Phục hồi rừng ngập mặn ĐBSCL: Từ nhận diện vòng lặp suy thoái đến thiết kế bảo vệ bờ theo cân bằng bùn cát

Phục hồi rừng ngập mặn ĐBSCL: Từ nhận diện vòng lặp suy thoái đến thiết kế bảo vệ bờ theo cân bằng bùn cát

Thứ sáu, 3/7/2026, 07:19 (GMT+7)
logo Trong bối cảnh xói lở bờ biển và suy thoái rừng ngập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long diễn ra ngày càng nghiêm trọng, công trình nghiên cứu của GS, TS. Thiều Quang Tuấn, Khoa Công trình, Đại học Thủy lợi, đã tiếp cận vấn đề từ gốc rễ thủy động lực - hình thái bờ biển. Thay vì chỉ nhìn nhận xói lở như một hiện tượng mất đất ven biển, nghiên cứu chỉ ra “vòng lặp suy thoái” giữa thiếu hụt bùn cát, hiệu ứng bóp nghẹt ven biển và sự suy giảm môi trường sống của cây ngập mặn; từ đó đề xuất nguyên lý bảo vệ bờ đa cấp độ, lấy khôi phục cân bằng động lực bùn hạt mịn làm trọng tâm.
picture2_1782807785.png
Các yếu tố và quá trình liên quan tới xói lở bờ biển rừng ngập mặn ở ĐBSCL (Tuan, 2024)

Nhìn lại xói lở từ nền tảng khoa học của bờ biển bùn - rừng ngập mặn

Đồng bằng sông Cửu Long là một trong những vùng châu thổ chịu áp lực lớn nhất trước tác động tổng hợp của nước biển dâng, lún sụt đất, suy giảm nguồn bùn cát và các hoạt động can thiệp của con người vào vùng bãi triều. Trong nhiều năm qua, tình trạng xói lở bờ biển, mất rừng ngập mặn, thu hẹp đai phòng hộ ven biển đã được ghi nhận ở nhiều địa phương ven biển khu vực này.

Điểm đáng chú ý trong công trình nghiên cứu của GS, TS. Thiều Quang Tuấn không chỉ dừng ở mô tả hiện tượng xói lở, mà đi sâu lý giải cơ chế làm cho xói lở và suy thoái rừng ngập mặn tự khuếch đại lẫn nhau. Theo nghiên cứu, có tới 68% tổng chiều dài đường bờ ở Đồng bằng sông Cửu Long đang bị xói lở; đặc biệt, hơn 90% các đoạn xói lở có liên quan tới đai rừng ngập mặn. Ở một số nơi, đai rừng phía trước đê đã hoàn toàn biến mất. Tốc độ biển lấn trung bình từ năm 1985 đến nay khoảng 20 m/năm, trong khi tại một số điểm nóng ở dải bờ phía Đông Mũi Cà Mau có thể lên tới 60 m/năm.

Những con số này cho thấy xói lở bờ biển không còn là vấn đề cục bộ, mà đã trở thành thách thức trực tiếp đối với an toàn đê biển, sinh kế ven biển, đa dạng sinh học và khả năng chống chịu của toàn vùng đồng bằng. Tuy nhiên, theo tác giả, nhiều giải pháp công trình giảm sóng, gây bồi và trồng lại rừng đã được triển khai trong thời gian qua vẫn chủ yếu mang tính ứng phó khẩn cấp, chưa dựa đầy đủ trên phân tích về nguồn cung bùn cát, đặc điểm thủy động lực và điều kiện sinh trưởng của cây ngập mặn ở từng đoạn bờ cụ thể.

Đây chính là khoảng trống mà công trình nghiên cứu hướng tới: làm rõ vì sao nhiều nỗ lực trồng rừng, kể cả khi có công trình giảm sóng hỗ trợ, vẫn chưa đạt hiệu quả như kỳ vọng; đồng thời đề xuất cách tiếp cận mới, trong đó giải pháp bảo vệ bờ phải được thiết kế theo mục tiêu khả dĩ và điều kiện cân bằng bùn cát của từng khu vực.

