Nghị quyết số 57-NQ/TW ban hành ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị xác định khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo là động lực then chốt cho phát triển nhanh và bền vững đất nước, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu hoàn thiện thể chế, tăng cường đầu tư cho nghiên cứu cơ bản và trọng dụng nguồn nhân lực chất lượng cao. Từ thực tiễn nghiên cứu trong lĩnh vực nông nghiệp, trao đổi với phóng viên Tạp chí Nông nghiệp và Môi trường, PGS, TS. Nguyễn Duy Phương, Trưởng bộ môn Bệnh học phân tử, Viện Di truyền Nông nghiệp cho rằng, bên cạnh những chuyển động tích cực về cơ chế, điều khiến ông trăn trở nhất hiện nay vẫn là bài toán xây dựng và giữ chân đội ngũ nhà khoa học, đặc biệt là lực lượng trẻ - yếu tố mang tính quyết định đối với khả năng hiện thực hóa tinh thần của Nghị quyết trong dài hạn.
PV: Nghị quyết số 57-NQ/TW được triển khai từ năm 2025 và đang bước sang năm thứ hai. Từ góc nhìn của một nhà nghiên cứu khoa học, ông cảm nhận những chuyển động tích cực nào của Nghị quyết số 57-NQ/TW đã bắt đầu tác động tới hoạt động khoa học - công nghệ trong lĩnh vực nông nghiệp?
PGS, TS. Nguyễn Duy Phương: Về khoa học nông nghiệp, tín hiệu tích cực đầu tiên và dễ nhận thấy nhất là các cơ quan quản lý đang thực hiện rất tích cực việc thay đổi thủ tục pháp lý và sửa đổi các điều luật. Đây là bước đi tiên quyết và hoàn toàn đúng đắn của Nhà nước để mở đường cho các hoạt động tiếp theo. Trong đó, sửa đổi Luật Khoa học và Công nghệ, điều chỉnh Luật An toàn đa dạng sinh học cho phù hợp với thực tế mới, ban hành các thông tư, nghị định hướng dẫn chi tiết về Luật Trồng trọt.
Về định hướng công nghệ chiến lược, Nhà nước đã chỉ rõ các công nghệ trọng điểm cần tập trung đầu tư, nhận diện các điểm mạnh, yếu để lựa chọn hướng phát triển phù hợp. Hiện nay, các nghiên cứu theo định hướng này đang nhận được sự đầu tư thông qua các chương trình, đề tài và dự án, đặc biệt là trong lĩnh vực chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo.
PV: Trong bức tranh chung mà Nghị quyết 57-NQ/TW đang mở ra, công nghệ chỉnh sửa gen theo ông đang đứng ở vị trí nào, và vì sao công nghệ này lại được lựa chọn như một hướng đi chiến lược?
PGS, TS. Nguyễn Duy Phương: Theo tôi, công nghệ chỉnh sửa gen hiện là công nghệ tiên tiến bậc nhất trong khoa học nông nghiệp. Trong khoa học nông nghiệp, chỉnh sửa gen là quá trình thay đổi, sửa chữa những gen bất lợi trong cây trồng nhằm tạo ra hoặc cải tiến các đặc tính có lợi. Trong tự nhiên, các loài cây hoang dại thường có khả năng chống chịu rất tốt trước sâu bệnh và điều kiện bất lợi. Tuy nhiên, trong quá trình thuần hóa để đáp ứng yêu cầu về năng suất và chất lượng phục vụ con người, nhiều đặc tính tự nhiên như khả năng kháng bệnh hay chống chịu đã bị suy giảm. Công nghệ chỉnh sửa gen cho phép “sửa lại” những gen này theo hướng gần với tự nhiên, đồng thời vẫn bảo toàn các đặc tính ưu việt về năng suất và chất lượng của giống cây trồng hiện có. Ưu điểm nổi bật của công nghệ này là tạo ra các đột biến chính xác trên gen mục tiêu, không mất nhiều thời gian lai tạo, trực tiếp cải tiến tính trạng quý của cây trồng, trong khi sản phẩm cuối cùng không chứa ADN ngoại lai (không phải cây trồng biến đổi gen).
