OCOP đang tạo thêm động lực cho kinh tế nông thôn Quảng Trị, góp phần nâng giá trị nông sản, xây dựng thương hiệu và mở rộng thị trường. Phóng viên (PV) Tạp chí Nông nghiệp và Môi trường trao đổi với ông Trần Đình Hiệp, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Quảng Trị, về định hướng nâng chất lượng và phát triển chuỗi giá trị OCOP theo hướng xanh, bền vững.
PV: Thưa ông, OCOP đã tạo ra nhiều sản phẩm đặc trưng và góp phần thúc đẩy kinh tế nông thôn Quảng Trị. Theo ông, điều quan trọng nhất OCOP mang lại cho địa phương và người dân là gì? Và cần làm gì để những sản phẩm này thực sự tạo sinh kế, nâng cao thu nhập cho người dân?
Ông Trần Đình Hiệp: Giá trị lớn nhất của chương trình OCOP không chỉ nằm ở số lượng sản phẩm được công nhận, mà quan trọng hơn là OCOP đã góp phần thay đổi tư duy sản xuất ở khu vực nông thôn. Trước đây, người dân chủ yếu quan tâm đến việc sản xuất ra sản phẩm và bán sản phẩm. Khi tham gia OCOP, các chủ thể phải quan tâm nhiều hơn đến chất lượng, tiêu chuẩn, bao bì, nhãn hiệu, truy xuất nguồn gốc, câu chuyện sản phẩm, thị trường và khả năng cạnh tranh. Nói cách khác, OCOP đang từng bước đưa tư duy kinh tế vào trong sản xuất nông nghiệp.
Quảng Trị hiện có hệ thống sản phẩm OCOP khá đa dạng, gắn với nhiều lợi thế về điều kiện tự nhiên, sản vật địa phương, văn hóa và tri thức sản xuất của cộng đồng. Đây là nền tảng quan trọng để phát triển kinh tế nông thôn, nhất là khi chúng ta không chỉ nhìn sản phẩm OCOP như một mặt hàng tiêu dùng mà còn nhìn nó như một tài sản của địa phương. Tuy nhiên, bước chuyển quan trọng trong giai đoạn tới là phải chuyển từ “phát triển sản phẩm” sang “phát triển thị trường và giá trị”.
Một sản phẩm được công nhận OCOP mới là bước khởi đầu, điều quan trọng hơn là sản phẩm đó có bán được không, thị trường có ổn định không, người sản xuất có tăng thu nhập không và giá trị tạo ra có được phân bổ hợp lý trong chuỗi hay không.
Vì vậy, OCOP phải gắn chặt hơn với vùng nguyên liệu, chế biến, thương mại, du lịch, logistics và thị trường. Khi một sản phẩm bán được với giá trị cao hơn, tạo việc làm ổn định và giúp người dân có thu nhập tốt hơn từ chính nguồn tài nguyên bản địa, lúc đó OCOP mới thực sự trở thành động lực phát triển kinh tế nông thôn.
PV: Thưa ông, thị trường ngày càng quan tâm đến chất lượng, an toàn, truy xuất nguồn gốc và tiêu chuẩn sản xuất, chứ không chỉ nhìn vào số sao của sản phẩm OCOP. Quảng Trị sẽ định hướng các chủ thể OCOP như thế nào để chuyển từ tư duy “làm sản phẩm để đạt sao” sang “làm sản phẩm theo nhu cầu và tiêu chuẩn của thị trường”?
Ông Trần Đình Hiệp: Chúng ta phải xác định rằng OCOP không phải là cuộc đua về số sao. Số sao là một sự ghi nhận về chất lượng sản phẩm ở một thời điểm nhất định, nhưng thị trường mới là nơi quyết định sức sống lâu dài của sản phẩm.