Công trình của GS, TS. Thiều Quang Tuấn có giá trị ở chỗ đã chuyển cách nhìn về xói lở bờ biển Đồng bằng sông Cửu Long từ xử lý hiện tượng sang nhận diện đúng cơ chế suy thoái của hệ bờ biển bùn - rừng ngập mặn. Nghiên cứu chỉ ra rằng, nguyên nhân cốt lõi không chỉ là sóng hay mất rừng, mà là sự mất cân bằng động lực bùn hạt mịn, cộng hưởng với hiệu ứng “bóp nghẹt ven biển”, lún sụt đất và nước biển dâng tương đối. Từ đó, công trình đề xuất hướng bảo vệ bờ đa cấp độ, trong đó mấu chốt không phải là bê tông hóa hay trồng rừng bằng mọi giá, mà là khôi phục điều kiện trao đổi bùn cát, xác định mục tiêu khả dĩ cho từng đoạn bờ và thiết kế công trình phù hợp với quy luật tự nhiên. Đây là đóng góp có ý nghĩa khoa học và thực tiễn quan trọng cho quản lý, phục hồi rừng ngập mặn và bảo vệ bờ biển bền vững ở ĐBSCL.

“Bóp nghẹt ven biển” và vòng lặp suy thoái rừng ngập mặn

Một đóng góp quan trọng của bài báo là phân tích hiệu ứng “bóp nghẹt ven biển” - coastal squeeze - trong bối cảnh đặc thù của Đồng bằng sông Cửu Long. Hiệu ứng này xảy ra khi rừng ngập mặn không còn không gian để dịch chuyển tự nhiên về phía đất liền nhằm thích ứng với mực nước biển dâng tương đối, do bị chặn lại bởi các công trình như đê biển, bờ bao ao nuôi thủy sản hoặc các kết cấu ngăn cách không thấm nước trên bãi triều.

Theo nghiên cứu, mực nước biển dâng tương đối ở Đồng bằng sông Cửu Long không chỉ đến từ nước biển dâng do biến đổi khí hậu, mà còn bị khuếch đại mạnh bởi lún sụt đất. GS, TS. Thiều Quang Tuấn dẫn các nghiên cứu cho thấy lún sụt đất vùng ven biển ĐBSCL có thể vào khoảng 2-3 cm/năm, tức gấp khoảng 10 lần tốc độ nước biển dâng 2-3 mm/năm. Cùng với đó, lượng bùn cát từ sông Mê Kông đổ ra biển hằng năm ước tính đã giảm tới 50% so với giai đoạn trước khi xây dựng các hồ chứa lớn ở thượng nguồn.

Sự kết hợp giữa thiếu hụt bùn cát, lún sụt đất, nước biển dâng và các công trình ngăn cách trên bãi triều tạo ra một thế kẹt cho hệ sinh thái rừng ngập mặn. Phía biển, sóng và thủy triều tiếp tục gây xói lở; phía đất liền, đai rừng không thể dịch chuyển để thích nghi. Khi bãi bùn bị hạ thấp, rễ cây bị phơi lộ, cây phía ngoài bị bật gốc, khả năng giữ bùn và bồi lắng tự nhiên của rừng suy giảm. Rừng mất đi lại làm sóng tác động mạnh hơn vào bãi, khiến xói lở tiếp tục tăng. Đó là vòng lặp phản hồi dương mà tác giả gọi là vòng lặp suy thoái rừng ngập mặn.

Nói cách khác, rừng ngập mặn không chỉ là “nạn nhân” của xói lở, mà khi bị suy thoái, chính sự mất đi của rừng lại làm bãi bùn mất khả năng tự phục hồi. Vòng lặp này giải thích vì sao ở nhiều khu vực, trồng lại rừng ngập mặn thất bại: cây non không thể phát triển nếu nền bãi chưa đạt cao trình, độ ổn định và điều kiện bùn cát phù hợp.

Đây là điểm có ý nghĩa chính sách rất lớn. Bởi nếu chỉ trồng cây trên một bãi đang mất cân bằng bùn cát, hoặc chỉ xây công trình giảm sóng nhưng không khôi phục được trao đổi bùn mịn, thì giải pháp sẽ khó bền vững. Muốn phục hồi rừng, trước hết phải phục hồi được điều kiện sống của rừng.

97a_1782808099.png
Đồng bằng sông Cửu Long là một trong những khu vực chịu tác động mạnh bởi biến đổi khí hậu. 

Từ giảm sóng đơn thuần đến khôi phục cân bằng bùn hạt mịn

Một luận điểm xuyên suốt trong nghiên cứu của GS, TS. Thiều Quang Tuấn là: đối với bờ biển bùn có rừng ngập mặn, bảo vệ bờ không thể chỉ hiểu là “giảm sóng”. Khác với bờ biển cát, nơi giảm sóng hoặc giảm dòng chảy có thể tạo điều kiện bồi tụ, bờ biển bùn chịu sự chi phối phức tạp hơn bởi quá trình kết bông, lắng đọng và tái huy động của các hạt bùn mịn.