Khi Nghị quyết số 57-NQ/TW xác định đổi mới sáng tạo là định hướng xuyên suốt, thì việc lựa chọn chỉnh sửa gen làm một trong những công nghệ chiến lược chính là minh chứng rõ nét nhất cho tinh thần đó. Ngay sau khi Nghị quyết được ban hành, Đảng và Nhà nước đã xác định và ưu tiên đầu tư cho các công nghệ trọng điểm, trong đó có chỉnh sửa gen. Trên thực tế, đây không chỉ là công nghệ chiến lược của Việt Nam mà còn là xu hướng phát triển chung của thế giới. Việc tập trung vào lĩnh vực này thể hiện rõ tầm nhìn và định hướng chiến lược của Đảng và Nhà nước trong triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW.
PV: Trong quá trình triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW, bộ môn Bệnh học phân tử, Viện Di truyền Nông nghiệp đã xác định trọng tâm đóng góp của mình ra sao đối với nghiên cứu và ứng dụng công nghệ chỉnh sửa gen?
PGS, TS. Nguyễn Duy Phương: Thực tế, không cần đợi đến khi Nghị quyết số 57-NQ/TW được ban hành, Viện Di truyền Nông nghiệp đã có những định hướng nghiên cứu khá rõ ràng với công nghệ tiên tiến này. Tuy nhiên, sau khi Nghị quyết ra đời, các định hướng này trở nên chắc chắn và cụ thể hơn nhờ sự thống nhất với mục tiêu và chiến lược chung của Nhà nước.
Viện Di truyền Nông nghiệp là đơn vị nghiên cứu cơ bản định hướng ứng dụng, chúng tôi tập trung vào hai mục tiêu trọng tâm. Thứ nhất là tiếp cận và làm chủ công nghệ thông qua hợp tác nghiên cứu hoặc chuyển giao từ nước ngoài, sau đó nhanh chóng ứng dụng trực tiếp vào nghiên cứu, bao gồm cả nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng.
Thứ hai là lựa chọn các đối tượng cây trồng chủ lực của Việt Nam để ứng dụng công nghệ chỉnh sửa gen, bao gồm lúa gạo, cây ăn quả có giá trị cao như chuối, cam,… cây công nghiệp như sắn, mía,… và cây lâm nghiệp như bạch đàn, keo,… Đây là những nhóm cây có diện tích canh tác lớn, giữ vai trò quan trọng và mang lại giá trị kinh tế cao. Bên cạnh đó, các loại cây đặc sản đang gặp nhiều thách thức trong sản xuất như hồ tiêu, điều, sầu riêng cũng là những đối tượng đặt ra những bài toán lớn cần được giải quyết. Viện hướng tới ứng dụng công nghệ chỉnh sửa gen cho các nhóm cây trồng này nhằm nâng cao giá trị và hiệu quả sản xuất.
PV: Từ thực tiễn nghiên cứu, ông cho rằng những kết quả nào của bộ môn và Viện Di truyền Nông nghiệp có thể xem là bước đi cụ thể nhằm hiện thực hóa tinh thần của Nghị quyết số 57-NQ/TW?
PGS, TS. Nguyễn Duy Phương: Tại Viện Di truyền Nông nghiệp, chúng tôi không chỉ tập trung ứng dụng công nghệ chỉnh sửa gen mà còn đồng thời triển khai nhiều công nghệ chọn tạo giống tiên tiến khác như chọn giống bằng chỉ thị phân tử, chọn giống bằng đột biến. Những hướng nghiên cứu này thể hiện rõ tinh thần đổi mới sáng tạo, đẩy mạnh ứng dụng khoa học - công nghệ vào thực tiễn sản xuất nông nghiệp theo đúng định hướng của Nghị quyết số 57-NQ/TW.
Riêng trong lĩnh vực chỉnh sửa gen, Viện đã tập trung giải quyết những “điểm nghẽn” lớn nhất hiện nay trên cây lúa, đặc biệt là bệnh bạc lá và bệnh đạo ôn. Trên cơ sở đó, Viện đã tạo được các dòng lúa kháng bệnh bạc lá trên nền các giống lúa chủ lực, có chất lượng cao tại khu vực miền Bắc như Bắc Thơm 7 và TBR25.
