Quản lý sức khỏe, nâng cao chất lượng giống tôm nước lợ tại Việt Nam

Quản lý sức khỏe, nâng cao chất lượng giống tôm nước lợ tại Việt Nam

Thứ hai, 8/6/2026, 07:12 (GMT+7)
logo Trước áp lực cạnh tranh quốc tế, nguy cơ dịch bệnh và yêu cầu chủ động nguồn tôm bố mẹ, Hội thảo “Quản lý sức khỏe và nâng cao chất lượng giống tôm nước lợ tại Việt Nam” đã tập trung thảo luận các giải pháp nâng cao chất lượng con giống, kiểm soát an toàn sinh học, an toàn dịch bệnh và truy xuất nguồn gốc, hướng tới phát triển ngành tôm theo hướng bền vững.

Tôm nước lợ giữ vai trò chủ lực

Hội thảo do Cục Thủy sản và Kiểm ngư phối hợp với Sở Nông nghiệp và Môi trường Khánh Hòa tổ chức tại phường Ninh Chử, tỉnh Khánh Hòa, với sự tham dự của TS. Trần Đình Luân – Cục trưởng Cục Thủy sản và Kiểm ngư; ông Nguyễn Trọng Chánh – Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Khánh Hòa; cùng đại diện các đơn vị thuộc Bộ Nông nghiệp và Môi trường, các tỉnh thành, cơ quan quản lý thủy sản, thú y thủy sản, viện nghiên cứu, trường đại học, hiệp hội và doanh nghiệp trong lĩnh vực sản xuất giống, thức ăn, nuôi tôm nước lợ, vật tư nuôi trồng thủy sản.

quan-ly-suc-khoe-va-nang-cao-chat-luong-tom-nuoc-lo-viet-nam-2_1780641488.jpg
TS. Trần Đình Luân phát biểu tại Hội thảo

Nội dung hội thảo tập trung vào các giải pháp nâng cao chất lượng, sức khỏe tôm giống; tăng cường quản lý sản xuất giống, kiểm soát dịch bệnh, bảo đảm an toàn sinh học; tháo gỡ khó khăn trong sản xuất, cung ứng giống tôm nước lợ. Đây cũng là hoạt động góp phần triển khai Kế hoạch quốc gia phòng, chống một số dịch bệnh nguy hiểm trên thủy sản nuôi giai đoạn 2021–2030.

Phát biểu tại hội thảo, TS. Trần Đình Luân cho biết, ngành tôm hiện đóng góp hơn 4,3 tỷ USD, chiếm trên 40% tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu thủy sản cả nước. Dù quỹ đất có xu hướng thu hẹp, diện tích nuôi cơ bản không tăng, duy trì khoảng 750.000 ha, sản lượng tôm nước lợ vẫn tăng trưởng ổn định. Kết quả này đến từ sự chuyển dịch mạnh trong cơ cấu sản xuất, từ mô hình quảng canh, quảng canh cải tiến, tôm - lúa, tôm - rừng sang nuôi thâm canh, siêu thâm canh, gắn với ứng dụng khoa học công nghệ vào quy trình vận hành.

Bên cạnh những kết quả đạt được, Cục trưởng Cục Thủy sản và Kiểm ngư cũng chỉ ra những thách thức mang tính hệ thống của ngành tôm. Hệ thống cơ sở sản xuất giống đã có sự sàng lọc tự nhiên, giảm từ khoảng 2.400 trại xuống còn hơn 1.900 cơ sở, song công tác quản lý chất lượng con giống từ nơi sản xuất đến hộ nuôi vẫn còn nhiều bất cập, khiến tình hình dịch bệnh trên tôm giống diễn biến phức tạp.

Đặc biệt, điểm nghẽn lớn hiện nay là Việt Nam vẫn chưa chủ động được nguồn tôm bố mẹ, trong khi nguồn nhập khẩu rất đa dạng và tiềm ẩn rủi ro về nguồn cung, chất lượng, giá thành. Trong bối cảnh cạnh tranh quốc tế ngày càng gay gắt, khi Ecuador, Ấn Độ liên tục gia tăng thị phần, còn Thái Lan đang triển khai các chương trình phục hồi ngành tôm, việc thay đổi tư duy quản lý, nâng cao chất lượng giống và kiểm soát dịch bệnh từ gốc trở thành yêu cầu cấp thiết.

quan-ly-suc-khoe-va-nang-cao-chat-luong-tom-nuoc-lo-viet-nam-1_1780641486.jpg
ThS. Nguyễn Văn Hữu chia sẻ tham luận Giải pháp nâng cao sức khoẻ và chất lượng giống tôm nước lợ tại Việt Nam

Theo báo cáo đề dẫn của ThS. Nguyễn Văn Hữu, Quyền Trưởng phòng Quản lý bệnh thủy sản, Cục Thủy sản và Kiểm ngư, giai đoạn 2021–2025, nuôi trồng thủy sản tiếp tục duy trì vai trò động lực tăng trưởng của ngành. Riêng với tôm nước lợ, diện tích nuôi cơ bản ổn định nhưng sản lượng tăng mạnh, phản ánh xu hướng chuyển dịch sang thâm canh, siêu thâm canh, ứng dụng công nghệ cao và nuôi nhiều giai đoạn.

