news
PGS, TS. Mai Văn Trịnh: “Nông nghiệp xanh phải bắt đầu thay đổi từ cách canh tác”

PGS, TS. Mai Văn Trịnh: “Nông nghiệp xanh phải bắt đầu thay đổi từ cách canh tác”

Thứ tư, 20/5/2026, 06:53 (GMT+7)
logo Sau hơn 2 năm triển khai Đề án phát triển bền vững 1 triệu ha chuyên canh lúa chất lượng cao và phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh đến năm 2030 (Đề án) được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt ngày 27/11/2023 đã được triển khai thí điểm tại 12 tỉnh vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSC) bước đầu đã ghi nhận nhiều kết quả tích cực. Đến nay diện tích thực hiện vượt 197% mục tiêu giai đoạn đầu, tư duy sản xuất của nông dân chuyển biến rõ rệt theo hướng giảm phát thải, nâng cao giá trị và bảo vệ môi trường. Ghi nhận những chuyển biến này, phóng viên Tạp chí Nông nghiệp và Môi trường đã có cuộc trao đổi với PGS, TS. Mai Văn Trịnh, Viện trưởng Viện Môi trường Nông nghiệp (Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam).
anh-trinh-1_1778942502.jpg
PGS, TS. Mai Văn Trịnh, Viện trưởng Viện Môi trường Nông nghiệp (Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam)

PV: Như chúng ta đã biết, đến nay Đề án phát triển bền vững 1 triệu ha chuyên canh lúa chất lượng cao và phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh vùng ĐBSCL đã triển khai được hơn 2 năm. Ông đánh giá như thế nào về hiệu quả của Đề án?

PGS, TS. Mai Văn Trịnh: Thực ra, khi bắt đầu xây dựng, Đề án hướng tới mục tiêu hình thành một vùng sản xuất lúa chất lượng cao quy mô lớn cho vùng ĐBSCL. Việt Nam hiện là một trong những quốc gia xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới, đứng thứ hai hoặc thứ ba về sản lượng xuất khẩu. Tuy nhiên, trong nhiều năm, chất lượng và giá trị hạt gạo Việt Nam chưa tương xứng với tiềm năng, giá gạo vẫn thấp hơn một số quốc gia cạnh tranh như Thái Lan và Ấn Độ.

Chính phủ mong muốn nâng cao giá trị xuất khẩu của hạt gạo, đồng thời giúp người nông dân giảm áp lực “đầu tư nhiều nhưng lợi ít”. Đây cũng là giai đoạn ngành nông nghiệp chuyển mạnh tư duy từ “sản xuất nông nghiệp” sang “kinh tế nông nghiệp”, nghĩa là không chỉ chạy theo năng suất mà phải tập trung vào giá trị gia tăng và hiệu quả kinh tế.

Điểm đặc biệt của Đề án là được triển khai đồng thời với cam kết giảm phát thải khí nhà kính của Việt Nam theo NDC và mục tiêu phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050. Vì vậy, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã kết hợp cả hai mục tiêu: vừa sản xuất lúa chất lượng cao, vừa giảm phát thải.

Đây là hướng đi rất đúng. Bởi trong tương lai, thị trường quốc tế sẽ ưu tiên những sản phẩm có “dấu vết carbon” thấp, tức lượng phát thải khí nhà kính trên một đơn vị sản phẩm thấp hơn. Những sản phẩm này không chỉ thuận lợi hơn khi xuất khẩu vào các nước phát triển mà còn có khả năng bán với giá cao hơn.

Đề án cũng giúp nhìn rõ những tồn tại lâu nay trong sản xuất lúa ở ĐBSCL. Trước đây, vùng này có nguồn nước dồi dào nên người dân canh tác khá “thoải mái”, chưa chú trọng nhiều đến tiết kiệm tài nguyên. Nhưng vài năm gần đây, hạn hán và xâm nhập mặn diễn ra thường xuyên hơn, nguồn nước không còn dư thừa như trước.

Một vấn đề lớn là nông dân sử dụng lượng giống quá cao. Ở ĐBSCL, phổ biến vẫn gieo từ 200 kg thóc giống/ha, trong khi nhiều nơi ở miền Bắc chỉ còn khoảng 30 kg/ha. Gieo sạ dày khiến cây cạnh tranh dinh dưỡng, sâu bệnh phát triển mạnh và gây lãng phí lớn.