Thực tế sản xuất cho thấy, các giống lúa chất lượng cao thường rất mẫn cảm với bệnh bạc lá, gây thiệt hại lớn về năng suất. Việc cải tiến thành công các giống này giúp duy trì năng suất ổn định, tiệm cận với nhóm giống có chất lượng trung bình, đồng thời vẫn giữ được các đặc tính về chất lượng. Các kết quả nghiên cứu như thế này, nếu được áp dụng rộng rãi, không chỉ góp phần bảo đảm nguồn cung phục vụ tiêu dùng trong nước mà còn mở ra tiềm năng phát triển các mặt hàng gạo chất lượng cao cho xuất khẩu, nâng cao giá trị mặt hàng lúa gạo của Việt Nam trên thị trường quốc tế. Đây cũng chính là minh chứng rõ nét cho yêu cầu của Nghị quyết số 57-NQ/TW: ứng dụng công nghệ cao gắn chặt với phục vụ trực tiếp cho sản xuất.
PV: Nghị quyết 57-NQ/TW nhấn mạnh việc trọng dụng và đãi ngộ nhân tài. Nhưng từ thực tiễn làm khoa học, điều gì hiện nay khiến ông trăn trở nhất trong câu chuyện xây dựng và giữ chân đội ngũ nghiên cứu, đặc biệt là lớp trẻ?
PGS, TS. Nguyễn Duy Phương: Nghị quyết 57-NQ/TW đã đề cập đến nhiệm vụ đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, song theo tôi, cần có những điều chỉnh sát thực tiễn hơn. Chúng ta đang quá tập trung vào việc tìm kiếm, đầu tư cho các chuyên gia đầu ngành - những “đầu tàu”, mà chưa thực sự quan tâm đúng mức đến việc duy trì các “toa tàu”, tức đội ngũ thực thi có năng lực. Việc tinh gọn bộ máy là cần thiết, nhưng song song với đó phải có cơ chế đãi ngộ đặc thù để giữ chân những người đang trực tiếp làm nghiên cứu, tránh tình trạng chỉ chú trọng cái mới mà bỏ quên những giá trị tốt đã được tích lũy từ giai đoạn trước. Trong khoa học, nếu một nhà nghiên cứu bị gián đoạn công việc trong thời gian dài, việc quay trở lại là vô cùng khó khăn.
Đối với các nhà khoa học trẻ, trình độ Cử nhân hay Thạc sĩ là chưa đủ để thực hiện các nghiên cứu một cách trọn vẹn; việc đào tạo lên trình độ Tiến sĩ gần như là yêu cầu bắt buộc để phát triển sự nghiệp nghiên cứu khoa học. Hiện nay, tình trạng cán bộ nghiên cứu rời bỏ các cơ quan nhà nước đang diễn ra khá phổ biến trong lĩnh vực khoa học nông nghiệp. Chúng ta đang tập trung đầu tư đào tạo nhân lực mới, nhưng lại chưa chú trọng đúng mức đến việc giữ chân nguồn nhân lực chất lượng cao sẵn có. Trong khi đó, để đào tạo một chuyên gia đầu ngành, cần ít nhất từ 15 đến 20 năm, nhưng nếu họ rời đi, chúng ta sẽ phải mất thêm tối thiểu 10 năm nữa để xây dựng lại một thế hệ mới.
PV: Ở góc độ một nhà khoa học trực tiếp làm nghiên cứu, ông cho rằng những điều chỉnh nào về cơ chế, chính sách sẽ giúp các kết quả nghiên cứu chỉnh sửa gen được chuyển hóa nhanh hơn thành ứng dụng phục vụ sản xuất?
