news
Sầu riêng Việt Nam: Đi xa không chỉ bằng sản lượng

Sầu riêng Việt Nam: Đi xa không chỉ bằng sản lượng

Thứ ba, 8/9/2026, 13:50 (GMT+7)
logo Từ một mặt hàng xuất khẩu trị giá chưa đầy 180 triệu USD năm 2021, sầu riêng Việt Nam đã tiến sát mốc 4 tỷ USD vào năm 2025. Song, phía sau tốc độ tăng trưởng ấn tượng là yêu cầu cấp thiết phải tổ chức lại sản xuất, kiểm soát chất lượng và xây dựng một chuỗi ngành hàng minh bạch. Năm nhóm giải pháp được Bộ Nông nghiệp và Môi trường xác định cho thấy, mục tiêu không chỉ là bán được nhiều hơn, mà phải nâng cao giá trị và tạo dựng vị thế bền vững cho sầu riêng Việt Nam trên thị trường quốc tế.

Từ “ngôi sao xuất khẩu” đến bài toán phát triển bền vững

Chỉ trong vòng vài năm, sầu riêng đã có bước tiến hiếm thấy trong cơ cấu xuất khẩu rau, quả của Việt Nam. Kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này tăng từ 177,7 triệu USD năm 2021 lên khoảng 3,85 tỷ USD vào năm 2025, chiếm khoảng 45% tổng giá trị xuất khẩu rau, quả.

Đà tăng trưởng tiếp tục được duy trì trong năm 2026. Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, trong 7 tháng đầu năm, xuất khẩu sầu riêng đạt khoảng 1,47 tỷ USD, tăng 44,1% so với cùng kỳ năm trước. Ước tính hết tháng 8, kim ngạch đạt 1,97 tỷ USD, tăng 28,3%.

Những con số ấy phản ánh lợi thế về điều kiện tự nhiên, khả năng mở rộng vùng sản xuất cũng như năng lực thích ứng nhanh của nông dân và doanh nghiệp Việt Nam. Sầu riêng đã góp phần nâng cao thu nhập tại nhiều vùng chuyên canh ở Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, duyên hải Nam Trung Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long.

Năm 2026, diện tích sầu riêng cả nước ước khoảng 200.000ha, sản lượng dự kiến đạt 2,08 triệu tấn. Quy mô này mở ra dư địa lớn cho xuất khẩu, nhưng đồng thời đặt ra yêu cầu cao hơn đối với quy hoạch vùng trồng, nguồn nước, vật tư đầu vào, thu hoạch, bảo quản và tiêu thụ.

Một ngành hàng tăng trưởng nhanh sẽ khó phát triển ổn định nếu diện tích mở rộng không gắn với khả năng kiểm soát chất lượng và nhu cầu của thị trường. Giá trị lớn cũng đồng nghĩa với rủi ro lớn hơn khi chỉ một mắt xích không tuân thủ quy trình có thể ảnh hưởng đến cả vùng trồng, doanh nghiệp và uy tín quốc gia.

bo-nong-nghiep20260903173842_1788768915.webp
Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Đặng Ngọc Điệp phát biểu tại họp báo chiều 3/9. Nguồn ảnh: Chính phủ

Tại họp báo Chính phủ chiều 3/9, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Đặng Ngọc Điệp cho rằng, bài học quan trọng đối với ngành hàng sầu riêng là phải chuyển từ tư duy “gỡ khó khi phát sinh” sang chủ động chuẩn bị từ sớm, từ xa; lấy chất lượng, an toàn thực phẩm và truy xuất nguồn gốc làm nền tảng, lấy thị trường và doanh nghiệp làm định hướng tổ chức sản xuất.

Đây cũng là bước chuyển cần thiết về tư duy phát triển: từ chạy theo sản lượng sang coi trọng giá trị; từ sản xuất riêng lẻ sang liên kết chuỗi; từ phản ứng với cảnh báo của thị trường nhập khẩu sang chủ động nhận diện và kiểm soát nguy cơ ngay tại vùng trồng.

Thị trường rộng mở nhưng không còn chỗ cho sự dễ dãi

Sầu riêng Việt Nam hiện đã có mặt tại hơn 20 quốc gia và vùng lãnh thổ. Đáng chú ý, từ tháng 7/2026, Ấn Độ chính thức cho phép nhập khẩu sầu riêng tươi của Việt Nam. Đây là tín hiệu tích cực đối với mục tiêu đa dạng hóa thị trường, nhất là khi Ấn Độ có quy mô dân số lớn và còn nhiều dư địa tiêu dùng.

Tuy nhiên, Trung Quốc vẫn là thị trường chi phối. Trong 7 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu sầu riêng sang thị trường này đạt khoảng 1,38 tỷ USD, tăng 49,6% và chiếm trên 95% tổng kim ngạch xuất khẩu sầu riêng. Ước tính trong 8 tháng, giá trị xuất khẩu sang Trung Quốc đạt 1,85 tỷ USD, tăng 29,9%.