Không chỉ giống, lượng phân đạm sử dụng cũng vượt xa nhu cầu thực tế. Một số khảo sát cho thấy, nông dân bón đạm cao hơn khoảng 170% so với khuyến cáo. Phần phân dư thừa không được cây hấp thụ sẽ phát thải vào không khí, ngấm xuống nước ngầm hoặc gây phú dưỡng nguồn nước xung quanh.

Ngoài ra, việc xử lý phụ phẩm sau thu hoạch còn rất lãng phí. Qua điều tra, có nơi từ 70 - 100% lượng rơm rạ bị đốt bỏ ngoài đồng. Trong khi mỗi hecta lúa cho khoảng 6 - 8 tấn rơm rạ/vụ, với hàm lượng carbon rất lớn. Khi đốt sẽ phát sinh CO₂, CH₄, N₂O, bụi mịn PM2.5 và carbon đen, những tác nhân nguy hiểm đối với môi trường và sức khỏe con người.

Sau hơn 2 năm triển khai, đến nay chúng ta đã xây dựng 11 mô hình điểm quy mô 50 ha canh tác tại các tỉnh ĐBSCL. Kết quả cho thấy hiệu quả rất rõ rệt.

Trước hết, lượng giống gieo sạ giảm mạnh từ khoảng 200 kg xuống còn 70 - 80 kg/ha. Lượng phân đạm cũng giảm từ khoảng 120 kg N xuống còn khoảng 76 kg N/ha. Tuy nhiên, điều đáng chú ý là năng suất không giảm mà còn tăng khoảng 10%.

Điều đó chứng minh rằng, trước đây người dân đã sử dụng vật tư đầu vào quá mức cần thiết. Khi giảm mật độ gieo sạ, cây lúa thông thoáng hơn, nhận được nhiều ánh sáng hơn nên sâu bệnh giảm mạnh, có nơi giảm tới 80 - 90%.

Đồng thời, việc giảm lượng giống và phân bón cũng giúp giảm đáng kể chi phí sản xuất. Chỉ riêng lượng đạm giảm khoảng 40 - 50 kg/ha/vụ đã giúp nông dân tiết kiệm một khoản rất lớn trong bối cảnh giá phân bón tăng cao. Tương tự, lượng giống giảm khoảng 70 – 80 kg/ha cũng đồng nghĩa với việc giảm đáng kể chi phí đầu vào.

Không chỉ tiết kiệm chi phí, thu nhập của người dân còn tăng nhờ năng suất và chất lượng lúa được cải thiện. Khoảng chênh lệch giữa đầu vào và đầu ra lớn hơn, giúp hiệu quả kinh tế tăng rõ rệt.

Theo tính toán từ các mô hình, lượng phát thải giảm bình quân khoảng 3,7 – 4,6 tấn CO₂ tương đương/ha/vụ. Nếu sản xuất hai vụ mỗi năm, lượng giảm phát thải đạt khoảng 7 – 9 tấn CO₂ tương đương/ha/năm; nếu ba vụ còn cao hơn nữa.

Đặc biệt, việc không đốt rơm rạ đã mang lại lợi ích môi trường rất lớn. Thay vì đốt bỏ, rơm rạ được tái sử dụng theo các hướng hiệu quả hơn, vừa giảm ô nhiễm vừa tăng giá trị phụ phẩm nông nghiệp.

Ban đầu, nhiều nông dân còn e ngại khi giảm lượng giống gieo sạ vì lo cây chết, phải dặm nhiều. Nhưng sau khi trực tiếp tham quan các mô hình trình diễn, họ dần thay đổi nhận thức và tự tin áp dụng phương thức canh tác mới.

Hiện nay, nhiều hộ đã chủ động gieo sạ ở mức 70 - 80 kg/ha mà vẫn đạt năng suất cao. Khi thấy chi phí giảm nhưng lợi nhuận tăng, người dân tin tưởng hơn và các mô hình cũng được nhân rộng rất nhanh.