Trong sản xuất giống, sản lượng tiếp tục tăng, trong khi số cơ sở có xu hướng giảm. Điều này cho thấy năng lực sản xuất đang dần tập trung vào các cơ sở quy mô lớn hơn, có điều kiện đầu tư công nghệ, kiểm soát an toàn dịch bệnh và đáp ứng yêu cầu truy xuất nguồn gốc.

Khánh Hòa khẳng định vị thế “thủ phủ tôm giống”

Từ thực tiễn địa phương, tham luận của ông Huỳnh Minh Khánh, Phó Chi cục trưởng Chi cục Chăn nuôi và Thú y tỉnh Khánh Hòa, cho thấy Khánh Hòa tiếp tục là một trong những trung tâm sản xuất, ương dưỡng giống tôm nước lợ lớn nhất cả nước.

Năm 2025, sản lượng tôm giống toàn tỉnh đạt gần 50 tỷ con, hoàn thành kế hoạch và tăng so với năm trước. Khánh Hòa hiện có khoảng 480 cơ sở sản xuất, ương dưỡng tôm giống nước lợ, với năng lực cung ứng khoảng 50 tỷ con giống mỗi năm. Sản lượng tôm giống của tỉnh chiếm trên 30% tổng sản lượng tôm giống cả nước.

Nhiều doanh nghiệp trên địa bàn đã đầu tư công nghệ sản xuất hiện đại, áp dụng hệ thống siêu lọc, tia cực tím, ozone, công nghệ sinh học trong xử lý môi trường, kiểm soát dịch bệnh và nâng cao chất lượng con giống. Nhiều cơ sở áp dụng các tiêu chuẩn quản lý chất lượng như BMP, VietGAP, GlobalGAP, BAP và tiêu chuẩn của Tổ chức Thú y thế giới.

quan-ly-suc-khoe-va-nang-cao-chat-luong-tom-nuoc-lo-viet-nam-10_1780641486.jpg
Ông Huỳnh Minh Khánh chia sẻ tham luận tại Hội thảo

Công tác kiểm dịch, giám sát dịch bệnh cũng được địa phương tăng cường. Trong 5 tháng đầu năm 2026, Chi cục Chăn nuôi và Thú y tỉnh Khánh Hòa đã kiểm dịch xuất tỉnh hơn 22 tỷ con tôm giống, cấp giấy chứng nhận kiểm dịch điện tử có gắn mã QR phục vụ truy xuất nguồn gốc.

Tuy nhiên, Khánh Hòa cũng đối mặt với nhiều khó khăn như biến đổi khí hậu, thời tiết bất thường làm tăng nguy cơ dịch bệnh; một số vùng sản xuất giống tập trung chưa được đầu tư đồng bộ về điện, cấp thoát nước, xử lý nước thải và giao thông nội vùng; chi phí sản xuất tăng; nguồn tôm thẻ chân trắng bố mẹ vẫn phụ thuộc lớn vào nhập khẩu; số lượng cơ sở nhỏ lẻ còn nhiều, liên kết chuỗi chưa chặt chẽ.

An toàn sinh học và chủ động phòng bệnh, nâng chất lượng giống

Một nội dung quan trọng được nhấn mạnh tại hội thảo là an toàn sinh học và an toàn dịch bệnh trong cơ sở sản xuất, ương dưỡng tôm giống. Theo ThS. Bùi Thị Việt Hằng, Phó Trưởng phòng Quản lý bệnh thủy sản, Cục Thủy sản và Kiểm ngư, Việt Nam là quốc gia sản xuất và xuất khẩu tôm hàng đầu thế giới, nhu cầu giống cho nuôi tôm nước lợ rất lớn; trong đó, chất lượng con giống quyết định khoảng 60% thành công của vụ nuôi.