Việc một thị trường chiếm tỷ trọng quá lớn tạo thuận lợi trước mắt nhưng cũng tiềm ẩn sức ép không nhỏ. Bất kỳ sự điều chỉnh nào về tiêu chuẩn kỹ thuật, kiểm dịch thực vật, kiểm soát dư lượng hoặc thủ tục thông quan đều có thể tác động trực tiếp tới hoạt động thu mua, giá sầu riêng tại vùng trồng và kế hoạch của doanh nghiệp. Bởi vậy, mở cửa được thị trường mới chỉ là điều kiện cần. Điều kiện đủ là duy trì được chất lượng đồng đều, kiểm soát an toàn thực phẩm và bảo đảm mỗi lô hàng đều có thể truy xuất rõ ràng.

Hiện cả nước có 1.599 mã số vùng trồng và 281 cơ sở đóng gói sầu riêng đang hoạt động. Ngày 14/8/2026, Tổng cục Hải quan Trung Quốc đã phê duyệt bổ sung 401 mã số vùng trồng và 166 mã số cơ sở đóng gói của Việt Nam.

anh-sau-rieng_1788769580.jpg
Mã số vùng trồng góp phần truy xuất nguồn gốc, nâng cao chất lượng sầu riêng; người dân chủ động chăm sóc và phát triển vùng sản xuất theo hướng bền vững. 

Số lượng mã được bổ sung cho thấy năng lực cung ứng chính ngạch tiếp tục được mở rộng. Song, mã số vùng trồng không thể chỉ được nhìn nhận như một “tấm vé” xuất khẩu. Đó còn là cam kết về tổ chức sản xuất, quản lý sinh vật gây hại, sử dụng vật tư đầu vào, ghi chép nhật ký canh tác và bảo đảm chất lượng sản phẩm.

Nếu quản lý lỏng lẻo, sử dụng chung mã số, hợp thức hóa sản phẩm ngoài vùng được cấp mã hoặc không duy trì đầy đủ điều kiện kỹ thuật, thành quả mở cửa thị trường có thể bị ảnh hưởng. Thiệt hại khi đó không chỉ dừng ở một lô hàng bị cảnh báo, mà có thể kéo theo nguy cơ đình chỉ mã số và suy giảm niềm tin đối với sầu riêng Việt Nam.

Một bước tiến đáng chú ý là từ ngày 1/7/2026, Bộ Nông nghiệp và Môi trường chính thức thực hiện truy xuất nguồn gốc điện tử đối với nông sản nói chung và sầu riêng xuất khẩu nói riêng. Khi được vận hành thực chất, hệ thống này sẽ giúp kết nối thông tin từ vùng trồng, cơ sở đóng gói đến doanh nghiệp xuất khẩu, hỗ trợ nhận diện trách nhiệm nếu phát sinh vi phạm.

Cùng với truy xuất nguồn gốc, năng lực kiểm nghiệm đang được củng cố. Hệ thống phòng kiểm nghiệm được phía Trung Quốc chấp thuận tiếp tục mở rộng, góp phần đáp ứng yêu cầu kiểm tra các chỉ tiêu an toàn thực phẩm, trong đó có Cadimi, Vàng O và những chỉ tiêu do thị trường nhập khẩu quy định.

Trong xuất khẩu nông sản hiện đại, chất lượng không thể chỉ được đánh giá bằng cảm quan. Mỗi sản phẩm còn phải đi kèm dữ liệu, hồ sơ và kết quả kiểm nghiệm đủ độ tin cậy. Một trái sầu riêng muốn đi xa phải mang theo “hộ chiếu” minh bạch của cả chuỗi sản xuất.

anh-minh-hoa_1788770008.png

Năm trụ cột để nâng giá trị ngành hàng

Định hướng của Bộ Nông nghiệp và Môi trường đặt trọng tâm vào năm nhóm giải pháp có quan hệ chặt chẽ với nhau, bao quát từ thị trường, vùng nguyên liệu đến chế biến, logistics và kiểm nghiệm.

Trước hết là đẩy mạnh xúc tiến thương mại, mở rộng và đa dạng hóa thị trường. Bên cạnh việc duy trì thị phần tại các thị trường truyền thống, ngành nông nghiệp sẽ tiếp tục đàm phán mở cửa và gia tăng thị phần tại những thị trường tiềm năng như Ấn Độ, Australia và New Zealand.