Trong thời gian tới, ngành Nông nghiệp tỉnh Quảng Trị sẽ định hướng các chủ thể OCOP quan tâm ngay từ đầu đến thị trường mục tiêu. Sản phẩm làm ra phải trả lời được những câu hỏi rất cụ thể: Bán cho ai, bán ở đâu, người tiêu dùng cần gì, tiêu chuẩn nào thị trường yêu cầu và doanh nghiệp có khả năng đáp ứng đến đâu.
Muốn vậy, phải nâng cao năng lực của các chủ thể, đặc biệt là hợp tác xã, tổ hợp tác và doanh nghiệp nhỏ ở nông thôn. Không thể chỉ hỗ trợ họ hoàn thiện hồ sơ để được công nhận sản phẩm OCOP, mà phải hỗ trợ cả quá trình sau công nhận.
Chúng tôi sẽ quan tâm hơn đến tiêu chuẩn chất lượng, an toàn thực phẩm, mã số vùng trồng, truy xuất nguồn gốc, bao bì, nhãn hiệu, sở hữu trí tuệ, chuyển đổi số trong quản lý sản xuất và kết nối thị trường.
Đặc biệt, các chủ thể phải từng bước hình thành tư duy “sản xuất theo nhu cầu thị trường”, thay vì “sản xuất những gì mình có”. Đây cũng chính là quá trình chuyển từ tư duy sản xuất nông nghiệp sang tư duy kinh tế nông nghiệp: Không chỉ tạo ra sản lượng mà phải tạo ra giá trị, thương hiệu và khả năng cạnh tranh.
PV: Thưa ông, nhiều sản phẩm OCOP vẫn gặp khó vì sản xuất nhỏ lẻ, đầu ra chưa ổn định, các khâu từ vùng nguyên liệu đến chế biến, tiêu thụ còn thiếu liên kết. Quảng Trị sẽ làm gì để kết nối các khâu này thành chuỗi giá trị, qua đó giúp nông dân, hợp tác xã nâng cao hơn giá trị thu được từ chính sản phẩm của mình?
Ông Trần Đình Hiệp: Đúng là quy mô nhỏ và liên kết chưa chặt chẽ đang là một trong những hạn chế của nhiều sản phẩm OCOP. Nếu chỉ có một sản phẩm tốt nhưng vùng nguyên liệu không ổn định, sản lượng không đáp ứng được đơn hàng hoặc chất lượng giữa các lô hàng không đồng đều thì rất khó đi xa trên thị trường.
Do đó, thời gian tới phải tổ chức lại sản xuất theo hướng liên kết chuỗi. Trước hết là xây dựng vùng nguyên liệu ổn định, phù hợp với điều kiện sinh thái và quy mô sản xuất của từng sản phẩm. Người dân cần được liên kết với hợp tác xã, doanh nghiệp để cùng thống nhất quy trình sản xuất, tiêu chuẩn chất lượng và đầu ra.
Tiếp đó là nâng cao năng lực chế biến và bảo quản. Chúng ta không thể chỉ bán nguyên liệu thô mà phải tăng tỷ trọng chế biến sâu, tạo ra những sản phẩm có giá trị gia tăng cao hơn.
Một vấn đề nữa là phải tăng cường liên kết giữa sản xuất với thị trường. Doanh nghiệp, hợp tác xã và các cơ sở sản xuất cần có sự tham gia của các đơn vị phân phối ngay từ quá trình xây dựng sản phẩm.
Mục tiêu cuối cùng là hình thành những chuỗi giá trị trong đó mỗi khâu đều tạo ra giá trị và người nông dân không đứng ngoài chuỗi. Khi tổ chức sản xuất tốt, người dân có đầu ra ổn định, hợp tác xã có năng lực tổ chức và doanh nghiệp có thị trường, khi đó giá trị của sản phẩm OCOP sẽ không chỉ nằm ở khâu sản xuất mà được gia tăng qua chế biến, thương hiệu, phân phối và thị trường.