Tuy nhiên, sản xuất giống vẫn còn tồn tại như quy mô nhỏ lẻ phổ biến, điều kiện an toàn sinh học chưa đồng đều, tỷ lệ cơ sở được chứng nhận an toàn dịch bệnh còn thấp, kiểm soát nguồn giống bố mẹ còn hạn chế. Năm 2025, cả nước có 1.910 cơ sở sản xuất, ương dưỡng giống tôm nước lợ; sản lượng giống đạt 167,58 tỷ con, gồm 116,89 tỷ con tôm thẻ và 50,69 tỷ con tôm sú. Trong khi đó, số cơ sở được cấp giấy chứng nhận an toàn dịch bệnh mới đạt 83 cơ sở.

quan-ly-suc-khoe-va-nang-cao-chat-luong-tom-nuoc-lo-viet-nam-9_1780641482.jpg
PGS, TS. Võ Văn Nha đề xuất một số giải pháp phòng bệnh

Theo yêu cầu an toàn sinh học, các trại giống cần bố trí riêng khu tôm bố mẹ, khu ương ấu trùng, khu xử lý nước, khu cách ly và khu xử lý chất thải; hệ thống cấp, thoát nước phải tách biệt; nước cấp và nước thải phải được xử lý trước khi sử dụng hoặc xả ra môi trường. Cơ sở cũng cần kiểm soát người ra vào, trang bị hố sát trùng, sử dụng trang phục riêng và hạn chế khách tham quan.

Đối với tôm bố mẹ và con giống, yêu cầu đặt ra là phải có nguồn gốc rõ ràng, được kiểm dịch theo quy định, xét nghiệm bệnh trước khi đưa vào sản xuất; không sử dụng tôm không rõ nguồn gốc và lưu đầy đủ hồ sơ để phục vụ quản lý, truy xuất.

Dịch bệnh tiếp tục là thách thức lớn đối với sản xuất giống và nuôi thương phẩm. Theo PGS, TS. Võ Văn Nha, Phó Giám đốc Viện Khoa học Thủy sản Việt Nam, các bệnh nguy hiểm trên tôm nước lợ như đốm trắng, hoại tử gan tụy cấp, vi bào tử trùng, bệnh mờ đục trên hậu ấu trùng và tình trạng đồng nhiễm nhiều tác nhân đang làm gia tăng rủi ro trong sản xuất. Dịch bệnh không chỉ gây hao hụt, tăng chi phí, giảm năng suất mà còn ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của ngành tôm.

Trước những thách thức trên, hội thảo thống nhất quan điểm phòng bệnh chủ động là giải pháp hiệu quả và bền vững nhất. Chất lượng con giống phải được kiểm soát ngay từ đầu vào, thông qua việc kiểm tra bắt buộc các mầm bệnh nguy hiểm, chỉ thả giống sạch bệnh, lựa chọn mật độ thả phù hợp với khả năng quản lý và điều kiện ao nuôi.

Các giải pháp về an toàn sinh học cần được thực hiện đồng bộ, từ kiểm soát nguồn nước, vật chủ trung gian, vệ sinh, khử trùng, quản lý thức ăn, xử lý nước thải, chất thải đến giám sát dịch bệnh định kỳ. Bên cạnh đó, quản lý sức khỏe tôm và môi trường cần được thực hiện thường xuyên thông qua quan trắc, sử dụng chế phẩm sinh học, ổn định môi trường nước và tăng cường sức đề kháng cho tôm.

quan-ly-suc-khoe-va-nang-cao-chat-luong-tom-nuoc-lo-viet-nam-6_1780641491.jpg
 Ông Lê Văn Quê - Chủ tịch Hiệp hội Giống thủy sản tỉnh Ninh Thuận kiêm Chủ tịch Hiệp hội Giống thủy sản Khánh Hòa phát biểu tại Hội thảo

Ở cấp quản lý, Cục Thủy sản và Kiểm ngư định hướng phát triển ngành giống thủy sản giai đoạn 2026–2030 theo hướng hiện đại, xanh, an toàn, bền vững và hội nhập. Các nhóm giải pháp trọng tâm gồm: chủ động nguồn tôm bố mẹ chất lượng cao; nâng cấp hệ thống an toàn dịch bệnh và an toàn sinh học; đẩy mạnh chuyển đổi số, truy xuất nguồn gốc; phát triển liên kết chuỗi; hoàn thiện thể chế, chính sách và nâng cao năng lực quản lý nhà nước.

Cần sự đồng hành của nhiều bên

Từ thực tiễn sản xuất, các ý kiến tại hội thảo cho rằng việc nâng cao chất lượng giống tôm nước lợ không thể chỉ dựa vào một khâu đơn lẻ, mà cần sự đồng hành của cơ quan quản lý, địa phương, viện trường, doanh nghiệp, tổ chức tín dụng và đối tác quốc tế.

