuôi và mang lại hiệu quả kinh tế cho người dân ven biển.

Thời gian qua, tỉnh Khánh Hòa đã hướng dẫn, khuyến khích ứng dụng công nghệ nuôi lồng bằng vật liệu mới trong nuôi trồng thủy sản trên biển nhằm thích ứng với biến đổi khí hậu, tăng khả năng chịu sóng gió, bảo vệ môi trường và nâng cao hiệu quả sản xuất. Đến nay, nhiều cơ sở, doanh nghiệp, hợp tác xã và hộ dân trên địa bàn tỉnh đã triển khai mô hình nuôi biển công nghệ cao bằng lồng HDPE, bước đầu cho thấy hiệu quả tích cực, tạo cơ sở để tiếp tục nhân rộng trong thời gian tới.

PV: Trong bối cảnh thời tiết nắng nóng kéo dài, nhiệt độ môi trường và nước biển biến động mạnh, hoạt động nuôi trồng thủy sản tại Khánh Hòa đang đối mặt với những nguy cơ lớn nào, nhất là đối với nuôi tôm, cá biển, nhuyễn thể và các mô hình nuôi lồng bè?

Ông Lê Đình Khiêm: Hiện tại tỉnh Khánh Hòa đang vào đợt xảy ra nắng nóng. Nhiệt độ từ 33 - 36oC. Độ ẩm tương đối thấp nhất trong khoảng 35-50%. Nhiệt độ dự báo trong các bản tin nắng nóng và nhiệt độ cảm nhận thực tế ngoài trời có thể chênh lệch từ 2 - 4oC.

Nhiệt độ nước là một trong những thông số trong quản lý chất lượng môi trường nuôi. Khi nhiệt độ nước tăng cao, tăng đột ngột, sẽ gây sốc khiến đối tượng thủy sản giảm ăn, làm giảm sức đề kháng, chậm lớn, ảnh hưởng tỷ lệ sống. Ngoài ra, nhiệt độ tăng cao còn làm tăng khả năng trao đổi chất, tăng tiêu hao oxy, tăng mẫn cảm với các tác nhân gây bệnh, tạo điều kiện thuận lợi cho các tác nhân gây bệnh như vi khuẩn và virus gây bệnh phát triển.

Vì thế, với bối cảnh thời tiết nắng nóng kéo dài, điều kiện môi trường biến động lớn, hoạt động nuôi trồng thủy sản tại Khánh Hòa đứng trước nguy cơ đối tượng thủy sản nuôi bị hao hụt, gây thiệt hại cho người nuôi.

ngu-dan-khanh-hoa-thu-hoach-hai-san-chay-bao-13-12_1779022453.jpg
Tôm hùm và cá chẽm, cá mú, cá bớp, cá chim vây vàng là đối tượng nuôi biển trọng điểm của tỉnh, tập trung tại các vịnh, đầm của tỉnh Khánh Hòa

PV: Qua công tác theo dõi, quan trắc và quản lý vùng nuôi, Chi cục ghi nhận những dấu hiệu bất thường nào về môi trường nước, dịch bệnh thủy sản hoặc hiện tượng thủy sản nuôi bị suy giảm sức khỏe trong mùa nắng nóng năm nay?

Ông Lê Đình Khiêm: Qua công tác theo dõi, quan trắc và quản lý vùng nuôi, Chi cục chưa ghi nhận dấu hiệu bất thường về thông số môi trường nước. Tuy nhiên, việc chênh lệch nhiệt độ ngày và đêm khá lớn đã ảnh hưởng đến sức khỏe của vật nuôi. Ở khu vực Nam Khánh Hòa, tình hình nuôi chưa ghi nhận hiện tượng bất thường trong quá trình nuôi.

Ở khu vực Bắc Khánh Hòa, thời gian gần đây cá biển và tôm hùm nuôi lồng bè hao nhiều hơn so với tháng trước. Đặc biệt vùng nuôi lồng bè tại xã Vạn Hưng tôm hùm xanh hao đang tăng nhanh. Theo chủ hộ nuôi, tôm chết có dấu hiệu bỏ ăn, bị sữa và đường ruột, nhận định ban đầu có thể do thời tiết nắng nóng. Trong thời gian gần đây khu vực xuất hiện tình trạng nắng nóng kéo dài xen kẽ các đợt mưa nhỏ cục bộ vào chiều tối, làm môi trường nước biến động bất thường, dễ gây hiện tượng phân tầng nước và làm thủy sản nuôi bị sốc môi trường. Đây là điều kiện bất lợi làm tôm hùm giảm khả năng bắt mồi, suy giảm sức đề kháng và gia tăng nguy cơ phát sinh bệnh.

PV: Đối với người nuôi, Chi cục khuyến cáo những biện pháp kỹ thuật cụ thể nào để giảm thiểu rủi ro trong mùa nắng nóng, như quản lý mật độ nuôi, thức ăn, oxy hòa tan, vệ sinh lồng bè, ao đầm và theo dõi chất lượng nước?