PV: Thưa ông, Quảng Trị có nhiều sản phẩm mang dấu ấn riêng của vùng đất và văn hóa địa phương. Theo ông, cần làm gì để kể được câu chuyện phía sau mỗi sản phẩm, biến lợi thế bản địa thành giá trị cạnh tranh trên thị trường? Đây có phải là hướng quan trọng để OCOP Quảng Trị đi xa hơn, không chỉ ở thị trường trong nước mà cả xuất khẩu?
Ông Trần Đình Hiệp: Tôi cho rằng đây là một lợi thế rất lớn của Quảng Trị. Một sản phẩm muốn cạnh tranh lâu dài không thể chỉ nói rằng đây là đặc sản của địa phương nào, mà phải trả lời được câu hỏi: sản phẩm đó có gì khác biệt và tại sao người tiêu dùng phải lựa chọn nó. Cái khác biệt đó có thể đến từ điều kiện đất đai, khí hậu, nguồn nguyên liệu, phương thức sản xuất, văn hóa cộng đồng hoặc câu chuyện hình thành sản phẩm.
Chúng ta cần biến những giá trị đó thành tài sản của sản phẩm. Ví dụ, cùng là một sản phẩm nông nghiệp, nhưng nếu sản phẩm gắn với một vùng sinh thái đặc thù, một phương thức canh tác truyền thống, một làng nghề hoặc một câu chuyện văn hóa thì giá trị cảm nhận của người tiêu dùng sẽ khác.
Do đó, phát triển OCOP phải gắn với xây dựng thương hiệu và kể được câu chuyện một cách chân thực. Không phải tạo ra những câu chuyện mang tính quảng bá đơn thuần, mà phải bắt đầu từ chính giá trị thật của sản phẩm và cộng đồng tạo ra sản phẩm đó.
Đây cũng là nền tảng để kết nối OCOP với du lịch nông thôn, du lịch cộng đồng và trải nghiệm văn hóa. Khi đó, một sản phẩm không chỉ được bán như một món hàng mà còn có thể trở thành một phần của trải nghiệm về vùng đất. Về lâu dài, khi thương hiệu, chất lượng, truy xuất nguồn gốc và sản lượng được bảo đảm, những sản phẩm có lợi thế hoàn toàn có thể tiếp cận các thị trường lớn hơn, kể cả thị trường xuất khẩu.
PV: Thưa ông, thị trường ngày càng quan tâm đến những sản phẩm xanh, an toàn, có nguồn gốc rõ ràng và được sản xuất có trách nhiệm với môi trường. Quảng Trị sẽ làm gì để OCOP bắt kịp xu hướng này? Theo ông, các chủ thể cần tập trung vào những yếu tố nào để sản phẩm vừa có sức cạnh tranh, vừa phát triển bền vững?
Ông Trần Đình Hiệp: Đối với Quảng Trị, phát triển OCOP theo hướng xanh trước hết phải bắt đầu từ vùng nguyên liệu và quy trình sản xuất. Chúng ta cần khuyến khích các chủ thể giảm sử dụng đầu vào hóa học không cần thiết, sử dụng hiệu quả tài nguyên đất và nước, tận dụng phụ phẩm nông nghiệp, giảm chất thải và từng bước áp dụng các mô hình sản xuất tuần hoàn.
Cùng với đó là truy xuất nguồn gốc và minh bạch thông tin. Người tiêu dùng ngày càng muốn biết sản phẩm được sản xuất ở đâu, bằng nguyên liệu gì, quy trình như thế nào và có tác động ra sao đến môi trường.
Đối với OCOP, chúng ta cần nhìn nhận “xanh” không chỉ là bao bì thân thiện môi trường. Xanh phải được thể hiện trong cả chuỗi sản xuất: Từ vùng nguyên liệu, phương thức canh tác, sử dụng tài nguyên, chế biến, đóng gói cho đến vận chuyển và tiêu thụ.