PGS, TS. Nguyễn Duy Phương: Để các kết quả nghiên cứu có thể nhanh chóng được chuyển hóa vào thực tiễn, theo quan điểm cá nhân tôi, cần có những điều chỉnh cụ thể và thực chất hơn trong cơ chế triển khai. Đặc biệt, với định hướng của Nghị quyết 57-NQ/TW, khi chúng ta xác định tập trung phát triển các công nghệ mới và công nghệ chiến lược thì yêu cầu đặt ra là phải đầu tư cho nghiên cứu cơ bản một cách bài bản và dài hạn. Tuy nhiên, đây là lĩnh vực không thể tạo ra sản phẩm hay giá trị kinh tế ngay lập tức, mà đòi hỏi quá trình tích lũy tri thức trong nhiều năm, với sự tham gia của số lượng lớn nhà khoa học.
Theo tôi, một nhóm nghiên cứu nhỏ với các đề tài đơn lẻ không thể giải quyết được những bài toán lớn. Trong nhiều trường hợp, cần có nhiều nhóm nghiên cứu cùng tham gia, mỗi nhóm đảm nhiệm một đề tài, một hướng hoặc một hợp phần khác nhau; chỉ khi các kết quả này được tích hợp, chúng ta mới có thể giải quyết trọn vẹn những vấn đề lớn đặt ra cho ngành.
Một trong những vấn đề quan trọng nhất hiện nay là cần hiểu đúng khái niệm “tự chủ trong khoa học”. Đây là mối quan tâm chung của hầu hết các nhà khoa học, nhưng dường như chúng ta vẫn đang tiếp cận chưa thật sự đúng bản chất. Tự chủ trong khoa học không đồng nghĩa với việc nhà khoa học phải tự đi tìm nguồn thu để nuôi sống bản thân hay đơn vị, mà cần được hiểu là một cơ chế cho phép họ toàn tâm, toàn ý tập trung vào nghiên cứu và sáng tạo trên nền tảng được Nhà nước bảo đảm các điều kiện cơ bản.
Bên cạnh đó, cần đầu tư mạnh mẽ hơn cho cơ sở vật chất và đồng thời thay đổi cách thức tổ chức, vận hành hoạt động nghiên cứu. Mong muốn lớn nhất của các nhà khoa học là mỗi ngày được làm việc trong phòng thí nghiệm mà không phải bận tâm đến các chi phí vận hành như điện, nước, hóa chất hay kinh phí duy trì nghiên cứu. Chúng tôi mong được tập trung làm khoa học và trả sản phẩm cho Nhà nước, thay vì phải lo lắng liệu tháng tới có còn kinh phí trả lương hay còn đủ hóa chất để tiếp tục nghiên cứu hay không. Ở nhiều quốc gia, nghiên cứu khoa học không phải là con đường để làm giàu, nhưng các nhà khoa học luôn được bảo đảm những điều kiện tối thiểu để yên tâm làm việc lâu dài.
Nghị quyết 57-NQ/TW cũng đặt ra định hướng xây dựng các phòng thí nghiệm lớn và trung tâm nghiên cứu xuất sắc. Tuy nhiên, trong các đề án và dự án được đề xuất, hầu như chưa thấy làm rõ các vấn đề cốt lõi như: ai sẽ trực tiếp vận hành các phòng thí nghiệm này, cơ chế duy trì hoạt động ra sao, và nguồn kinh phí nào để trả lương ổn định cho đội ngũ nhà khoa học làm việc tại đó. Dường như chúng ta vẫn đang chú trọng nhiều đến phần “bề nổi” là xây dựng công trình, mua sắm trang thiết bị, mà chưa thực sự quan tâm đúng mức đến yếu tố con người và bài toán vận hành bền vững trong dài hạn.
PV: Một trong những mục tiêu của Nghị quyết số 57-NQ/TW là huy động nguồn lực xã hội cho khoa học - công nghệ. Theo ông, điều gì sẽ tạo niềm tin để doanh nghiệp sẵn sàng tham gia cùng các viện nghiên cứu trong lĩnh vực chỉnh sửa gen?