Có thể nói, sau hơn 2 năm triển khai, Đề án không chỉ mang lại hiệu quả kinh tế mà còn tạo nền tảng cho quá trình chuyển đổi xanh ngành hàng lúa gạo Việt Nam. Đây là bước đi quan trọng để xây dựng thương hiệu gạo chất lượng cao, phát thải thấp và nâng cao vị thế hạt gạo Việt Nam trên thị trường quốc tế.

anh-trinh-2_1778942640.jpg
Phóng viên Tạp chí Nông nghiệp và Môi trường trao đổi với PGS, TS. Mai Văn Trịnh, Viện trưởng Viện Môi trường Nông nghiệp (Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam)

PV: Một trong những mục tiêu cốt lõi của Đề án là chuyển đổi phương thức canh tác theo hướng giảm phát thải và nâng cao hiệu quả kinh tế, bảo vệ môi trường. Là đơn vị đầu ngành nghiên cứu về lĩnh vực môi trường, nông nghiệp, xin ông cho biết vai trò của đơn vị trong Đề án?

PGS, TS. Mai Văn Trịnh: Sau khi Chính phủ ban hành Quyết định 1490, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (nay là Bộ Nông nghiệp và Môi trường) đã thành lập Ban Chỉ đạo và các tổ công tác xây dựng mô hình triển khai Đề án. Viện chúng tôi tham gia với vai trò là thành viên trong tổ xây dựng Đề án, góp phần xây dựng khung chương trình và nội dung kỹ thuật của Đề án.

Một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất mà Viện được giao là chủ trì xây dựng hệ thống MRV (Measurement, Reporting and Verification - Đo đạc, Báo cáo và Thẩm định) cho Đề án “1 triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp”. Nhiệm vụ trọng tâm là thẩm định lượng giảm phát thải khí nhà kính từ các biện pháp canh tác giảm phát thải được áp dụng trong thực tế sản xuất.

Dựa trên quy trình canh tác của Đề án cũng như thực tiễn sản xuất của nông dân, Viện đã phối hợp với nhiều chuyên gia quốc tế như chuyên gia của Ngân hàng Thế giới (WB), Viện Nghiên cứu Lúa Quốc tế (IRRI), chuyên gia Nhật Bản và các tổ chức chứng nhận carbon như Verra, Gold Standard… để xây dựng phương pháp luận và sổ tay hướng dẫn MRV. Quá trình này được triển khai từ năm 2023 và hoàn thiện vào cuối năm 2025.

Song song với đó, Viện đã xây dựng 6 mô hình thí điểm quy mô 50 ha trong năm 2024 và 11 mô hình trong năm 2025. Các mô hình đều thực hiện đúng quy trình kỹ thuật do Bộ ban hành như: giảm lượng giống gieo sạ, giảm phân bón, tưới khô xen kẽ (AWD)…

Đồng thời, Viện tổ chức tập huấn cho cán bộ địa phương, thành lập các tổ MRV tại hợp tác xã, phối hợp với cán bộ Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật các tỉnh để triển khai hệ thống giám sát đồng bộ. Viện đóng vai trò kết nối và quản lý toàn bộ hệ thống này.

Các tổ MRV cấp cơ sở có nhiệm vụ đo đạc, thu thập số liệu và cập nhật trực tuyến lên phần mềm MRV do Viện phát triển. Toàn bộ dữ liệu đều được nhập online thông qua điện thoại thông minh nhằm bảo đảm tính minh bạch và hạn chế tối đa sự can thiệp chủ quan.

Ngay từ đầu vụ, cán bộ MRV cơ sở sẽ thu thập số liệu hoạt động cơ sở để tính toán mức phát thải cơ sở trước khi áp dụng các biện pháp giảm phát thải. Trong quá trình triển khai mô hình, họ tiếp tục giám sát và ghi nhận toàn bộ thông tin đầu vào như: loại giống, lượng giống, loại phân bón, lượng phân bón, thời điểm bón phân, thời gian rút nước…

Riêng đối với kỹ thuật tưới khô xen kẽ, cán bộ MRV phải theo dõi và báo cáo trực tuyến theo từng ngày. Ví dụ, trong thời gian rút nước, cán bộ phải trực tiếp ra đồng kiểm tra các điểm quan trắc đã được cắm sẵn, chụp ảnh mặt ruộng để xác nhận tình trạng khô nước và đo mực nước trong giếng quan trắc. Nếu ruộng vẫn còn nước thì đợt rút nước đó được xem là chưa đạt yêu cầu và phải thực hiện lại.

Toàn bộ số liệu sau khi nhập vào hệ thống sẽ được chuyển về trung tâm để cán bộ kỹ thuật xử lý, tính toán lượng giảm phát thải khí nhà kính của mô hình so với mức phát thải cơ sở.

