news
Sử dụng hiệu quả tài nguyên nước trong nuôi thủy sản hồ chứa

Sử dụng hiệu quả tài nguyên nước trong nuôi thủy sản hồ chứa

Thứ hai, 13/4/2026, 06:49 (GMT+7)
logo Việt Nam là một trong những quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề của biến đổi khí hậu. Do đó, việc sử dụng hiệu quả nguồn nước trong các lĩnh vực sản xuất, đặc biệt là nuôi thủy sản, đang trở thành yêu cầu cấp thiết. Tại Việt Nam, hệ thống hồ chứa thủy lợi, thủy điện với hàng nghìn công trình lớn nhỏ không chỉ phục vụ cấp nước sinh hoạt, sản xuất nông nghiệp, phát điện mà còn mở ra tiềm năng to lớn cho phát triển nuôi thủy sản.

Theo thống kê, hiện nay Việt Nam hiện có khoảng 6.780 hồ chứa thủy lợi và hơn 750 hồ thủy điện, tạo ra diện tích mặt nước rộng lớn. Nhiều hồ chứa có quy mô hàng nghìn đến hàng chục nghìn hecta như Hòa Bình, Sơn La, Thác Bà, Trị An, Dầu Tiếng… Đây là điều kiện thuận lợi để phát triển nuôi thủy sản, đặc biệt là nuôi cá lồng bè.

Thực tế cho thấy, mô hình nuôi cá lồng trên hồ chứa đã phát triển nhanh trong những năm gần đây. Tại hồ Hòa Bình, số lượng lồng nuôi tăng mạnh từ khoảng 1.700 năm 2014 lên gần 5.000 lồng vào năm 2023, với sản lượng đạt trên 7.000 tấn mỗi năm. Tại hồ Sơn La, riêng khu vực xã Quỳnh Nhai đã có hơn 2.600 lồng nuôi, góp phần nâng cao thu nhập cho người dân. Hay hồ Thác Bà cũng duy trì khoảng 2.500 lồng cá, sản lượng hơn 9.000 tấn/năm...

gen-h-ho-1_1775812945.jpg
Nuôi thủy sản hồ chứa đã tạo sinh kế, phát triển kinh tế cho rất nhiều cư dân ven hồ

Sự phát triển này không chỉ góp phần tận dụng mặt nước, tạo sinh kế cho người dân mà còn thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng sản xuất hàng hóa. Tuy nhiên, sự gia tăng nhanh về quy mô đã đặt ra nhiều thách thức trong quản lý tài nguyên nước.

Theo bà Nguyễn Thị Nhung, Cục Quản lý Tài nguyên nước, hoạt động nuôi thủy sản trên hồ chứa đã tác động trực tiếp đến số lượng và chất lượng nguồn nước. Trước hết, nhu cầu duy trì mực nước, thay nước và mở rộng quy mô nuôi có thể làm gia tăng áp lực lên nguồn nước, đặc biệt trong mùa khô khi lượng nước suy giảm. Đặc biệt, một trong những vấn đề nổi cộm hiện nay là ô nhiễm môi trường nước. Trong đó, nguồn thải từ hoạt động nuôi thủy sản bao gồm thức ăn dư thừa, chất thải hữu cơ, phân cá và các loại hóa chất, kháng sinh. Những chất này tích tụ dưới đáy hồ hoặc hòa tan trong nước, làm gia tăng hàm lượng dinh dưỡng, gây hiện tượng phú dưỡng, làm suy giảm chất lượng nước.

Ngoài ra, việc bố trí lồng bè không hợp lý đã cản trở dòng chảy, ảnh hưởng đến quá trình điều tiết nước, xả lũ và an toàn đập. Điều này đặc biệt nguy hiểm đối với các hồ chứa thủy điện và thủy lợi lớn, nơi có vai trò quan trọng trong phòng chống thiên tai và cấp nước cho hạ du.

Bên cạnh đó, hoạt động nuôi thủy sản cũng ảnh hưởng đến đa dạng sinh học thủy sinh. Việc sử dụng giống loài không phù hợp, phát sinh dịch bệnh hoặc xả thải không kiểm soát có thể làm mất cân bằng hệ sinh thái tự nhiên. Hiện nay, do hồ chứa thường được sử dụng đa mục tiêu (cấp nước sinh hoạt, nông nghiệp, công nghiệp, phát điện…), nên việc phát triển nuôi thủy sản nếu không được quy hoạch sẽ dễ dẫn đến xung đột trong sử dụng nước giữa các ngành.

ho-3_1775812958.jpg
Nhiều mô hình nuôi thủy sản hồ chứa đã phát triển mạnh ở các địa phương thời gian qua

Bà Nhung cho rằng, để sử dụng hiệu quả tài nguyên nước trong nuôi thủy sản hồ chứa, chúng ta cần đảm bảo ba nguyên tắc cơ bản, đó là: khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm và bảo vệ bền vững. Trước hết, việc khai thác phải phù hợp với khả năng chịu tải của nguồn nước. Không thể phát triển nuôi thủy sản ồ ạt mà không tính toán đến dung tích hồ, khả năng tự làm sạch và các mục tiêu sử dụng nước khác.