Đa dạng hóa cũng cần được hiểu ở cả thị trường lẫn sản phẩm. Sầu riêng tươi có giá trị cao nhưng thời gian bảo quản ngắn, chịu nhiều áp lực về mùa vụ và vận chuyển. Việc gia tăng tỷ trọng sầu riêng đông lạnh cùng các sản phẩm chế biến sẽ kéo dài thời gian tiêu thụ, giảm áp lực bán quả tươi trong thời điểm thu hoạch tập trung và mở rộng khả năng tiếp cận những thị trường ở xa.

Cùng với đó, thông tin, phân tích và dự báo thị trường phải được cung cấp kịp thời để người sản xuất và doanh nghiệp có căn cứ xây dựng kế hoạch. Khi thị trường trở thành tín hiệu định hướng sản xuất, nguy cơ phát triển diện tích theo phong trào hoặc thu hoạch đồng loạt mà thiếu đầu ra sẽ từng bước được hạn chế.

Giải pháp thứ hai là tổ chức lại sản xuất và phát triển vùng nguyên liệu bền vững. Các vùng trồng phải được rà soát trên cơ sở điều kiện đất đai, nguồn nước, khí hậu và kết cấu hạ tầng, thay vì chỉ dựa vào giá bán tại một thời điểm.

Vùng nguyên liệu tập trung cần gắn với cơ sở sơ chế, chế biến, bảo quản và xuất khẩu. Mối liên kết giữa nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp phải được thiết lập bằng những cam kết cụ thể về quy trình kỹ thuật, chất lượng và tiêu thụ. Trong chuỗi liên kết ấy, doanh nghiệp không chỉ thu mua sản phẩm mà cần đầu tư trở lại vùng nguyên liệu, cùng người dân kiểm soát chất lượng ngay từ đầu vụ.

Giải pháp thứ ba là chuẩn hóa chất lượng, an toàn thực phẩm và truy xuất nguồn gốc. Điều này đòi hỏi tăng cường nghiên cứu, chuyển giao khoa học - công nghệ, thúc đẩy chuyển đổi số, kiểm soát chặt vật tư nông nghiệp và các nguy cơ về dư lượng. Hoạt động giám sát phải đủ sớm để ngăn ngừa vi phạm, thay vì chờ đến khi hàng hóa tới cửa khẩu mới xử lý.

Giải pháp thứ tư hướng đến phát triển hạ tầng bảo quản, chế biến và logistics. Kho lạnh, cơ sở sơ chế và nhà máy chế biến cần được bố trí gần vùng sản xuất tập trung nhằm giảm tổn thất sau thu hoạch và duy trì chất lượng sản phẩm. Việc nâng cấp hệ thống thủy lợi, giao thông vùng nguyên liệu cũng có ý nghĩa trực tiếp đối với hiệu quả sản xuất và khả năng vận chuyển.

Cuối cùng là mở rộng và nâng cao năng lực của hệ thống phòng kiểm nghiệm. Bên cạnh đầu tư thiết bị và đào tạo nhân lực, quy trình kiểm nghiệm cần được chuẩn hóa, số hóa và tổ chức linh hoạt theo mùa vụ. Thời gian, chi phí và quy trình phải được công khai để doanh nghiệp chủ động kế hoạch xuất khẩu.

Năm nhóm giải pháp không phải những phần việc tách rời. Nếu thị trường được mở rộng nhưng vùng nguyên liệu không bảo đảm chất lượng, cơ hội sẽ khó chuyển thành giá trị. Nếu sản xuất đạt tiêu chuẩn nhưng thiếu kho lạnh, chế biến và logistics, sản phẩm vẫn chịu áp lực tiêu thụ theo mùa vụ. Nếu có đầy đủ cơ sở vật chất nhưng kiểm nghiệm chậm hoặc thiếu độ tin cậy, sức cạnh tranh của doanh nghiệp cũng bị ảnh hưởng.

Chặng đường từ 177,7 triệu USD lên 3,85 tỷ USD đã khẳng định năng lực bứt phá của sầu riêng Việt Nam. Chặng đường tiếp theo sẽ khó hơn, bởi thước đo không còn đơn thuần là tốc độ tăng kim ngạch mà là khả năng duy trì chất lượng, nâng tỷ lệ chế biến, đa dạng thị trường và xây dựng thương hiệu quốc gia.

Sầu riêng Việt Nam có thể tiếp tục đi xa, nhưng không thể dựa mãi vào lợi thế mùa vụ hay sự tăng trưởng của một thị trường. Giá trị bền vững chỉ được hình thành khi từng vùng trồng giữ đúng cam kết, từng cơ sở đóng gói tuân thủ quy trình, từng doanh nghiệp có trách nhiệm với chất lượng và cơ quan quản lý đủ năng lực cảnh báo, giám sát. Đó cũng là con đường để một “ngôi sao xuất khẩu” trở thành ngành hàng chuyên nghiệp, minh bạch và có sức cạnh tranh lâu dài trên thị trường thế giới.

Hồng Minh