Ông Lê Đình Khiêm: Tại Công văn số 1145/CCTS-NTTS ngày 09/4/2026, Chi cục Thủy sản và Biển đảo tỉnh Khánh Hòa về việc tăng cường quản lý NTTS trong điều kiện thời tiết nắng nóng, mưa bão, áp thấp nhiệt đới và hạn hán xâm nhập mặn năm 2026 gửi các cơ quan, đơn vị và địa phương.

Cụ thể, đối với thuỷ sản nuôi trong ao, kiểm tra bờ, cống ao để tránh hiện tượng rò rỉ nước. Duy trì mực nước trong ao trên 1,5 m, tích cực tạo oxy cho ao nuôi bằng máy quạt nước, máy sục khí vào thời điểm 10-18h và ban đêm. Những nơi có điều kiện thay nước có thể thay từ 15-20% lượng nước cũ và cấp thêm nước mới vào ao dưới dạng phun mưa (tốt nhất vào sáng sớm).

Trong điều kiện nắng nóng gay gắt kéo dài, dùng lưới lan che phủ 2/3 diện tích mặt ao và cao hơn mặt nước trên 2m để hạn chế bức xạ của ánh sáng mặt trời, giảm tăng nhiệt độ nước trong ao, tránh gây sốc cho thuỷ sản nuôi.

ngu-dan-khanh-hoa-thu-hoach-hai-san-chay-bao-13-9_1779023016.jpg
Biến đổi khí hậu khiến người nuôi trồng thủy sản gặp nhiều khó khăn trong những năm gần đây

Giảm 50% lượng thức ăn khi trời nắng nóng gay gắt. Bổ sung vitamin C, khoáng chất, chế phẩm sinh học vào thức ăn nhằm tăng cường sức đề kháng, duy trì đàn thuỷ sản nuôi. Hàng tuần nên dùng vôi bột hòa tan tạt đều khắp ao vào buổi chiều mát để khử trùng nguồn nước và ổn định pH trong ao với hàm lượng 2 - 4 kg vôi bột/100 m3 nước. Chủ động thu hoạch thuỷ sản nuôi khi đạt kích cỡ thương phẩm hoặc san thưa mật độ ngay khi thiếu nước, hạn hán xảy ra.

Đối với thủy sản nuôi trong các đầm, vịnh cần thường xuyên theo dõi, kiểm tra sức khỏe thủy sản nuôi, thu gom thức ăn thừa, xác thủy sản chết...; sử dụng lưới lan che bề mặt lồng bè nuôi để giảm ánh sáng trực tiếp xuống đáy lồng nuôi.

Khi mực nước xuống do triều rút cần hạ thấp lồng nuôi hoặc di chuyển lồng nuôi đến nơi có mực nước sâu để bảo đảm độ sâu luôn ở mức 2,5 – 3,0 m; đối với vùng nuôi có hàm lượng vật chất hữu cơ nhiều nên đặt lồng nuôi cách đáy khoảng 1,5-2,0 m nhằm khắc phục việc thiếu oxy cục bộ.

Giảm 50-70% lượng thức ăn cho ăn hàng ngày hoặc ngừng cho ăn vào những ngày nắng nóng gay gắt. Chọn loại thức ăn có hàm lượng dinh dưỡng cao kết hợp với việc bổ sung vitamine C, khoáng chất, chế phẩm để duy trì thuỷ sản nuôi trong giai đoạn nắng nóng gay gắt. Tiến hành thu tỉa khi thuỷ sản nuôi đạt kích cỡ thu hoạch. Hạn chế đánh bắt, san thưa, vận chuyển, thả giống vào những ngày nắng nóng, thời điểm nắng nóng trong ngày.

Nếu có thuỷ sản bị chết cần xử lý theo hướng dẫn của cơ quan quản lý địa phương để tiêu độc, khử trùng và xử lý môi trường nước. Hướng dẫn người nuôi thống kê chính xác diện tích, mức độ thiệt hại để có cơ sở đề xuất hỗ trợ cho người dân khôi phục sản xuất theo quy định.

PV: Về lâu dài, ngành thủy sản Khánh Hòa sẽ định hướng như thế nào để phát triển nuôi trồng thủy sản bền vững hơn, thích ứng với biến đổi khí hậu, giảm thiểu rủi ro môi trường và nâng cao giá trị kinh tế cho người nuôi?

Ông Lê Đình Khiêm: Đối với vùng ven bờ: thực hiện giao mặt nước biển cho người dân theo Điều 44, Luật Thủy sản 2017 để người nuôi trồng thủy sản yên tâm đầu tư sản xuất ổn định đời sống. Tuyên truyền hướng dẫn chuyển đổi từ hình thức nuôi bằng lồng bè gỗ truyền thống sang lồng bằng vật liệu mới (HDPE) chịu được sóng gió, đảm bảo an toàn và mỹ quan kết hợp với mô hình du lịch biển; Nuôi các loại giống mới có giá trị kinh tế, các sản phẩm chủ lực, kết hợp nuôi đa loài để tăng hiệu quả vừa giảm ô nhiễm môi trường.