Theo GS, TS. Thiều Quang Tuấn, quá trình lắng đọng bùn thường xảy ra ở rìa rừng ngập mặn khi dòng chảy có nồng độ bùn lơ lửng đủ lớn, thường lớn hơn nhiều so với 200 mg/l, đồng thời động năng rối phải đủ nhỏ để hạt bùn có thể kết bông và lắng xuống. Sóng, trong trường hợp này, không chỉ là tác nhân gây xói, mà còn có vai trò khuấy động bùn cát lơ lửng ở vùng ven bờ; sau đó dòng triều mang bùn vào bãi và tạo bồi nếu điều kiện lắng đọng phù hợp.

Vì vậy, công trình bảo vệ bờ cần được thiết kế để vừa giảm năng lượng sóng ở mức hợp lý, vừa không cắt đứt trao đổi triều và vận chuyển bùn cát. Những kết cấu quá kín, ít thấm hoặc đặt không đúng vị trí có thể làm giảm trao đổi nước, gây bồi cát thay vì bồi bùn, hoặc thậm chí làm xấu thêm điều kiện sinh trưởng của cây ngập mặn.

Từ phân tích này, nghiên cứu đề xuất nguyên lý chung trong thiết kế giải pháp công trình: nếu có hiệu ứng bóp nghẹt ven biển thì trước tiên cần loại bỏ hoặc di chuyển các công trình cứng gây mất cân bằng trao đổi bùn; sử dụng đê giảm sóng kết cấu rỗng, có độ thấm phù hợp để cho phép dòng triều và bùn cát đi vào; đồng thời bố trí hệ thống công trình thành nhiều tuyến hoặc các ô lắng bùn tùy theo đặc điểm bãi xói nông, bãi xói sâu hay bãi rộng.

Đây là cách tiếp cận “thuận thiên” hơn so với xu hướng bê tông hóa bờ biển. Công trình không chỉ làm nhiệm vụ chắn sóng, mà phải mô phỏng phần nào chức năng của đai rừng ngập mặn: làm dịu năng lượng sóng, cho nước và bùn đi qua, tạo vùng lắng đọng, nâng cao trình bãi, rồi mới tiến tới phục hồi rừng.

Bảo vệ bờ đa cấp độ: xác định mục tiêu khả dĩ trước khi đầu tư

Một nội dung có giá trị ứng dụng cao của công trình là đề xuất hệ thống bảo vệ bờ theo các cấp độ, gắn với mục tiêu khả dĩ của từng đoạn bờ. Theo nghiên cứu của GS, TS. Thiều Quang Tuấn, không phải nơi nào cũng có thể trồng lại rừng ngay; cũng không phải nơi nào xây công trình giảm sóng là có thể gây bồi. Điều quan trọng là phải xác định đúng điều kiện thực tế: còn nguồn bùn cát hay không, bãi đã xói sâu đến mức nào, rừng còn rộng hay đã thu hẹp, tác nhân gây xói là mãn tính hay có thể xử lý.

Nghiên cứu đề xuất bốn cấp độ bảo vệ, trong đó cấp độ 0 là không can thiệp, phù hợp với những nơi đai rừng còn rộng, xói lở nhẹ, còn nguồn bùn cát và cần tiếp tục theo dõi. Cấp độ 1 là giữ vị trí đường bờ hiện hữu và bảo toàn đai rừng còn lại, áp dụng cho những vị trí bãi đã xói sâu, không thể gây bồi do thiếu nguồn bùn cát. Ở cấp độ này, mục tiêu không phải là trồng lại rừng ngay, mà là ngăn xói lở tiếp diễn, bảo vệ phần đai rừng còn lại và bảo đảm sóng phía sau đê không vượt ngưỡng gây hại cho cây ngập mặn; nghiên cứu nêu ngưỡng chiều cao sóng cho phép là 0,40 m.

Cấp độ 2 hướng tới gây bồi tạo bãi. Cấp độ này chỉ khả thi khi bãi bị xói nhẹ đến vừa, còn nguồn bùn cát cung cấp, chẳng hạn ở khu vực gần cửa sông hoặc nơi xói lở chủ yếu do dao động mùa, do hiệu ứng bóp nghẹt ven biển có thể xử lý được. Khi đó, hệ thống công trình phải được thiết kế để tạo “bể lắng bùn”, kiểm soát ứng suất tiếp đáy do sóng và dòng chảy trong giới hạn cho phép để bùn có thể lắng đọng.