Theo ThS. Nguyễn Văn Hữu, để nâng cao sức khỏe và chất lượng giống tôm nước lợ, cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống chính sách, tiêu chuẩn, quy chuẩn về quản lý chất lượng giống, an toàn sinh học và an toàn dịch bệnh; đồng thời tăng cường đầu tư hạ tầng phục vụ sản xuất giống, hệ thống quan trắc, cảnh báo môi trường và giám sát dịch bệnh. Bên cạnh đó, cần đẩy mạnh nghiên cứu, chọn tạo đàn tôm bố mẹ chất lượng cao, sạch bệnh, từng bước giảm phụ thuộc vào nguồn nhập khẩu; thúc đẩy chuyển đổi số, truy xuất nguồn gốc trong toàn chuỗi sản xuất, ương dưỡng, vận chuyển và cung ứng giống.

Riêng với Khánh Hòa, Sở Nông nghiệp và Môi trường kiến nghị cần đẩy mạnh nghiên cứu, chọn tạo và phát triển đàn tôm bố mẹ sạch bệnh trong nước; có chính sách ưu đãi khuyến khích doanh nghiệp, viện nghiên cứu tham gia chương trình chọn giống quốc gia, từng bước giảm phụ thuộc vào nguồn tôm bố mẹ nhập khẩu. Đồng thời, cần đầu tư đồng bộ hạ tầng các vùng sản xuất giống tập trung, nhất là khu sản xuất giống thủy sản tập trung Nhơn Hải và các vùng sản xuất giống trọng điểm của tỉnh.

Địa phương cũng đề xuất tăng cường giám sát, dự báo và cảnh báo sớm dịch bệnh, môi trường trong sản xuất giống; xây dựng cơ sở dữ liệu và hệ thống cảnh báo trên nền tảng số, kết nối từ Trung ương đến địa phương; hỗ trợ đào tạo nhân lực chất lượng cao, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật, tăng cường hợp tác quốc tế, tiếp cận công nghệ tiên tiến nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh và giá trị thương hiệu tôm giống Việt Nam.

quan-ly-suc-khoe-va-nang-cao-chat-luong-tom-nuoc-lo-viet-nam-11_1780641490.jpg
TS. Trần Đình Luân phát biểu kết luận Hội thảo

Kết luận hội thảo, TS. Trần Đình Luân ghi nhận nỗ lực của các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất tôm giống trong bối cảnh còn nhiều khó khăn về môi trường, dịch bệnh, chi phí sản xuất và biến động thời tiết. Ông nhấn mạnh, nếu không thay đổi mạnh mẽ tư duy quản lý và tổ chức sản xuất, những mục tiêu lớn của ngành tôm sẽ khó đạt được, nhất là trong bối cảnh cạnh tranh quốc tế ngày càng gay gắt.

Cục trưởng Cục Thủy sản và Kiểm ngư đề nghị các cơ sở sản xuất giống tăng cường minh bạch về nguồn gốc, công suất sản xuất, hồ sơ tôm bố mẹ và quy trình vận hành; thực hiện nghiêm an toàn sinh học, kiểm soát chất lượng giống và chia sẻ thông tin với cơ quan quản lý. Đây là cơ sở để kịp thời phát hiện, xử lý các cơ sở làm chưa đúng, bảo vệ những đơn vị sản xuất nghiêm túc, nâng cao chất lượng con giống và uy tín của ngành tôm Việt Nam.

Theo TS. Trần Đình Luân, Nhà nước, nhà khoa học và doanh nghiệp cần cùng tham gia sâu hơn vào quá trình phát triển ngành tôm, nhất là trong nghiên cứu, chọn tạo và chủ động nguồn tôm bố mẹ trong nước. Cơ quan quản lý sẽ đồng hành, hỗ trợ các doanh nghiệp có năng lực đầu tư vào khoa học công nghệ, qua đó hình thành những doanh nghiệp lớn mạnh, đủ sức chủ động nguồn giống chất lượng cao, giảm phụ thuộc vào nhập khẩu.

Có thể thấy, quản lý sức khỏe và nâng cao chất lượng giống tôm nước lợ là yêu cầu cấp bách, gắn trực tiếp với năng suất, chất lượng, khả năng cạnh tranh và sự phát triển bền vững của ngành tôm Việt Nam. Trong bối cảnh thị trường ngày càng khắt khe, dịch bệnh diễn biến phức tạp và biến đổi khí hậu gia tăng, việc lấy con giống sạch bệnh, an toàn sinh học, an toàn dịch bệnh, truy xuất nguồn gốc và liên kết chuỗi làm nền tảng sẽ là hướng đi quan trọng để ngành tôm Việt Nam phát triển an toàn, hiệu quả và hội nhập sâu rộng.

 

Trung Nhân