Đối với vùng biển hở (nêu cụ thể phạm vi), kêu gọi các doanh nghiệp có kinh nghiệm có tiềm lực đầu tư nuôi công nghiệp bằng lồng bè hiện đại để tăng nhanh hơn nữa sản lượng nuôi công nghiệp đồng thời đẩy mạnh nghiên cứu áp dụng khoa học kỹ thuật và trong nuôi thương phẩm.

ngu-dan-khanh-hoa-thu-hoach-hai-san-chay-bao-13-3_1779023016.jpg
Chi cục Thủy sản, Biển và Hải đảo tỉnh Khánh Hòa khuyến cáo người dân chủ động thu hoạch thuỷ sản nuôi khi đạt kích cỡ thương phẩm hoặc san thưa mật độ ngay khi thiếu nước, hạn hán xảy ra...

Định hướng sản xuất, nuôi trồng thủy sản chủ lực của tỉnh chuyển nhanh sang sản xuất thủy sản hàng hóa, nâng cao giá trị các loài thủy sản trên đơn vị diện tích, truy xuất được nguồn gốc, đảm bảo nguyên liệu cho công nghiệp chế biến, xuất khẩu.

Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng các vùng nuôi trồng thủy sản tập trung; phát triển các vùng nuôi trồng thủy sản theo hướng trang trại, công nghiệp, gắn với chế biến. Ứng dụng khoa học kỹ thuật vào trong nuôi trồng thủy sản, đảm bảo an toàn dịch bệnh vừa nâng cao hiệu quả kinh tế.

Hình thành các Tổ liên kết nuôi trồng thủy sản tiến tới thành lập các Hợp tác xã trong nuôi trồng thủy sản và liên kết với các doanh nghiệp tiêu thụ sản phẩm để ổn định thu nhập cho người dân.

PV: Từ thực tiễn quản lý tại địa phương, ông có kiến nghị gì đối với người nuôi, doanh nghiệp và chính quyền cơ sở trong việc phối hợp giám sát môi trường, cảnh báo sớm dịch bệnh và tổ chức lại vùng nuôi theo hướng an toàn, bền vững?

Ông Lê Đình Khiêm: Đối với người nuôi cần tuân thủ theo quy hoạch, sắp xếp của địa phương, thực hiện nuôi tại những khu vực đã được phép nuôi trồng thủy sản để đảm bảo tính hiệu quả ổn định và lâu dài.

Thực hiện nuôi đúng theo các quy trình kỹ thuật, văn bản pháp luật về quản lý thủy sản nuôi đã được hướng dẫn, lựa chọn đối tượng nuôi phù hợp. Chấp hành theo hướng dẫn của cơ quan quản lý chuyên môn về công tác phòng chống dịch bệnh, sử dụng thuốc và hóa chất theo quy định.

Đồng thời, thường xuyên cập nhật kiến thức, kỹ thuật nuôi; chủ động ứng dụng khoa học kỹ thuật vào nuôi trồng thủy sản, nuôi trồng kết hợp bảo vệ môi trường. Theo dõi các dự báo về thời tiết để kịp thời chủ động phương án xử lý nhằm hạn chế thiệt hại. Chủ động tham gia Hợp tác xã để thuận lợi kết nối thương mại và trao đổi kỹ thuật, cũng như các quyền lợi khác của người nuôi.

Đối với doanh nghiệp, khuyến khích chủ động ứng dụng khoa học kỹ thuật hiện đại vào nuôi trồng thủy sản công nghệ cao để nâng cao năng suất, bảo vệ môi trường, ứng phó biến đổi khí hậu bất lợi.

Khuyến khích đầu tư cơ sở hạ tầng hiện tại tạo ra sản phẩm an toàn thực phẩm, năng cao giá trị sản phẩm, bảo vệ an toàn cho người lao động trên biển. Khuyến khích kết nối thương mại, xây dựng chuỗi giá trị thủy sản.

Đồng thời, khuyến khích các doanh nghiệp chủ động nghiên cứu tiến bộ khoa học thế giới, kết hợp với cơ quan nghiên cứu, có giải pháp ứng dụng để ngày càng phát triển theo hướng bền vững, hiện đại. Tuân thủ các quy định về quy hoạch, quy định kỹ thuật và văn bản pháp luật về quản lý thủy sản nuôi, phòng chống dịch bệnh.

Đối với Chính quyền cơ sở, chủ động tổ chức tuyên truyền, hướng dẫn các quy định pháp luật để cá nhân, tổ chức nuôi trồng thủy sản kịp thời nắm bắt thông tin. Thường xuyên rà soát, thống kê và theo dõi tình hình nuôi, dịch bệnh trên địa bàn quản lý để xây dựng kế hoạch quản lý cho phù hợp.

Xây dựng phương án sắp xếp lồng bè vào vùng được phép theo quy hoạch, kế hoạch, chương trình, đề án đã được phê duyệt. Chủ trì, phối hợp với cơ quan quản lý chuyên môn để triển khai tốt công tác quản lý NTTS tại địa phương. Chủ động nắm bắt tình hình sản xuất thực tiễn tại địa phương, đề xuất, kiến nghị những nội dung vượt thẩm quyền với cơ quan cấp trên để có hướng xử lý phù hợp.

PV: Trân trọng cảm ơn ông!

 

Trung Nhân