Quảng Trị có lợi thế để phát triển theo hướng này bởi địa phương có nhiều vùng sản xuất đặc trưng, nhiều sản phẩm gắn với điều kiện sinh thái và có tiềm năng phát triển các mô hình nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp tuần hoàn, nông nghiệp sinh thái.
Trong tương lai, những sản phẩm có chất lượng ổn định, truy xuất rõ ràng, sản xuất có trách nhiệm, giảm tác động môi trường và có câu chuyện thương hiệu rõ ràng sẽ có lợi thế cạnh tranh lớn hơn. Đây cũng là cách để OCOP không chỉ tạo ra giá trị kinh tế mà còn góp phần bảo vệ nguồn vốn tự nhiên và tạo sinh kế bền vững cho cộng đồng.
PV: Trong giai đoạn tới, đâu sẽ là những định hướng lớn của ngành Nông nghiệp và Môi trường để nâng tầm OCOP Quảng Trị? Nếu phải xác định những yếu tố mang tính quyết định, theo ông, OCOP cần tập trung vào điều gì để sản phẩm không chỉ được công nhận về chất lượng mà thực sự bán được, tạo sinh kế lâu dài cho người dân và từng bước trở thành thương hiệu của nông nghiệp Quảng Trị?
Ông Trần Đình Hiệp: Trong giai đoạn tới, tôi cho rằng OCOP Quảng Trị cần tập trung vào một số định hướng lớn.
Thứ nhất, tiếp tục nâng cao chất lượng và chuẩn hóa sản phẩm, nhưng không chạy theo số lượng. Mục tiêu phải là nâng chất lượng thực chất, củng cố những sản phẩm có tiềm năng và hỗ trợ các chủ thể nâng cao năng lực quản trị.
Thứ hai, lấy thị trường làm trung tâm. Mọi hoạt động hỗ trợ OCOP cuối cùng phải hướng đến khả năng tiêu thụ sản phẩm, chú trọng đến thị trường trong nước, các hệ thống phân phối hiện đại, thương mại điện tử và những thị trường có yêu cầu cao.
Thứ ba, phát triển chuỗi giá trị và chế biến sâu. Giá trị của nông sản phải được nâng lên thông qua chế biến, thương hiệu, tiêu chuẩn, truy xuất nguồn gốc và tổ chức thị trường.
Thứ tư, gắn OCOP với nông nghiệp xanh, kinh tế tuần hoàn và phát triển bền vững. Đây không chỉ là yêu cầu của môi trường mà còn là yêu cầu của thị trường. Những sản phẩm đáp ứng được các tiêu chuẩn xanh sẽ có nhiều cơ hội hơn trong tương lai.
Thứ năm, gắn sản phẩm với tài nguyên bản địa và văn hóa địa phương. Đây là lợi thế cần được phát huy để xây dựng thương hiệu, điều quan trọng nhất là phải đặt người dân và sinh kế của họ ở vị trí trung tâm.
Mục tiêu cuối cùng của OCOP là từ những sản phẩm của quê hương, người dân có thể tạo ra giá trị cao hơn, có thu nhập tốt hơn và có sinh kế ổn định hơn. Chúng tôi mong muốn OCOP Quảng Trị trong giai đoạn tới sẽ không chỉ được biết đến bởi số lượng sản phẩm hay số sao, mà được nhận diện bằng chất lượng, thương hiệu, tính xanh, tính đặc trưng và sức cạnh tranh trên thị trường.
Nói ngắn gọn, chúng ta phải chuyển từ “bán sản phẩm” sang “bán giá trị”, từ khai thác lợi thế tự nhiên sang gia tăng giá trị trên chính những lợi thế đó. Khi làm được điều này, OCOP sẽ thực sự trở thành một động lực của kinh tế nông thôn và góp phần xây dựng thương hiệu nông nghiệp Quảng Trị trong giai đoạn mới.
PV: Trân trọng cám ơn ông!