Cấp độ 3 là trồng tái tạo đai cây ngập mặn. Đây là mục tiêu cao nhất nhưng cũng đòi hỏi điều kiện chặt chẽ nhất: mức độ xói nhẹ, có nguồn cung bùn cát dồi dào, các tác nhân gây xói có thể được giảm thiểu hoặc loại bỏ. Trước khi trồng rừng, bãi phải được gây bồi và khôi phục tới cao trình phù hợp với sinh trưởng của cây non. Như vậy, trồng rừng không phải bước khởi đầu, mà là kết quả của một quá trình khôi phục điều kiện nền bãi.

Cách phân cấp này có ý nghĩa thực tiễn quan trọng, bởi nó giúp tránh tình trạng đầu tư dàn trải hoặc đặt mục tiêu vượt quá khả năng tự nhiên của từng đoạn bờ. Với nơi thiếu bùn cát nghiêm trọng và bãi đã xói sâu, mục tiêu gây bồi để trồng rừng có thể không khả thi trong ngắn hạn; khi đó, cần ưu tiên giữ bờ và bảo vệ rừng còn lại. Ngược lại, ở nơi còn nguồn bùn và mức độ xói nhẹ, có thể thiết kế giải pháp gây bồi, phục hồi bãi và từng bước tái tạo đai rừng.

Giá trị của nghiên cứu đối với quản lý bờ biển Đồng bằng sông Cửu Long

Công trình của GS, TS. Thiều Quang Tuấn có giá trị ở cả phương diện khoa học và quản lý thực tiễn. Về khoa học, bài báo làm rõ cơ chế tương tác giữa thủy động lực, bùn cát hạt mịn, hình thái bãi triều và sinh trưởng của rừng ngập mặn. Thay vì coi công trình bảo vệ bờ là giải pháp kỹ thuật độc lập, nghiên cứu đặt công trình trong hệ sinh thái bờ biển bùn – rừng ngập mặn, nơi mọi can thiệp đều phải tính đến dòng triều, nguồn bùn, cao trình bãi và khả năng phục hồi tự nhiên của cây.

Về quản lý, nghiên cứu đưa ra một thông điệp rõ ràng: trước khi lựa chọn giải pháp, cần đánh giá đúng nguyên nhân và cấp độ xói lở; trước khi trồng rừng, cần phục hồi môi trường sống của rừng; trước khi xây công trình, cần xác định công năng theo mục tiêu khả dĩ. Đây là cách tiếp cận có thể hỗ trợ các địa phương ven biển ĐBSCL trong lập quy hoạch bảo vệ bờ, lựa chọn công trình giảm sóng, xác định khu vực ưu tiên phục hồi rừng và tránh các giải pháp cứng có nguy cơ làm suy giảm khả năng chống chịu lâu dài của hệ thống ven biển.

GS, TS. Thiều Quang Tuấn cũng nhấn mạnh nhu cầu tiếp tục có các nghiên cứu chuyên sâu về quá trình thủy động lực, hình thái bồi lắng bùn cát hạt mịn trên bãi bùn cây ngập mặn; đồng thời cần điều tra, khảo sát để xây dựng quy hoạch chi tiết về mục tiêu bảo vệ khả dĩ cho từng vùng ở ĐBSCL, dựa trên nguồn gốc, tính chất và quy mô của mất cân bằng bùn cát.

Trong bối cảnh Đồng bằng sông Cửu Long đang đứng trước những thách thức kép của biến đổi khí hậu, lún sụt đất, thiếu hụt phù sa và áp lực phát triển ven biển, công trình nghiên cứu này gợi mở một định hướng rất đáng chú ý: bảo vệ bờ biển không chỉ là dựng lên những tuyến chắn sóng, mà là tái lập lại cân bằng tự nhiên đã bị phá vỡ. Khi bùn cát, thủy triều, bãi triều và rừng ngập mặn được nhìn nhận như một hệ thống thống nhất, các giải pháp bảo vệ bờ mới có cơ sở để bền vững hơn, ít đối kháng với tự nhiên hơn và phù hợp hơn với tương lai thích ứng của Đồng bằng sông Cửu Long.

Top of Form

Bottom of Form

 

Hồng Minh