Thứ hai, cần áp dụng các biện pháp tiết kiệm nước, hạn chế thay nước không cần thiết, tận dụng dòng chảy tự nhiên. Áp dụng công nghệ nuôi tiên tiến như nuôi lồng tuần hoàn, sử dụng thức ăn công nghiệp chất lượng cao sẽ giúp giảm thiểu chất thải ra môi trường.

Thứ ba, bảo vệ chất lượng nước là yếu tố then chốt. Cần kiểm soát chặt chẽ việc sử dụng thức ăn, thuốc thú y, hóa chất; xử lý chất thải trước khi xả ra môi trường; đồng thời thường xuyên quan trắc chất lượng nước để kịp thời phát hiện và xử lý ô nhiễm.

Luật Tài nguyên nước năm 2023 (có hiệu lực từ 1/7/2024) đã đưa ra nhiều quy định quan trọng nhằm kiểm soát hoạt động nuôi thủy sản gắn với bảo vệ nguồn nước.

Theo đó, tổ chức, cá nhân khai thác nước cho nuôi thủy sản không được gây suy thoái, cạn kiệt, ô nhiễm nguồn nước; không được cản trở dòng chảy hay gây ảnh hưởng đến công trình thủy lợi, thủy điện. Hoạt động nuôi trên hồ chứa phải đảm bảo không ảnh hưởng đến an toàn đập, nhiệm vụ phòng chống lũ và cấp nước cho hạ du .

Ngoài ra, việc sử dụng mặt nước để nuôi thủy sản phải đảm bảo không gây ô nhiễm, không làm hư hại lòng, bờ, bãi sông, hồ và không ảnh hưởng đến các hoạt động khai thác nước khác. Luật cũng quy định rõ về đăng ký, cấp phép khai thác nước tùy theo quy mô sử dụng. Những hoạt động quy mô nhỏ có thể không cần cấp phép, nhưng với quy mô lớn hơn phải thực hiện đăng ký hoặc xin cấp phép theo quy định, nhằm kiểm soát chặt chẽ việc khai thác tài nguyên nước.

Đặc biệt, các hành vi vi phạm như gây ô nhiễm nguồn nước, khai thác nước không phép hoặc nuôi trồng gây ảnh hưởng đến an toàn hồ chứa sẽ bị xử phạt nghiêm khắc, với mức phạt lên tới hàng trăm triệu đồng tùy mức độ .

gen-o-ho-2_1775812952.jpg
Những mặt nước rộng lớn, đặc biệt là các hồ thủy điện, thủy lợi là cơ hội phát triển trong nuôi thủy sản hồ chứa

Để nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên nước trong nuôi thủy sản hồ chứa, theo bà Nhung chúng ta cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp như: Sớm xây dựng, quy hoạch chi tiết vùng nuôi trên từng hồ chứa, xác định rõ khu vực được phép nuôi, mật độ lồng bè, đối tượng nuôi. Việc bố trí phải đảm bảo không cản trở dòng chảy, không ảnh hưởng đến công trình và các mục tiêu sử dụng nước khác. Khuyến khích áp dụng công nghệ nuôi tiên tiến như lồng HDPE, hệ thống cho ăn tự động, công nghệ giám sát môi trường nước. Những công nghệ này giúp giảm thất thoát thức ăn, hạn chế ô nhiễm và nâng cao năng suất. Cần thiết lập hệ thống quan trắc chất lượng nước định kỳ hoặc tự động. Các chỉ tiêu như mực nước, lưu lượng, chất lượng nước phải được theo dõi thường xuyên để phục vụ quản lý và cảnh báo sớm. Đồng thời, cần hướng dẫn người nuôi xử lý chất thải, sử dụng thức ăn hợp lý, hạn chế sử dụng hóa chất và kháng sinh. Ngoài ra, các cơ quan quản lý cần tăng cường kiểm tra, giám sát, xử lý nghiêm các vi phạm. Đồng thời, sớm hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa các ngành: thủy sản, tài nguyên nước, môi trường, thủy lợi để quản lý hiệu quả hoạt động nuôi trên hồ chứa. Song song với công tác quản lý nhà nước, người nuôi cần được tuyên truyền, tập huấn về sử dụng nước tiết kiệm, bảo vệ môi trường và tuân thủ pháp luật. Việc thay đổi nhận thức là yếu tố quan trọng để hướng tới phát triển bền vững.

Nuôi thủy sản trên hồ chứa là một hướng đi đầy tiềm năng, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên nước và phát triển kinh tế địa phương. Tuy nhiên, đây cũng là lĩnh vực nhạy cảm, đòi hỏi sự quản lý chặt chẽ và khoa học. Do đó, sử dụng hiệu quả tài nguyên nước trong nuôi thủy sản không chỉ là tối ưu hóa lợi ích kinh tế mà còn là bảo vệ môi trường, đảm bảo an ninh nguồn nước và phát triển bền vững. Điều này đòi hỏi sự phối hợp đồng bộ giữa nhà nước, doanh nghiệp và người dân, cùng với việc tuân thủ nghiêm các quy định pháp luật.

Biến đổi khí hậu ngày càng diễn biến phức tạp và áp lực tài nguyên ngày càng gia tăng, việc phát triển nuôi thủy sản theo hướng xanh, tiết kiệm nước và thân thiện môi trường chính là con đường tất yếu để ngành thủy sản Việt Nam phát triển bền vững.

 

Lê Hải - Sỹ Tùng