Kết quả cho thấy, trong 11 mô hình triển khai có 9 mô hình mà trước đây nông dân chưa áp dụng kỹ thuật tưới khô xen kẽ nên hiệu quả giảm phát thải rất cao, có nơi đạt tới 8 tấn CO₂ tương đương/ha/vụ. Trong khi đó, 2 mô hình đã áp dụng kỹ thuật này từ trước nên mức giảm thêm chỉ khoảng 1 tấn CO₂ tương đương/ha/vụ.

Trung bình, 9 mô hình mới áp dụng đạt mức giảm phát thải khoảng 4,6 tấn CO₂ tương đương/ha/vụ. Nếu tính chung cả 11 mô hình thì mức giảm đạt khoảng 3,7 tấn CO₂ tương đương/ha/vụ.

Từ những kết quả này, Viện đã đề xuất Bộ công nhận tạm thời quy trình MRV và hiện Bộ đã ban hành quyết định áp dụng thử nghiệm đến tháng 12/2026 để tiếp tục vận hành, hoàn thiện hệ thống. Nếu trong quá trình triển khai không phát sinh vướng mắc lớn, quy trình này sẽ được ban hành thành quy chuẩn chính thức.

Hiện nay, chúng tôi tiếp tục hoàn thiện và đơn giản hóa quy trình theo chỉ đạo của lãnh đạo Bộ, đồng thời số hóa toàn bộ quy trình trên nền tảng ứng dụng di động. Mục tiêu cuối cùng là giúp nông dân và doanh nghiệp dễ dàng áp dụng trên diện rộng, không chỉ cho Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp mà còn phục vụ cho toàn ngành trồng trọt trong tương lai.

lay-mau-khi-bai_1778943016.png
PGS, TS. Mai Văn Trịnh đang lấy mẫu khí phục vụ nghiên cứu tại khu vực ruộng ngập nước

PV: Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, theo ông Nghị quyết này tác động như thế nào đến tính hiệu quả và quá trình triển khai Đề án?

PGS, TS. Mai Văn Trịnh: Trước khi có Nghị quyết 57, hoạt động nghiên cứu khoa học và đổi mới sáng tạo còn chịu nhiều ràng buộc. Các nhà khoa học có rất nhiều ý tưởng, nhưng giữa người làm khoa học và cơ quan quản lý đôi khi chưa có sự đồng thuận trong cách tiếp cận. Khi các nhà khoa học đề xuất ý tưởng nghiên cứu thì thường bị bó hẹp bởi các yêu cầu quản lý hành chính hoặc định hướng cứng nhắc.

Trong khi đó, khoa học là tri thức chung của nhân loại, không phục vụ riêng cho một cá nhân hay một đối tượng cụ thể nào. Một kết quả nghiên cứu có thể ứng dụng ở nhiều lĩnh vực, nhiều địa phương và phục vụ lợi ích chung của xã hội. Vì vậy, nếu chỉ đặt vấn đề nghiên cứu phải phục vụ trực tiếp cho ai hay cho lĩnh vực nào thì sẽ hạn chế rất lớn tính sáng tạo.

Nghị quyết 57 đã tạo ra một bước mở rất quan trọng. Tinh thần của Nghị quyết là khuyến khích nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số một cách cởi mở hơn, không bị giới hạn bởi các ranh giới hay khuôn mẫu cũ. Đồng thời, Nghị quyết cũng giúp “cởi trói” cho đội ngũ nghiên cứu khoa học, tạo tâm lý tự tin hơn cho các nhà khoa học trong việc triển khai các đề tài, mô hình nghiên cứu.

Đối với Đề án “1 triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp”, tác động của Nghị quyết 57 là rất rõ nét. Hiện nay có rất nhiều tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân muốn tham gia vào Đề án, không chỉ bằng nguồn ngân sách nhà nước mà còn bằng nguồn lực tự đầu tư của chính họ. Đây là tín hiệu rất tích cực.

Nhiều doanh nghiệp, hợp tác xã và cả nông dân đã chủ động xây dựng các mô hình canh tác giảm phát thải. Ví dụ tại An Giang, riêng khu vực Kiên Giang (cũ) đã mở rộng mô hình lên khoảng 1.200 ha trong vụ đông xuân 2025 - 2026. Các địa phương khác ở ĐBSCL cũng đang mở rộng rất mạnh.

Tuy nhiên, việc mở rộng hiện nay phần nào vẫn mang tính phong trào. Dù các biện pháp canh tác giảm phát thải và quy trình sản xuất lúa chất lượng cao đang được áp dụng ngày càng nhiều, nhưng khâu tổng hợp, thống kê và hướng dẫn thực hiện đồng bộ theo đúng quy trình vẫn còn thiếu.