PGS, TS. Nguyễn Duy Phương: Về tiềm năng, công nghệ chỉnh sửa gen là một hướng đi rất hứa hẹn. Thực tế triển khai cho thấy, ở dự án thứ hai, chúng tôi đã thu hút được doanh nghiệp tham gia với tỷ lệ vốn rất cao, doanh nghiệp đóng góp 70%, Nhà nước hỗ trợ 30%. Điều này chứng tỏ các doanh nghiệp cũng rất nhạy bén nhìn thấy được giá trị tiềm năng của công nghệ chỉnh sửa gen.
Tuy nhiên, rào cản lớn nhất hiện nay nằm ở hành lang pháp lý. Sau khi nghiên cứu hoàn tất, chúng tôi không thể bàn giao sản phẩm cho doanh nghiệp, khiến kết quả nghiên cứu phải dừng lại trong phòng thí nghiệm. Với những công nghệ đột phá như chỉnh sửa gen, không thể kỳ vọng doanh nghiệp tham gia ngay từ đầu. Do đặc thù nghiên cứu nông nghiệp cần thời gian dài, Nhà nước cần đóng vai trò tiên phong đầu tư trong giai đoạn đầu để chứng minh tính khả thi và tạo ra sản phẩm thực tế. Khi kết quả đã được kiểm chứng, niềm tin của doanh nghiệp sẽ được xác lập.
Tôi tin rằng, với định hướng của Nghị quyết số 57-NQ/TW và các điều chỉnh trong Luật Khoa học và Công nghệ, khi sản phẩm đã hoàn thiện, Nhà nước hoàn toàn có thể chuyển giao trọn gói cho doanh nghiệp để thương mại hóa.
PV: Nhìn về giai đoạn 2026 - 2030, ông kỳ vọng Nghị quyết số 57-NQ/TW sẽ tạo ra những thay đổi rõ nét nhất ở khâu nào để công nghệ chỉnh sửa gen phát triển đúng với tiềm năng và nhu cầu thực tiễn?
PGS, TS. Nguyễn Duy Phương: Theo đánh giá cá nhân của tôi, công nghệ chỉnh sửa gen đang phát triển với tốc độ “tên lửa”. Dù mới xuất hiện từ năm 2013, nhưng chỉ sau khoảng 12 năm, thế giới đã đạt được những bước tiến cực kỳ mạnh mẽ, trong khi Việt Nam hiện mới bắt đầu tiếp cận ở giai đoạn đầu mà thế giới đã đi qua. Điều đó cho thấy chúng ta đang chậm nhịp và có nguy cơ tụt hậu rõ rệt về công nghệ.
Theo tôi, thay đổi rõ nét và cấp bách nhất trong giai đoạn 2026 - 2030 phải đến từ việc hoàn thiện hành lang pháp lý. Hiện nay, cây trồng chỉnh sửa gen vẫn đang bị hiểu nhầm là cây trồng biến đổi gen, khiến nhiều kết quả nghiên cứu bị đình trệ trong phòng thí nghiệm. Chỉ cần có quy định rõ ràng, coi chỉnh sửa gen thực sự chỉ là một công cụ chọn giống thông thường, sản phẩm tạo ra khác biệt hoàn toàn với GMO về bản chất, sản phẩm chỉnh sửa gen phải được xem như các sản phẩm cây trồng chọn giống bằng phương pháp thông thường; khi đó chúng ta có thể đưa sản phẩm nghiên cứu ra sản xuất rất nhanh, trung bình khoảng 2 - 3 năm.
Dù đã nói nhiều về công nghệ và pháp lý, điều khiến tôi trăn trở nhất vẫn là bài toán xây dựng và giữ chân đội ngũ nhà khoa học trẻ. Đáng lẽ đây phải là mối lo của các thế hệ 7X đi trước, nhưng hiện nay, ngay cả ở độ tuổi của tôi cũng đã phải đau đáu về sự thiếu hụt nguồn nhân lực kế cận. Tôi kỳ vọng Nghị quyết số 57-NQ/TW sẽ trở thành chìa khóa tháo gỡ nút thắt này, giúp các nhà khoa học được giải phóng khỏi gánh nặng thủ tục, để toàn tâm toàn ý cống hiến cho nghiên cứu.
Xin trân trọng cảm ơn ông!