Hiện, chúng ta chưa lượng hóa chính xác được bao nhiêu hộ nông dân đang áp dụng đầy đủ 100% quy trình kỹ thuật, bao nhiêu hộ áp dụng ở mức 75% hay 50%. Đây là vấn đề rất quan trọng vì nếu không đo lường được thì sau này sẽ khó báo cáo và đánh giá hiệu quả một cách đầy đủ.

Bên cạnh đó, kinh phí cho các hoạt động giám sát, đánh giá, thống kê và duy trì hệ thống theo dõi hiện vẫn còn hạn chế. Đây là những khó khăn cần tiếp tục tháo gỡ trong thời gian tới.

Tuy nhiên, theo quan sát của chúng tôi, sự tham gia của các tổ chức, doanh nghiệp và người dân hiện nay là rất mạnh mẽ và đầy hào hứng. Nếu triển khai đúng tinh thần của Nghị quyết 57, chúng ta sẽ thu hút được thêm nhiều đối tác trong và ngoài nước cùng tham gia, từ các doanh nghiệp giống, phân bón, chế phẩm sinh học cho đến các tổ chức quốc tế.

Một ví dụ rất điển hình là vấn đề xử lý rơm rạ ở ĐBSCL. Đây là bài toán rất lớn vì nếu vùi rơm rạ tươi xuống ruộng trong điều kiện ngập nước thì sẽ làm tăng phát thải khí mê-tan rất mạnh.

Theo nghiên cứu của chúng tôi, nếu vùi một lượng nhỏ rơm rạ tươi thì phát thải có thể tăng khoảng 1,5 lần so với bình thường. Nếu vùi khoảng 5 tấn rơm rạ/ha thì phát thải có thể tăng tới 2,6 lần. Nguyên nhân là quá trình phân hủy rơm rạ trong điều kiện yếm khí tạo ra lượng khí mê-tan rất lớn.

Tuy nhiên, nếu xử lý tốt thì lượng phát thải này có thể giảm đáng kể. Ví dụ, nếu kéo dài thời gian phân hủy rơm rạ trên 30 ngày trước khi gieo cấy thì có thể giảm tới 79% lượng phát thải so với việc vùi rơm rạ tươi. Nếu chuyển sang sản xuất compost thì mức giảm có thể đạt khoảng 83%.

Ngoài ra, việc sử dụng các chế phẩm vi sinh cũng là giải pháp rất tiềm năng. Các chế phẩm này giúp rút ngắn thời gian phân hủy rơm rạ, làm cho rơm rạ hoai mục tốt hơn trước khi gieo cấy, từ đó hạn chế hiện tượng ngộ độc hữu cơ cho cây lúa.

Khi rơm rạ phân hủy chưa hoàn toàn, quá trình này sẽ sinh ra khí mê-tan và H₂S gây độc cho cây lúa. Đồng thời, vi sinh vật trong quá trình phân hủy cũng cạnh tranh dinh dưỡng với cây lúa, hút nhiều đạm, lân và kali từ đất để phát triển sinh khối. Nếu gieo cấy đúng vào giai đoạn đó thì cây lúa sẽ vừa thiếu dinh dưỡng vừa bị ngộ độc hữu cơ, dẫn đến sinh trưởng kém hoặc chết cây.

Nếu có các chế phẩm vi sinh phù hợp, quá trình phân hủy sẽ diễn ra nhanh hơn, rơm rạ được xử lý triệt để hơn và cây lúa sau khi gieo cấy sẽ phát triển thuận lợi hơn, không còn bị cạnh tranh dinh dưỡng hay ngộ độc hữu cơ.

tru-so_1778943242.jpg
Trụ sở Viện Môi trường Nông nghiệp, Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam

Qua đó có thể thấy, tinh thần của Nghị quyết 57 là rất cần thiết đối với việc đưa khoa học công nghệ vào sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là trong canh tác lúa chất lượng cao, phát thải thấp. Đây không chỉ là giải pháp cho Đề án “1 triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp” mà còn mở ra hướng phát triển bền vững cho toàn ngành nông nghiệp trong thời gian tới.

PV: Xin cảm ơn ông về những chia sẻ rất cụ thể và tâm huyết.

Sỹ Tùng - Mạnh Hải